KHÁI NIỆM TRUYỆN KỂ (SUJET)

N.D. Tamarchenko

Truyện kể (Sujet) là dẫy sự kiện, tình huốngxung đột (các hành vi, vị thế, bao gồm cả vị thế mâu thuẫn, và trạng thái của các nhân vật) được định hướng một cách nghệ thuật trong thế giới các nhân vật; dựa vào trình tự của chúng, người ta phân biệt các bình diện cốt truyện (fabula, sự phân bố của các yếu tố thuộc dãy nói trên trong đời sống một nhân vật và ý nghĩa của chúng đối với nó) và truyện kể theo đúng nghĩa riêng của nó (sujet, sự phân bố của chính các sự kiện và tình huống nói trên trong tầm nhìn của tác giảđộc giả), nhưng thông thường, dựa vào đó, người ta phân biệt các yếu tố lặp lại (yếu tố truyền thống), tức là các môtip, và và tổ hợp vững chắc của các môtip (sơ đồ truyện kể).
Hegel là người đặt nền móng cho lí thuyết truyện kể, khi ông phân tích động lực của hành động như vốn dĩ: nó là sự thống nhất năng động của các giai đoạn tĩnh tại tương đối (tình huống), sự phá vỡ trạng thái ấy cùng sự tách đôi được nảy sinh (xung đột) và, cuối cùng, sự giải quyết mâu thuẫn căng thẳng đã xuất hiện (sự kiện) mà kết cục là một tình huống mới được xác lập và cả chuỗi lại được lặp lại. Việc nghiên cứu thi pháp truyện kể (sujet) một cách hệ thống thường được tính từ thời đại hình thức luận Nga (V. Sklopvski, B. Tomashevski, Iu. Tynhanov, L.S. Vygotski). Đặc điểm nổi bật của hệ thống lí thuyết này là, một mặt, qui dẫy sự kiện về cốt truyện (fibula), mặt khác, đồng nhất truyện kể (sujet) với trần thuật. Mối quan hệ giữa các khái niệm nói trên (sujet và fabula) không chỉ là kết quả của sự đối lập vốn là nguyên tắc riêng thuộc về trường phái khoa học này: đối lập chất liệu hiện thực “sống sít” với thủ pháp biến chất liệu hiện thực sống sít ấy thành sản phẩm của sáng tác nghệ thuật. Nó còn phản ánh xu hướng chủ quan hoá của các thể loại tự sự vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, phản ánh sự khác biệt sâu sắc giữa sự kiện theo ý nghĩa truyền thống của từ ấy (được quan sát một cách khách quan) và những yếu tố vận động của thế giới được phản ánh, những yếu tố không được biểu đạt bằng lời, mà chỉ được trình bày với tư cách là những động tác ngôn từ (như trong kịch), hoặc biểu hiện trực tiếp các vận động tâm trạng (như trong trữ tình). Không phải ngẫu nhiên, những công trình nghiên cứu truyện kể (sujet) dựa vào chất liệu cổ đại (V.Ja. Propp, O.M. Freidenberg) đều không thể phân biệt truyện kể (sujet) và cốt truyện (fibula), cũng như không thể xáo trộn truyện kể (sujet) với trần thuật. Đồng thời, trong các công trình nghiên cứu truyện kể (sujet) theo hướng “thần thoại học”, trung tâm chú ý không phải là sự phân bố sự kiện (“sắp xếp” chuỗi sự kiện), mà là ngữ nghĩa của các yếu tố truyền thống (các môtip hoặc chức năng) và – về mặt này – tính nội dung của trình tự được chúng tạo thành (cấu trúc của chỉnh thể). Tuyến nghiên cứu truyện kể theo hướng này về sau không được tiếp tục phát triển. Hướng nghiên cứu gần gũi với trường phái hình thức Nga là lí thuyết truyện kể của chủ nghĩa cấu trúc Pháp (C. Bremond, A.J. Greimas, G. Genette) và tự sự học hậu cấu trúc hiện đại (W. Smid). Các môn đệ cấu trúc luận Pháp tìm điểm tựa ở tư tưởng và phương pháp ở Hình thái học truyện cổ tích thần kì. Trần thuật học hậu cấu trúc luận đưa ra nhiều mô hình và đề xướng nhiều thuật ngữ bổ trợ.
Với tư cách là sự triển khai “sự kiện thống nhất được kể lại” (chứ không phải bản thân sự kể) thành một chuỗi, một trình tự rời rạc, một mặt, truyện kể (sujet) được xác định là một không – thời gian (chronotope) như thế này, hay thế kia. Mặt khác, nó còn được xác định bởi hoạt động của nhân vật, tức là loại hình nhân vật. Dựa vào đó người ta phân chia truyện kể thành các biến thể truyện thử tháchtruyện trưởng thành.  Lại nữa, loại hình truyện kể sẽ gắn với sơ đồ cấu trúc phổ quát giữ vai trò chủ đạo trong đó được tổ chức theo kiểu xâu chuỗi, hay tăng cấp. Cuối cùng, cấu trúc truyện kể (sujet) sẽ biến đổi từ thể qua thể: chẳng hạn, ai cũng biết rõ tổ hợp các môtip gắn kết vô số sự kiện của sử thi và định hướng sự vận động của chúng tới chương kết là như thế nào; hay, cũng có thể phân chia các tổ hợp tương tự trong mọi dạng tiểu thuyết trên trường kì lịch sử của nó.

Nguồn: Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 258.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: