DỤ NGÔN

DỤ NGÔN

N.D. Tamarchenko 

(tiếng Nga: “притча”; tiếng Pháp “parabole”.- ND) là thể tự sự cỡ nhỏ, mang tính quá độ, chuyển từ folklore qua văn học viết. Khác với giai thoại (tiếng Nga “анекдот”; tiếng Pháp “anecdote”.- ND), nhưng giống với ngụ ngôn (tiếng Nga “басня”, tiếng Pháp: “fable”.- ND), DỤ NGÔN là câu chuyện bóng gió về một trường hợp không phải là sự hiếu kì, mà là minh chứng hiển nhiên cho một qui luật phổ quát buộc người ta phải tuân thủ, chứ không khiến người ta kinh ngạc (do đó, DỤ NGÔN bao giờ cũng nghiêm túc, có tính chất giáo huấn, khác hẳn giọng bỡn cợt của giai thoại, còn tính cách và giọng điệu của ngụ ngôn lại có tính hai mặt). Trong DỤ NGÔN, hai bình diện mô tả – cụ thể và phổ quát – hoàn toàn độc lập và bình đẳng với nhau (trong ngụ ngôn, bình diện cụ thể giữ vai trò chủ đạo),  chúng nối kết với nhau theo nguyên tắc đối sánh và song hành, chứ không theo nguyên tắc hoán dụ (“câu chuyện” trong ngụ ngôn là sự minh họa cho những chuẩn mực phổ quát, đồng thời cũng hết sức ước lệ và ẩn ý của nó thoạt nghe là thấy ngay); dù mang tính sơ đồ thế nào, các nhân vật DỤ NGÔN bao giờ cũng “hiện lên trước mắt ta như những chủ thể lựa chọn luân lí”, chứ không phải như những khách thể quan sát nghệ thuật (S.S. Averinsev), trong khi đó, các nhân vật ngụ ngôn lại hành động đúng theo vai có sẵn của nó (những hình tượng mang tính biểu trưng, như lừa, sư tử…). Tình huống lựa chọn của nhân vật và việc đánh giá sự lựa chọn ấy của người kể chuyện và người nghe xét theo quan điểm các chuẩn mực đạo đức đáng tin cậy tuyệt đối sẽ là tiêu chí đối sánh hai bình diện của dụ ngôn, là hạt nhân ngữ nghĩa của thể loại làm nên tổng thể các đặc điểm cấu trúc cố định của nó.

Cả trong nguồn cội của nó, lẫn trong suốt lịch sự tồn tại lâu dài nhiều thế kỉ, DỤ NGÔN có một số biến thể chính được thực hiện vừa như những khả năng phân cực được hình thành trong cấu trúc thể loại, vừa như mực thước riêng của mình.  Trước hết, có sự khác nhau giữa DỤ NGÔN “cỡ lớn” và DỤ NGÔN “cỡ nhỏ”, giữa “trần thuật mở rộng về một chuỗi sự kiện” và “trần thuật tĩnh lược hoặc châm ngôn”.

Ở cực này, trong một câu chuyện tối giản, sự giảm thiểu văn bản và chuyện kể đến một giới hạn nào đó vẫn phải dừng lại, vì nếu vượt quá, tính hai bình diện sẽ bị phá vỡ: sự phản ánh dưới hình thức châm ngôn về “sự lựa chọn của cá nhân giữa các tình huống lựa chọn”. Rốt cục, dụ ngôn bị biến thành tỉ dụ giống như tục ngữ (chỉ khác tục ngữ ở chỗ, nó cần có sự bình chú và  diễn giải), hoặc trở thành sự minh họa một chiều cho tư tưởng trong việc giáo huấn, thuyết giảng – trong trường hợp này, có thể không cần tới sự diễn giải, vì bình diện thứ hai đã bị thay thế bởi ngữ cảnh luận giải. Thí dụ tiêu biểu cho trường hợp này là DỤ NGÔN trong Truyện về Akire Thông thái: “Con trai giống như chú hươu húc dầu vào núi, tự bẻ gẫy sừng mình” (Dụ ngôn Nga cổ). Chính những  DỤ NGÔN như thế đã tập hợp thành Sách dụ ngôn Solomon” và những văn bản tương tự như vậy.

Ở cực kia, câu chuyện mở rộng truyện kể, DỤ NGÔN bao gồm hàng loạt nhân vật với những chức năng khác nhau, nó có ý nghĩa hoàn toàn độc lập. Nó được tiếp nhận không giống như một thí dụ – đối sánh, mà như một câu chuyện truyền thống đặc biệt, ở đó nội dung trung tâm là sự thử thách của nhân vật (tức là kết quả việc lựa chọn của nó), đồng thời, trong trường hợp này, sự lựa chọn luân lí được thực hiện bằng một trong số phương án lựa chọn đường đời, chứ không phải lựa chọn hành vi. Về phía mình, người kể chuyện và người nghe sẽ đánh giá kết quả của sự thử thách. Có thể tìm thấy những DỤ NGÔN như thế, ví như, trong Cựu ước: Sách Job, Sách Tiên tri Jonah; trong Tân ước: DỤ NGÔN về đứa con hoang đàng, vô số truyện về các nhà truyền giáo trong Akade, hoặc Philokalia. Nhưng việc mở rộng DỤ NGÔN thành câu chuyện về sự thử thách cũng có giới hạn riêng, nếu vượt ra ngoài, cấu trúc hai mặt của nó cũng bị xóa bỏ, khi ấy thể loại sẽ thành truyện vừa. Biến thể trung gian (theo nghĩa, trung tâm) là loại DỤ NGÔN gần nhất với khái niệm “parabole” (vừa có nghĩa là đường “parabole”, vừa có nghĩa là văn bản “dụ ngôn”.- ND), tức là, việc mở rộng câu chuyện “giống như theo đường cong, bắt đầu và kết thúc ở cùng một đối tượng, nhưng đến phần giữa lại tách xa tưởng như tới một khách thể hoàn toàn khác”. Nói cách khác, bản thân truyện kể (theo kiểu xâu chuỗi) được tổ chức qua quan hệ tương liên và tương tác của hai bình diện đối lập với nhau. DỤ NGÔN của Đức Kitô về hạt cải thuộc loại như thế: câu chuyện bắt đầu bằng sự giống nhau giữa Xứ sở Thiên Đàng với hạt cải, tiếp theo là câu chuyện về hạt cải mà con người “đem ra gieo trên thửa ruộng của mình” lớn lên, nhưng vốn chỉ là một hạt giống, nó hóa thành một cái cây, và câu chuyện kết thúc bằng cảnh những con “chim trời” bay về trú ẩn trên cành của cái cây ấy. Rõ ràng, câu chuyện này là một chỉnh thể – hình tượng phúng dụ về mối liên hệ nội tại với Bầu Trời phát triển dần lên và về sự thấm nhuần của người có đức tin đối Xứ sở Thiên Đàng ngày một lớn thêm: của người lựa chọn đức tin và nuôi dưỡng nó trong tâm hồn mình. Chỉnh thể hữu cơ của một cấu trúc như thế, khoảng cách đều nhau giữa hai thái cực như đã được cắt nghĩa ở trên cắt nghĩa vì sao bất kì loại DỤ NGÔN nào cũng được các từ điển tra cứu ở phương Tây diễn giải như là parabol (ngụ ngôn). Số phận lịch sử của DỤ NGÔN (trong phạm vi văn hóa châu Âu) có thể chia thành hai giai đoạn. Trước thế kỉ XVIII, thể văn này hoạt động theo truyền thống – tất cả có ba biến thể, vừa hoạt dộng độc lập, vừa là bộ phận của văn thuyết giáo và văn giáo huấn. Bước ngoặt diễn ra ở thời đại Khai sáng, khi hiện thực lịch sử được nhận thức không chỉ như một hiện thực kinh nghiệm, mà còn như hiện thực có quy luật riêng (có thể biện giải bằng truyền thuyết và phong tục): do đó, xuất hiện xung đột gay gắp giữa hiện thực lịch sử và chuẩn mực đạo đức muôn thủa. Từ cơ sở thế giới quan phi truyền thống này (trên nền văn hóa Kitô giáo thời trung đại), dần dần hình thành hai nguyên tắc và hai con đường sử dụng DỤ NGÔN trong biến thể mở rộng của nó (nền tảng là truyện kể thử thách).

Thứ nhất, nó trở thành mô hình (mẫu gốc) được dùng, hoặc là để tạo ra các DỤ NGÔN mới, DỤ NGÔN có tác giả, nhất là trong sáng tác của L. Tolstoi thời kì cuối (ví như Ba dụ ngôn, Vua  Esarhaddon của Assyria), trong sáng tác của Franz Kafka (Cây cầu), hoặc là để tăng cường tính chất DỤ NGÔN cho các thể loại khác. Trong văn học Nga, mô hình DỤ NGÔN đã trở thành qui tắc thể loại của truyện vừa, quy tắc này hình thành ở thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX; trong truyền thống châu Âu, nó là cơ sở của truyện triết học (từ Voltaire qua Ghersen (Bác sĩ Kupov), Dostoievski (Giấc mơ của người lố bịch) và L. Tolstoi (Người ta sống bằng gì?) đến Chekhov và L. Andreiev, cũng như qua các Tiểu luận triết học của Balzac đến In the Penal colony của Kafka, Chúa ruồi của W. Golding) và tiểu thuyết – DỤ NGÔN (ở phương Tây, từ  Cha xứ Wakefield của Oliver Goldsmith đến Dịch hạch của А. Camus, ở Nga, trong sáng tác của Ghersen, Goncharov, Chernysevki và Sedrin). Xin nhấn mạnh, rằng trong những trường hợp như thế, tiểu thuyết xích lại gần truyện vừa.

Thứ hai, DỤ NGÔN trở thành một trong những thể loại lồng ghép hết sức phổ biến trong truyện vừa (Người con gái viên đại úy của Pushkin, Cây thập ácKarma của L. Tolstoi), trong tiểu thuyết (câu chuyện về Kif Mokievich và Moki Kifovich trong Những linh hồn chết của Gogol, về Cổng Luật trong Vụ án của Kafka), cũng như trong truyện ngắn (Sinh viên của Chekhov, Trẻ và Già của Bunhin), trong kịch (M. Gorki, Bertolt Brecht).

 Đôi khi cả hai tuyến nói trên giao cắt nhau: tác phẩm vừa có bản chất DỤ NGÔN, vừa có DỤ NGÔN truyền thống được lồng vào (Phục sinh của L. Tolstoi).

Người dịch: Lã Nguyên

NguồnПоэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 187-188.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: