TIỂU THUYẾT

N.D. Tamarchenko

Có ba nét nghĩa:

1) Thoạt kì thuỷ, nó là tác phẩm được viết bằng tiếng Roman, tức là tiếng La tinh;

2) Là thể loại, cùng với sử thi, thuộc dạng tự sự cỡ lớn, và khác với sử thi, nó không bị cách luật;

3) Là mực thước bên trong, chịu sự quy định của ba đặc điểm cấu trúc như sau: thứ nhất, cấu trúc ba chiều phong cách học” là đặc trưng tổ chức ngôn ngữ của nó; thứ hai, thế giới nhân vật và sự kiện truyện kể thuộc về thời “đương đại chưa hoàn kết”; thứ ba, “khu vực xây dựng hình tượng” nhân vật là “khu vực tiếp xúc gần nhất với “cái đương đại chưa hoàn kết” (M.M. Bakhtin.- Sử thi và tiểu thuyết).

Là hình thức tự sự cỡ lớn, cũng như kịch, tiểu thuyết mô tả cả hành động “vô cớ”, lẫn hành động mang “động cơ tư tưởng hệ” của nhân vật. Nhưng chưa bao giờ xuất hiện hình thức tổng hợp kịch và tự sự. Sự tiến hoá của thể loại từ giữa thế kỉ XIX đã làm nổi rõ bản chất mới ở tính tự sự của nó. Có một xu hướng phát triển của tiểu thuyết gắn với những phát hiện nghệ thuật của Dostoievski. Xu hướng này cho thấy một chức năng mới, chức năng ngoài truyện kể (tức là phi kịch tính) của các hình thức bằng lời giữa các nhân vật. Những hình thức này trình bày trong tác phẩm dòng lời nói tự phát đầy mẫu thuẫn của ngôn ngữ xã hội. Chúng là nền tảng của những mối liên hệ tinh thần phổ quát được tạo ra trong tiểu thuyết, được hiện thực hoá trong sự kiện “tìm kiếm chân lí” trong hình thức tự sự (M.M. Bakhtin). Lại có một xu hướng khác, trong “văn học dòng ý thức”: khai thác triệt để những nguyên tắc của L. Tolstoi trong việc mô tả “các trạng thái tinh thần phổ quát” (L.Ja. Ghinburg). Trong tiểu thuyết viết theo xu hướng này, việc phá huỷ sự thống nhất, xoá bỏ vai trò thống trị của bình diện đối tượng – sự kiện ở bình diện mô tả tạo ra một phạm vi mới mang tính phổ quát của hình thức tự sự. Sự giảm thiểu hành động bên ngoài tới mức cự tuyệt một góc nhìn thời gian duy nhất kết hợp với sự tô đậm những khoảnh khắc của cuộc sống thường nhật được lựa chọn tùy tiện đã tạo ra một thứ “sự kiện mang tính biểu tượng ngoài thời gian” có khả năng khám phá “đặc điểm chung mang tính tự phát trong đời sống của mọi người” (E. Auerbach).

Nhờ sở đắc “những hằng số năng động” (A.V. Mikhailov), tiểu thuyết có khả năng trụ vững, bao giờ cũng là nó, dù rất “mềm dẻo”, nó không bị hoà tan vào các thể loại khác, ngay cả những thể loại gần nó nhất. Tiểu thuyết sử dụng thoải mái, đưa vào cấu trúc của nó nhiều thể tự sự, thậm chí cả một số thể kịch. Vì thế, mới có các thuật ngữ “tiểu thuyết huê tình”, “tiểu thuyết ngụ ngôn”, tiểu thuyết hài kịch”, tiểu thuyết bi kịch”, tiểu thuyết sử thi”… Các hình thức thể loại khác, đặc biệt là các thể lời nói sinh hoạt và các thể bán dân gian thoải mái gia nhập vào cấu trúc của nó đôi khi tạo thành lớp khảm phong cách – thể loại hết sức đa dạng, ví như các thể loại phụ trợ: thư tín, nhật kí, thơ, bài báo, luận, lời tự thú, truyền giáo, lời luận tội, tự vệ… Tiểu thuyết có quan hệ rất phức tạp với truyện dài, truyện vừa và truyện ngắn. Chúng không phải chỉ là những thể phụ trợ tiêu biểu nhất của tiểu thuyết, bởi vì nhiều khi, tiểu thuyết và chúng tạo ra một cấu trúc “cộng sinh”, ví như tiểu thuyết là “một chuỗi truyện vừa” (Anh hùng thời đại chúng ta), tiểu thuyết dưới hình thức truyện dài (Candide của Voltaire), hay ngược lại, truyện vừa dưới dạng tiểu thuyết (Ai có lỗi của Ghersen, Hoặc Oblomov của Goncharov).

Các công trình nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết (A.N. Veshelovski, Vj. Ivanov, M.M. Bakhtin) đã chứng minh những mầm mống đầu tiên của nó xuất hiện trong các thể văn thời Hy lạp cổ đại, ví như đối thoại Socrate, và thể trào phúng minippea (Nietzsche và E. Rohde đã chỉ ra điều này). Các kiểu mẫu tiểu thuyết phiêu lưu Hy Lạp như Leucippe và Clitophon A. Tati, hoặc Aethiopica của Héliodcuah tác động tới sự phát triển sau này của tiểu thuyết phiêu lưu – diễm tình trong văn học châu Âu. Con lừa vàng của Apuleius ảnh hưởng sâu sắc tới tiểu thuyết du đãng thế kỉ XVI – XVII. Các tiểu thuyết cổ đại và trung đại vẫn giữ được liên hệ hệ với văn hoá dân gian, thậm chí, với cả huyền thoại. Chẳng hạn, tiểu thuyết hiệp sĩ sáng tạo ra một quan niệm hoàn toàn mới về thời gian và không gian nghệ thuật, một kiểu nhân vật hoàn toàn khác so với nhân vật thời cổ đại, nhưng chúng vẫn sử dụng những hình thức có sẵn của sử thi và cổ tích thần kì.

Thời Phục hưng được xem là giai đoạn “tái sinh” của tiểu thuyết với những kiểu mẫu vĩ đại nhất như Don QuixoteGargantua và Pantagruel. Thời đại Baroque, một mặt, là thời hoàng kim của tiểu thuyết du đãng (Guzmán de Alfarache của Mateo Aleman), là sự xuất hiện của Simplicissimus của Grimmelshausen; mặt khác, là sự phát triển của văn xuôi tâm lý (Quận chúa Cleves của M. de Lafayette) trên nền tảng của tiểu thuyết tráng sĩ – phiêu lưu truyền thống (A.N. Veshelovski). Đến thế kỉ XVIII, tiểu thuyết hiện đại với các biến thể quan trọng nhất của nó được hoàn thiện, chẳng những thế, tiểu thuyết trở thành thể loại cái, thể loại chủ đạo của tiến trình văn học. Quá trình thâm nhập của tiểu thuyết vào nền văn học lớn và sự khẳng định vai trò chủ đạo của nó trong toàn bộ chiều dài lịch sử đi liền với quá trình tự phê phán của thể loại – bằng sự giễu nhại một số biến thể bị cách luật hoá của nó, chẳng hạn, Cervantes chế nhạo tiểu thuyết hiệp sĩ ở giai đoạn hậu kì, hoặc sơ đồ truyện diễm tình của tiểu thuyết phiêu lưu Hy Lạp (và thời Barocco) bị giễu nhại trong Candide.

Thế kỉ XVIII cũng là thời điểm cải tạo quyết liệt những nền móng cơ bản của tiểu thuyết. Một mặt, lần đầu tiên, ý niệm về sự hình thành được đưa vào hình tượng nhân vật tiểu thuyết: xuất hiện loại nhân vật có sự biến đổi nội tại, sau đó, nguyên tắc mới này được sử dụng để mô tả thế giới, bởi thế nhân vật (nhất là từ tiểu thuyết của Goethe) luôn vững vàng, lúc nào cũng chính là nó trong thế giới lịch sử luôn biến đổi, ở thời điểm thay đổi các thời đại lịch sử. Có lẽ về sau, xu hướng này được thể hiện rõ nhất trong sáng tác của L. Tolstoi. Mặt khác, người ta thấy xuất hiện một biến thể mới, có ảnh hưởng mạnh mẽ, được gọi là tiểu thuyết thử thách, như tiểu thuyết Gothic: quan niệm về sự thử thách tỏ ra có hiệu quả và ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ do nó gắn với hình tượng nghịch dị và, – khác với tiểu thuyết hiệp sĩ,- sự diễn giải mang tính nghịch dị về thế giới hai mặt (nhờ thế, biến thể này có ảnh hưởng tới tiểu thuyết châu Âu sau này: từ các nhà lãng mạn chủ nghĩa, qua Dostoievski đến thế kỉ XX).

Tiểu thuyết hiện thực thế kỉ XIX thể hiện thái độ trận trọng, đề cao tự do, sáng kiến tư tưởng và trách nhiệm của con người, ý nghĩa của chúng trong việc tạo ra một tương lai lịch sử hiện thực. Sự kiện chính yếu là bước dịch chuyển từ thời đại này qua thời đại khác, và đồng thời là hành vi tự xác quyết về mặt tinh thần của nhân vật như một phương thức tìm kiếm độc đáo, phương thức hiện thực hoá các hình thức mới của văn học dân tộc và toàn nhân loại. (Chẳng hạn, sự gặp gỡ giữa các nhân vật trong tiểu thuyết của Pushkin có quan hệ trực tiếp với vấn đề sự tất yếu phải kết hợp việc giữ gìn các truyền thống vững bền của nước Nga nông thôn với sự cởi mở vốn là đặc điểm của thế giới Peterburg đối với những làn gió mới thổi tới từ châu Âu). Những nguyên tắc cấu trúc khác nhau về nguồn gốc và chức năng (các sơ đồ truyện kể cổ đại và tình huống truyện kể chính yếu thuộc loại hình mới, sự khác biệt và “chỗ đồng thuân”, “vùng tiếp xúc” và “vùng Kí ức”) từng hoạt động tương tác vào thời Phục hưng, giờ đây chúng quan hệ với nhau như những “ngôn ngữ” nghệ thuật bình đẳng và soi sáng lẫn nhau.

Trong tiểu thuyết thế kỉ XX, quan hệ đối thoại giữa tác giả và nhân vật vốn có trong chủ nghĩa hiện thực cổ điển, cũng như trạng thái cân bằng rõ nét giữa các cấu trúc truyện kể và các cấu trúc lời nói – chủ thể về cơ bản bị biến mất. Nếu xét về sự bảo lưu của hình tượng cổ điển, ta sẽ nhận ra những xu hướng cực đoan, hoặc là ngả về hình tượng nhân vật hoàn toàn vô bản sắc, hoặc là nghiêng về phía hình tượng “cái tôi khác” của tác giả. Ta hiểu vì sao lại xuất hiện các hình thức tiểu thuyết – lắp ráp, hoặc tiểu thuyết “trữ tình”; ở vị trí trung tâm là sự biến đổi của “tiểu thuyết giáo dục” cổ điển. Bên cạnh đó là sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức nghịch dị: ở đây, bên cực này là tân nguyên hợp chủ thể và nhân vật ( chủ thể tập thể nguyên hợp, hoà trộn ý thức của nhân vật và của người trần thuật, hoặc một số nhân vật hành động), còn bên cực kia là tiểu thuyết phiêu lưu kì ảo, nó làm sống dậy truyền thống tiểu thuyết Gothic, tiểu thuyết du đãng và tiểu thuyết hiệp sĩ. Những cuộc tranh luận từngdiễn ra nhiều lần ở thế kỉ trước về sự “cáo chung”, hoặc “khủng hoảng” của tiểu thuyết chỉ có nghĩa rằng, cùng với sự phát triển tăng tốc của lịch sử, các thời điểm đổi mới thể loại về cơ bản đang xích lại gần nhau trong thời gian tới mức chúng có thể hiện ra trong tầm nhìn của một thế hệ.

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 215-216.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: