NGƯỜI KỂ CHUYỆN

NGƯỜI KỂ CHUYỆN

N.D. Tamarchenko

(cũng như NGƯỜI TRẦN THUẬT) – là chủ thể lời nói và là người đại diện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học; nhưng – khác với người trần thuật,- được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt không gian, lẫn bình diện tu từ; mà cụ thể là, nó được gắn với một hoàn cảnh văn hóa- xã hội và ngôn ngữ cụ thể để từ vị thế ấy nó mô tả các nhân vật khác. Khác hẳn với người trần thuật, NGƯỜI KỂ CHUYỆN không đứng ở đường biên giữa thế giới hư cấu với thực tại của tác giả và độc giả, mà hoàn toàn đứng bên trong hiện thực được mô tả: câu chuyện của nó được nhắm một cách ước lệ tới người nghe hiện diện trong hiện thực ấy, bên cạnh NGƯỜI KỂ CHUYỆN: cái vị thế nằm phía bên trong các ranh giới của tác phẩm này người đọc đứng ngoài tác phẩm phải chiếm lĩnh. Chẳng hạn trong tiểu thuyết Người đi ra từ tiệm ăn của I. Smelyev, NGƯỜI KỂ CHUYỆN là nhân vật chính, ta hoàn toàn không biết anh ta đang kể chuyện cho ai nghe, mặc dù không thể hoài nghi sự hiện diện của người nghe ước lệ này trong hiện thực được mô tả. Còn trong truyện Kholstomer của L. Tolstoi, người kể chuyện là con ngựa già, nó cũng là nhân vật chính, thêm vào đó, ở đây, người nghe được mô tả cụ thể. Trong các trường hợp tương tự, những yếu tố cơ bản của “chính sự kiện kể chuyện” sẽ trở thành đối tượng mô tả, thành các “sự thật” của hiện thực hư cấu: 1) tình huống tạo khung của sự kể chuyện (trong truyền thống tiểu thuyết và văn xuôi theo hướng ấy ở thế kỉ XIX – XX); 2) cá nhân người trần thuật: cá nhân này hoặc là gắn bó về mặt tiểu sử với các nhân vật mà nhà văn trong Những kẻ bị sỉ nhục và lăng mạ (tác phẩm của Dostoievski.- ND), sử gia trong Những con quỷ (tác phẩm của Dostoievski.- ND) kể câu chuyện về họ, hoặc chí ít cũng có một nhãn quan đặc biệt, nhưng tuyệt nhiên không bao trùm tất cả; 3) là một kiểu lời nói đặc biệt gắn với nhân vật hoặc tự nó được mô tả như vốn dĩ (Truyện người ta cãi cọ như thế nào của Gogol, các truyện ngắn của Zoshenko, những tác phẩm đầu tay của Chekhov…). Nếu không ai có thể nhìn thấy người trần thuật bên trong thế giới được mô tả và không ai giả định về sự tồn tại của nó, thì NGƯỜI KỂ CHUYỆN – trong trường hợp câu chuyện được lồng thêm vào, – sẽ nhập vào tầm nhìn hoặc là của người trần thuật (Ivan Velikopolski trong Sinh viên của Chekhov), hoặc là của các nhân vật (Ivan Vashilievich trong Sau vũ hội của L. Tolstoi). Nhân vật càng gần với tác giả thì càng ít có sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nó và người trần thuật. Vì thế các nhân vật chính trong tác phẩm tự sự có quy mô lớn thường không phải là những chủ thể của các câu chuyện được tô đậm về mặt phong cách (xin xem: câu chuyện của công tước Mưshkin về Maria và những câu chuyện của tướng Ivolghin hoặc tạp đàm của Keller trong Thằng ngốc). Vị thế “trung gian” của người trần thuật trước hết giúp người đọc tìm thấy sự trình bày khách quan, đáng tin cậy về các sự kiện và hành vi, cũng như đời sống nội tâm của các nhân vật.  Vị thế “trung gian” của NGƯỜI KỂ CHUYỆN lại cho phép thâm nhập vào bên trong thế giới được mô tả và quan sát các sự kiện bằng cái nhìn của các nhân vật. Vị thế “trung gian” của người trần thuật gắn với các ưu thế nào đó của điểm nhìn bên ngoài; ngược lại, những tác phẩm có ý đồ đưa người đọc xích lại gần với sự thụ cảm các sự kiện của nhân vật bao giờ cũng bỏ qua, hoặc gần như không cần tới người trần thuật bằng cách sử dụng các hình thức nhật kí, thư từ, lời tự thú (Những kẻ bần hàn, Nhật kí người thừa, Bản Sonate à Kreutzer): trong những trường hợp như thế, các nhân vật sẽ đóng vai NGƯỜI KỂ CHUYỆN. Nhưng nếu như tác giả-người sáng tác tạo ra sự cân bằng điểm nhìn bên ngoài với bên trong, hình tượng NGƯỜI KỂ CHUYỆN và câu chuyện của nó sẽ trở thành “cầu nối”, hoặc mắt xích nối kết: tỉ như trong Người anh hùng thời đại chúng ta, câu chuyện của Macsim Macsimưch nối kết những trang “du kí” của nhân vật – tác giả với “tập san” của Pechorin. Hình tượng NGƯỜI KỂ CHUYỆN – giống như tính cách hoặc “mặt nạ ngôn ngữ” (M.M. Bakhtin) – là dấu hiệu đặc thù thiết yếu đối với loại chủ thể mô tả thuộc loại này, nhưng việc đưa nó vào trường mô tả hoàn cảnh của sự kể chuyện lại hoàn toàn tùy ý, không mang tính bắt buộc. Chẳng hạn, trong Tiếng súng của Pushkin, chúng ta bắt gặp ba NGƯỜI KỂ CHUYỆN, nhưng chỉ thấy trình bày hai tình huống của sự kể chuyện (NGƯỜI KỂ CHUYỆN chính, không được gọi ra, chăm chú lắng nghe câu chuyện của Silvio và bá tước B*). Nếu vai trò tương tự như thế được trao cho nhân vật mà câu chuyện của nó không có bất kì dấu hiệu nào của nhãn quan, của kiểu cách ngôn ngữ (câu chuyện của Pavel Petrovich Kirshanov trong Cha và con), thì nó sẽ được cảm thụ như một thủ pháp ước lệ. Mục đích của nó là gạt bỏ trách nhiệm của tác giả về tính xác thực đối với cái được mô tả. Thực ra, ngay cả ở phần này trong tiểu thuyết của Turgheniev, chủ thể mô tả là người trần thuật.

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 202-203

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: