GIỌNG

D.M. Magomedova

GIỌNG – Là phạm trù thi pháp học được M.M. Bakhtin sử dụng trong các công trình nghiên cứu của ông. Theo định nghĩa của M.M. Bakhtin, GIỌNG là quan điểm được biểu hiện trong đặc điểm ngôn ngữ của nhân vật như một nhân cách toàn vẹn. Khái niệm GIỌNG thường đi liền với các khái niệm “tư tưởng”, “quan điểm tư tưởng điển hình”, “nhân vật”, “cá nhân”, “con người”, “thế giới”, “lời”, “sự kiện”. Khái niệm này xuất hiện lần đầu tiên trong công trình “Tác giả và nhân vật trong hoạt động thẩm mĩ” (giữa những năm 1920). Sau này, nó được sử dụng trong“Những vấn đề sáng tác của Dostoievski” (1929), “Những vấn đề thi pháp Dostoievski” (1963), trong nhiều bài báo vào những năm 1961, 1962 – 1963, 1970 gắn với việc phát triển hệ thống vấn đề về tiểu thuyết phức điệu và xu hướng “tiểu thuyết hoá” của các thể loại khác, cũng như trong các công trình bàn về hiện tượng lời bán trực tiếp (“lời hai giọng”) và về các thể loại lời nói. Ở các bản phác thảo và ghi chú khác nhau, M.M. Bakhtin  đã nhiều lần đặt nhiệm vụ xác định GIỌNG bằng cách liệt kê những đặc điểm thiết yếu cần phải có cho một định nghĩa toàn diện. Ở đây, thuật ngữ GIỌNG có cả nghĩa gần, nghĩa hẹp, lẫn nghĩa xa, nghĩa rộng: “Định nghĩa GIỌNG. Nó bao gồm cả cao độ, âm vực, thanh điệu và cả phạm trù thẩm mĩ (kịch tính, trữ tình v.v…). Nó bao gồm cả thế giới quan và số phận của con người. Con người tham gia đối thoại như một GIỌNG NÓI thống nhất. Nó tham gia đối thoại không chỉ bằng ý nghĩa, mà bằng cả số phận và toàn bộ con người cá nhân của mình”(M.M. Bakhtin 1961. Ghi chú// Bakhtin.T.5, tr. 351). Trong kế hoạch chỉnh sửa cuốn sách về Dostoievski, nhiệm vụ trên được cụ thể hoá rõ hơn: “Trong chương Ba, chương bàn về tư duy bằng các GIỌNG NÓI sẽ đưa ra định nghĩa mở rộng về GIỌNG như quan điểm tư tưởng RÕ NHẤT trong thế giới. Sự thể hiện GIỌNG trong cơ thể” (Bakhtin. T.5. Tr. 364 – 365). Tuy nhiên, vẫn chưa thấy Bakhtin đưa ra ở đâu trong số các công trình của mình một định nghĩa về GIỌNG ngõ hầu qui tụ một cách hợp lí mọi cấp độ ngữ nghĩa đã được ông phát hiện ở khái niệm ấy. Phân tích kĩ các sử dụng thuật ngữ “GIỌNG” cũng cho thấy, với Bakhtin, đặc điểm ổn định làm nên khái niệm này chẳng phải là “cao độ”, “thanh điệu”, cũng không phải là “âm vực”. Có hai khái niệm âm nhạc thường được ông sử dụng nhiều nhất là “âm độ” (“ton”) và “âm bội” (tiếng Nga: “обертон”; tiếng Pháp: “harmonique”.- ND).

Trong các công trình sau này, GIỌNG thường được sử dụng tương đương với khái niệm “phức điệu” (“polyphonie”.- ND) và các từ đồng nghĩa tương đương: “tôi”, “chủ thể”, “tự ý thức”, “ý thức đầy đủ, sống động, của người khác”, “nhân cách toàn vẹn”, “quan điểm”, “quan điểm toàn vẹn của cá nhân”, “quan điểm cứu cánh trong thế giới”, “thế giới quan”, “thế giới quan hiện hữu”, “ý thức hiện hữu cụ thể”, “sự biểu hiện năng động, thực tế”, “ý chí”, “điểm nhìn”, “phương châm ngữ nghĩa của con người”, “phương châm tinh thần nhất quán”, “ý đồ”. Ở phía ngược lại, GIỌNG đối lập với các khái niệm: “đối tượng”, “vật”, “vật trong tính vật chất thuần tuý”, “lời khách thể”, “lời trung tính của ngôn ngữ”,

“phương tiện biểu hiện ngầm”, “vật liệu câm”, “xác quyết, luận điểm, tư tưởng cảm tính – hạn hẹp rời rạc” bị tách khỏi cá nhân cụ thể, “sự thống nhất trừu tượng và và trình tự tự của một hệ thống tư tưởng và luận điểm”, “chủ đề”, “chuỗi chủ đề”.

Trong các công trình ở thời kì đầu, cũng như các công trình ở giai đoạn sau của Bakhtin, khái niệm GIỌNG còn có quan hệ với khái niệm “NGƯỜI KHÁC”. Đồng thời, trong các công trình ở thời kì đầu của ông, đóng vai trò “NGƯỜI KHÁC” này là hình ảnh “dàn đồng ca” như một “tồn tại được khẳng định từ bên ngoài”, một “quan điểm quyền uy và rắn chắc của bản quyền bên trong, ngoài bản thân của đời sống nội tâm của mình”. Trong các công trình ở thời kì cuối đời, hình ảnh “dàn đồng ca” được gắn với hình dung từ “đa giọng” (tiếng Nga: “многоголосый”.- ND): “Niềm tin vào khả năng kết hợp các giọng, nhưng không phải thành một giọng, mà thành dàn đồng ca đa giọng, nơi cá nhân hoàn toàn duy trì được chân lí của nó” (Bakhtin. T.5. “Dostoievski. 1961”. Tr. 374).

Trong “Những vấn đề sáng tác của Dostoievski”, Bakhtin không gắn chủ đề về sự “tham gia của GIỌNG của nhân vật vào dàn đồng ca” với thi pháp tiểu thuyết, mà với phần chính luận và hệ tư tưởng tôn giáo của Dostoievski: “Nói chung, sự hoà giải và trộn lẫn các giọng ngay trong phạm vi của một ý thức – theo ý đồ của Dostoievski và theo những tiền đề tư tưởng của ông – không phải là hành vi độc thoại, mà nó dẫn tới sự tham gia của các giọng nhân vật vào dàn đồng ca; dĩ nhiên, để làm được như thế, cần phá vỡ và dập tắt các giọng hư tạo của bản thân, những thứ giọng luôn nói hớt và bắt chước giọng nói đích thực của con người. Ở bình diện hệ tư tưởng xã hội của Dostoievski, điều trên luôn biến thành yêu cầu về sự hoà hợp giữa trí thức với nhân dân <…> Ở bình diện hệ tư tưởng tôn giáo, điều ấy lại có nghĩa là nhập vào dàn đồng ca để cùng tất cả hô vang “Hosanna!”[1]. Trong dàn đồng ca ấy, lời được truyền từ miệng người này qua miệng người kia trong cùng một giọng ngợi ca, hân hoan, vui mừng. Nhưng ở bình diện tiểu thuyết, giọng điệu được triển khai là dàn phức điệu của các giọng tranh đấu với nhau và vỡ vụn từ bên trong, chứ không phải dàn phức điệu của các giọng dung hoà với nhau như vậy” (Bakhtin. T.2, tr. 152-153). Đồng thời, Bakhtin cũng tiến tới quan niệm về “định hướng quyền uy tối thượng lớn nhất” trong thi pháp Dostoievski (so với chức năng của dàn “đồng ca” trong trữ tình), nhưng ông không giải thích nó như là lời của tác giả, mà là “của một người khác đích thực và như là lời của anh ta”. Giải pháp dành cho các tìm kiếm tư tưởng được ông hình dung qua hình tượng một con người lí tưởng (Đức Kitô). Hình tượng này, hay GIỌNG NÓI tối cao cần tôn vẻ đẹp cho thế giới của các giọng nói, cần tổ chức và khống chế thế giới ấy. Cả trong trữ tình lẫn trong thi pháp tiểu thuyết, “GIỌNG” tìm thấy điểm tựa ở “người khác”, nhưng trong tiểu thuyết phức điệu, hình tượng Đức kitô sẽ thay thế cho hình tượng dàn “đồng ca”. Trong nhiều ngữ cảnh, Bakhtin sử dụng kết hợp từ “mê cung của các giọng nói”, hoặc “hành lang các giọng nói”: không loại trừ khả năng hình tượng “mê cung”, hoặc hành lang” các giọng nói có nguồn cội từ “khu rừng biểu tượng[2]” nổi tiếng. Quan hệ giữa các hình tượng về sự thống nhất phức điệu và biểu tượng cho phép đặt vấn đề về sự thống nhất chức năng giữa biểu tượng trong thơ và sự đa thanh trong văn xuôi.

Nguồn: Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 48-49.

[1] “Hosanna”: 1) Lời tung hô của người do Thái khi rước hoặc làm lễ; 2) Thánh ca ngày Hội Cành; 3) Bài hát mừng.- ND

[2] Rừng là biểu tượng của đất gắn với nhân tố nữ đối lập với quyền năng của mặt trời. Trong huyền thoại của người Druid, rừng và mặt trời kết duyên với nahu.- ND.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: