THẦY PHỨC

Lã Nguyên

Sáng nay vào trang “Văn hoá Nghệ An”, thấy có bài của Nguyễn Duy Xuân viết về Thày Phức . Bài viết từ năm kia (2012), nhân dịp Ngày Nhà giáo, sao giờ mới đăng? Thấy lạ, mình phôn ngay cho Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Đình Ba, hai ông đồng môn, đồng khoá, cũng là hai giảng viên kì cựu của Trường Vinh, nay hưu trí ở Hà Nội. Hỏi ra mới biết, Thày đã mất rồi. Mình lặng người… Kỉ niệm tràn về. Rưng rưng một nỗi nhớ thương. Nhớ Thày, thương Thày. Mà cũng có cả nhớ mình, thương mình những năm tháng ấy…
Mình học Khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, Khoá VI, 1965 – 1968. Trước mình là Khoá IV, vì Khoá V không tuyển sinh. Mình vào học, Khoa Văn chỉ có hai khối: “Văn I” và “Văn III”. Hồi ấy, hệ đại học Sư phạm chỉ học ba năm. Ba năm, học hai chuyên ngành: Văn và Sử. Tức là, với tấm bằng được cấp, mình có quyền dạy cả sử, lẫn văn ở các trường phổ thông cấp III. Dĩ nhiên, học văn vẫn là chính, vì mình nhớ, Khoa có rất nhiều giảng viên văn, mà chỉ có hai thày dạy sử là Thày Phan Văn Ban và Thày Hoàng Văn Lân. Tất cả các giảng viên, già cũng như trẻ, đều được gọi là “cán bộ giảng dạy’, thường viết tắt là “cờ bờ giờ dờ”. Thày Nguyễn Cảnh Phức dạy chúng mình môn Trung Văn hai năm liền: năm thứ nhất và năm thứ hai. Khoá mình có 72 sinh viên, chia thành hai lớp: A và B. Bảy mươi lăm phần trăm sinh viên khoá mình là cán bộ đi học. Trước khi đi học, nhiều anh từng là Trưởng phòng ở các Ty Giáo dục, hay Hiệu Trưởng, Hiệu Phó các trường phổ thông. Giáo dục toàn miền Bắc lúc ấy có ba “lá cờ đầu”: Bắc Lí, Hải Nhân và Cẩm Bình. Hai vị Hiệu phó Cẩm Bình (Nguyễn Huy Vang) và Hiệu phó Hải Nhân (Nguyễn Văn Nho) là sinh viên lớp mình, lại cùng tổ với mình. Cánh này đều đã ba lăm trở lên, nhiều tuổi hơn hầu hết các thày trong Khoa. Mình nom anh Hoàng Ngọc Giới, Nguyễn Huy Vang, Nguyễn Cảnh Tuân còn “oách” hơn cả Thày Nguyễn Khắc Phi, hay Thày Đỗ Đức Huyến… Cho nên, khi Thày Phức bước vào lớp trong buổi giảng đầu tiên, cả lớp mình, ai cũng ngỡ ngàng trước sự trẻ trung của Thày. Mấy đứa con gái, mắt chữ “I”, mồm chữ “O”, nhìn Thày không chớp mắt. Chúng mình vào năm thứ Nhất, thì Thày tốt nghiệp Đại học. Ra trường, Thày về dạy chúng mình ngay. Chắc Thày chỉ nhỉnh hơn chúng mình chừng ba, bốn tuổi. Ngồi với nhau, người ngoài nhìn vào ngỡ anh em, chứ không mấy ai biết là thày – trò. Thày da trắng, vóc người nhỏ, rất thư sinh. Răng Thày hơi hô, lúc nào cũng tựa như đang cười, nom rất tươi. Thày gọi lứa lớn tuổi bằng “các anh”, gọi đám chúng mình là “các cậu” và xưng “tôi”. Mình vẫn nhớ những buổi dạy của Thày. Mỗi tuần Thày dạy bốn tiết: hai tiết Trung văn và hai tiết Hán Nôm. Thày vừa dạy theo giáo trình, vừa hướng dẫn chúng mình đọc báo. Sau hai năm Thày dạy, mình đã đọc được “Tân hoa xã”. Thế mà về sau mình bỏ, lâu dần quên hết. Tiếc thật! Thú nhất là những giờ Thày dạy Hán Nôm. Cho đến nay, mình vẫn còn nhớ ý nghĩa của chữ “tích việt” (“có thiên tích việt cầm tay”) trong Truyện Kiều, hay các chữ “phúc”, chữ “dân”… Thày giảng, hiểu theo kiểu chiết tự, thì “phúc” là một miệng ăn, lại có cả ruộng, lẫn người lễ tết (福: một bên là bộ “lễ”, một bên là các chữ “nhất”, “khẩu”, “điền”), còn “dân” chẳng qua là “thằng ngu tự cầm kim chọc mù mắt mình” (các vị nhìn vào hình chữ “dân” xem có đúng thế không nhé: “民”). Các bài “Quốc tộ” (國祚) của Đỗ Pháp Thuận, “Cáo tật thị chúng” (告疾示眾) của Mãn Giác Thiền Sư, hay “Nam quốc sơn hà” (南國山河) và nhiều bài thơ khác mà Thày dạy, cho đến nay, mình vẫn nhớ mặt chữ Hán. Nhờ Thày dạy mà bây giờ mình vẫn có thể đọc thuộc lòng bản phiên âm chữ Hán của các áng thiên cổ hùng văn, như “Hịch tướng sĩ”, hay “Bình Ngô đại cáo”…
Tiếng là được đào tạo ba năm, nhưng khoá mình chỉ thực học hai năm, hay hai năm rưỡi gì đó. Vì trong ba năm học ấy, chúng mình phải chuyển trường hai lần: từ Nghệ An chuyển ra Hà Trung, Thanh Hoá (cuối năm 1965 – đầu 1966), rồi lại từ Hà Trung sơ tán lên Thạch Thành (tháng 9, năm 1966). Mỗi lần sơ tán như thế, bao nhiêu sách vở và toàn bộ cơ sở vật chất của Trường đều được khiêng vác trên đôi vai của chúng mình. Tối: khiêng vác hòm xiểng sách vở của thư viện và xoong chảo nhà bếp. Ngày: đẵn cây, cắt cỏ tranh, đào hầm trú ẩn, dựng lán làm lớp học. Hai lần di chuyển mất đứt gần nửa năm. Kiến thức trong ba năm học, bây giờ chữ nhớ, chữ quên. Nhưng những kỉ niệm về cái đói, cái bẩn và sự bức bối thời sinh viên thì mình khắc cốt ghi xương. Nhiều lúc cứ nghĩ lẩn thẩn, khi mình chết, con cháu đem mình hoả táng, không khéo chúng sẽ đọc được nguyên vẹn những kỉ niệm ấy vẫn in hằn trên đống xương cốt cháy xạm đen sì.
Đói, chao ơi là đói! Sáng ngày, vừa mở mắt ra đã thấy đói. Ngồi học trên lớp, đói cồn cào. Trưa, vài lưng cơm độn toàn những ngô với sắn, chả bõ bèn gì, ăn xong, vẫn cứ đói. Bốn rưỡi chiều, đã thấy cả lớp cắp bát xuống nhà bếp. Ăn từ lúc ấy, đến 11, hoặc 12 giờ khuya đi nằm, đặt lưng xuống chiếu, bụng réo ùng ục, lúc tỉnh dậy, chẳng biết mình ngủ được là do thiếp đi, hay lả đi. Hễ không thấy đói, biết ngay là mình ốm. Ốm và đói là hai cảm giác rùng rợn nhất trong suốt mấy năm học đại học của mình. Đói quá, sinh ăn nhiều. Vào ngày chủ nhật, hay ngày lễ, cánh Thanh Hoá, gần nơi sơ tán của Trường, thường về nhà kiếm ăn. Đám xa nhà, ở lại, không cho chúng cắt cơm. Có thằng trong lớp, bị mấy đứa thách, xơi một hơi 6 xuất cơm và nải chuối 28 quả, lại còn uống cạn được chai sáu nhăm mật mía. Mình nhớ, ăn uống xong, nghỉ va chạy ra suối, úp bụng lên tảng đá mát lạnh, nằm thở. Vì đói quá, nên thấy gì cũng ăn. Ốc sên được xem là cao lương mĩ vị. Mỗi ngày vào rừng, cố kiếm mấy con, để dành khi có bạn khoa khác đến chơi, mang ra thết đãi. Không có gì ăn, dân hở ra cái gì, liền mất ngay với sinh viên cái đó. Thằng Căn lớp mình người Hà Nội, từng đi Thanh niên xung phong, trông như công tử, thế mà đói quá không chịu được, bẻ trộm cây mía, bị chủ bắt được báo Khoa, hắn suýt bị đuổi học. Kỉ luật chặt vẫn không ngăn được sinh viên vặt trộm của dân. Ở đâu có sinh viên, ở đấy vườn tược bị tàn phá, mọi loại cây, củ, quả ăn được đều bị vặt trụi, thành ra tiêu điều. Dân hai tỉnh Thanh, Nghệ, ở những nơi chúng mình sơ tán, có một truyền ngôn về “sức mạnh” tàn phá của sinh viên thời ấy: “Thứ nhứt bom bi, thứ nhì đại học”. Nhiều năm sau, khi đã trở thành “cờ bờ giờ dờ” của Trường Vinh, chúng mình vẫn bị đói thế. Còn nhớ, hồi ở Quỳnh Văn học Nga văn với Nguyễn Văn Lợi, Hồ Hồng Quang, mỗi lần ăn xong, tay Đặng Ngọc Lệ, giờ là Giáo sư đã nghỉ hưu, thường gõ bát, hát một bài nhạc “chế”, rất phản động: “Chế độ ta tươi đẹp. Ngày hai bữa cơm lép. Mà chúng vẫn nói phét. Rằng chế độ ta tươi đẹp”. Nghe hắn hát, chúng mình sợ quá. Nhưng thú thật, cái giọng the thé cố gào to chữ “phét”, nhất là đôi mắt híp hấp háy như cười của hắn khi hát lại khiến chúng mình khoái chá.
Đã đói, lại bẩn nữa mới khổ! Ở trong nhà dân, chiếu chăn chẳng có để thay, giường toàn rệp. Mình ra Hà Nội, ngủ với tay chú họ học Trường Bách Khoa cũng bị rệp đốt. Tay chú mình bảo, giờ mỗi trường đại học là một ổ rệp khổng lồ. Mới tập trung được vài tháng ở Thanh Hoá, cả lớp mình, con trai cũng như con gái, đứa nào cũng ghẻ kềnh ghẻ càng. Ngứa không chịu được, ngồi học, cả lớp thi nhau gãi sồn sột, vui đáo để. Mình nhớ, nơi mình sơ tán, cả làng chỉ có mỗi một cái giếng. Đám con trai chúng mình kéo nhau ra đó, cứ để nguyên quần áo, lấy gầu múc nước lên giội, bôi xà phòng, kì cọ, vừa tắm, vừa giặt, xong, lại giội nước cho sạch, rồi về, cười cười nói nói ầm ỹ, thú vô cùng. Chúng mình nghĩ ra mẹo vứt gầu xuống giếng, như thể gầu bị đứt dây, lấy cớ nhẩy xuống lặn để tắm cho thoả thích. Những lần như thế, mặt mũi đứa nào cũng hả hê, quên cả đói.
Hãi nhất là sự bức bối. Đói, bẩn, lại thêm bức bối, trong mấy năm liền, cứ hễ đến mùa hè, là đám con gái lại hoá dại. Chúng mình chưa kịp đưa đứa này đi viện, thì đứa khác đã lại hoá dại rồi. Khi hoá dại, chúng ngồi trong phòng, lúc lặng im như tượng đá, lúc cười khanh khách như Xuý Vân. Từ sáng tới tối, nơi chúng mình sơ tán, chỗ nào cũng nghe thấy những tiếng cười rùngng rợn. Có đứa cười ngặt nghẽo, vừa cười vừa hát, lại còn kể ra vanh vách những cậu nào định tán tỉnh mình. Thời ấy, trai gái yêu nhau phải báo cáo tổ chức. Đứa nào chưa báo cáo mà để tổ chức bắt được việc hôn nhau, thì chỉ có chết! Tập thể lớp, chi đoàn thanh niên, chi bộ sẽ đưa ra kiểm điểm thứ tình yêu được cho là “bất chính” này. Cho nên, đám con trai nghe mà nơm nớp, chỉ sợ cái cô điên dại kia réo tên mình lên thì khốn. Lại có đứa vừa cười, vừa khóc, nghe não nuột thê lương y như là nhân loại bước vào thời tận thế, hoang mang quá.
Phải đến già mình mới nghiệm ra: sống vừa có nghĩa là vật lộn, chống trả, vừa có nghĩa là buông thả, tha hoá. Thích nghi cả với những hoàn cảnh tồi tệ nhất để tồn tại chính là biểu hiện rõ nhất của sự tha hoá như vậy. Thế hệ mình đã vượt qua tất cả một phần nhờ ở sự chống trả, nhưng chủ yếu là nhờ vào sự tha hoá, hay nói cho sang trọng, nhờ ở sự thích nghi: thích nghi với đói khát, với bức bối, với sự bẩn thỉu hiểu theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Vào năm thứ ba, chúng mình học Nga văn, không học Trung văn và Hán Nôm nữa, nên không còn mấy khi được gặp Thày Phức. Năm 1968, sau khi tốt nghiệp, mình được giữ lại Trường làm giáo viên của Khoa đào tạo giáo viên cấp II. Khoa Văn đóng trên trên miền núi Thạch Thành. Khoa cấp II nằm dưới đồng bằng, ở Tây Giai, Vĩnh Lộc, ngay trong thành Nhà Hồ. Năm 1969, Trường Vinh chuyển về Quỳnh Lưu, Nghệ An. Khoa Văn ở Quỳnh Thạch. Khoa cấp II ở Quỳnh Bảng. Lại vẫn một Khoa trên rừng, một Khoa dưới biển. Có lần, mình được tin Thày Phức đã nhập ngũ. Từ ấy, hình ảnh Thày không mấy khi trở về trong kí ức của mình.
Nhưng cuộc đời thường đầy những bất ngờ, bất ngờ đến kì diệu. Tháng 4 năm 1972, Trường Vinh một lần nữa phải bỏ Quỳnh Lưu chạy lên Yên Thành để tránh bom đạn. Các khoa đóng rải rác dọc con sông nông giang mà phía thượng nguồn là ba-ra Đô Lương. Khoa Đào tạo giáo viên cấp II đóng ở Thọ Thành. Khoa Văn đóng ở Lăng Thành. Thế là chạy tới chạy lui, suốt 8 năm trời, Khoa Văn không sao thoát ra ngoài hai chữ “Thành” và “Thạch”. Tháng 6 năm 1972, Khoa cấp II cử mình là người duy nhất cùng nhập với đoàn Khoa Văn đi coi thi tuyển sinh ở Quảng Bình. Người ta không cho đi ô tô, vì sợ bị máy bay bỏ bom. Chỉ cần bom rơi trúng một ô tô, coi như một khoa bị xoá sổ. Cho nên, từ Yên Thành, chúng mình đạp xe đạp dọc theo đường 7, qua Cẩm Minh, Cẩm Lạc, Hà Tĩnh. Vượt Quảng Văn, Bắc Quảng Trạch, sang lối Quảng Hoà, chúng mình về điểm tuyển sinh ở xã Hiền Ninh, huyện Tây Ninh. Ở Trường cấp III Bắc Quảng Trạch mình được hai bạn hiền Đỗ Văn Quảng và Hồ Ngọc Diệp chiêu đãi món cháo cá quả. Sợ ban ngày đun nấu, khói bay lên, sẽ bị máy bay phát hiện, các ban chờ đêm xuống mới đào hố cát thật sâu, nhóm lửa, bắc bếp. Ngồi viết những dòng này, mình vẫn còn thấy thoang thoảng đâu đây hương vị thơm ngọt của món cháo cá thời chiến. Mỗi ngày dậy sớm, đi từ 4 giờ sáng, 9 giờ vào nhà dân nghỉ thổi cơm ăn, ngủ chán chê, 4 giờ chiều lại dậy đi cho tới tận 10 giờ đêm. Ròng rã như thế, cả đi, cả về, cả thời gian tuyển sinh, mình ngồi trên xe suốt 24 ngày liền. Lúc về, mình tách đoàn đi một mình. Mình vào thành Đồng Hới, ngồi ăn bánh mướt (tức bánh cuốn). Giữa chiến tranh mà mình thấy vắng lặng, thanh bình quá. Chỉ còn quán bánh mướt mình ăn và một hiệu chụp ảnh trụ lại. Đến Ba Đồn, mình mua chiếc nón bài thơ bọc thật kĩ mang về tặng người yêu. Mình cởi áo ba lỗ buộc vào thắt lưng, vận độc chiếc quần cộc phóng xe qua Thạch Hà, thấy thị xã Hà Tĩnh vắng vẻ, chỉ thấp thoáng bóng người. Ra Nghệ, mình đến cấp III Vinh sơ tán ở Nam Dương, Nam Đàn chơi với bạn, lại cùng bạn đến Hưng Nguyên, rồi về thành Vinh mấy ngày. Ở Vinh, có cảm giác, mình và đám bạn như đàn chim sẻ làm tổ giữa khu nhà hoang, không thèm biết gì tới cảnh bom rơi, đạn lạc.
Mình rời Vinh vào một ngày đẹp trời. Mình lại về đường 7, rẽ sang Công Thành để rồi dọc theo đê đi về Lăng Thành và Thọ Thành. Mình đến Công Thành vào quãng 4 giờ chiều. Mùa hè, trời nắng gắt. Đang đạp xe, từ xa, mình thấy hai anh bộ đội khiêng một con lợn đi theo chiều ngược lại. Có lẽ vì khiêng nặng, họ lầm lũi đi, chẳng để ý tới người qua đường. Nhưng mình thì tựa như có luồng điện chạy dọc toàn thân, khi đến gần, nhận ra gương mặt quen thuộc của một người trong số họ. Trời ơi, Thày Phức của mình kia kìa. Thày Phức mà mình và bao sinh viên kính trọng, quí mến đang cùng anh tân binh khiêng lợn kia kìa… Mình phanh xe, đứng lặng như trời trồng. Phải vài phút sau mới trấn tĩnh, mình quay lại gọi Thày. Nghe mình gọi tên, Thày ngoái đầu, thoáng chút ngạc nhiên, nhưng rồi ông cũng nhận ngay ra mình. Hai người hạ con lợn xuống vệ đường. Thầy trò gặp nhau mừng mừng, tủi tủi. Thày bảo, đến phiên Thày làm anh nuôi nên phải đi kiếm thực phẩm. Nhìn da Thày sạm đen, không còn trắng trẻo như xưa, mình ứa nước mắt thương Thày. Thày trò tay trong tay, chỉ nhìn nhau, chẳng biết nói gì, vì nói gì lúc này cũng trở thành vô duyên. Rồi mình chia tay với Thày. Mình nhìn theo cho đến khi bóng Thày và anh tân binh khuất hẳn vào sau luỹ tre làng.
Thế là trời đất run rủi để mình gặp lại Thày Phức, gặp lại trong một hoàn cảnh thật oái oăm, khiến hình ảnh Thày mãi mãi khắc sâu trong kí ức của mình. Hình ảnh ấy gợi dậy nỗi đắng cay của bao nhiêu cuộc đời. Hồi còn dạy ở Trường Vinh, mình cũng chẳng từng phải cầy bừa, gặt hái, chăn trâu và khiêng lợn đó sao? Nghĩ tới Thày Phức, mình thấy hiện về hình ảnh các Thày Lê kinh Khiên, Tưởng Đăng Trữ, Ngô Xuân Anh, Lê Bá Hán, Nguyễn Trung Hiếu… và nhiều Thày khác giờ không còn trên cõi đời này nữa. Mình bỗng nhớ tới câu thơ của Tố Hữu nói về những kiếp người: “sống trong cát chết vùi trong cát”. Chỉ có điều, các Thày “thác là thể phách, còn là tinh anh”.
Chữ Hán, “Phức” nghĩa là “Thơm”. Không biết hồn thơm của các Thày ở đâu bây giờ?
Hà nội, 17.7.2014.

One response

  1. Tháng 7 mưa ngâu đọc bài viết về Thầy Phức sao mà cảm động. Một phận người hiện ra. Một thời đã qua hiện ra.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: