LẠ HÓA

LẠ HÓA

Kh. Hiunter

là nguyên tắc thẩm mĩ, theo đó, cái quen thuộc được mô tả như cái xa lạ và kì quặc, cái đã thành tập quán được mô tả như cái ngỡ ngàng và đáng ngạc nhiên. Đây là thuật ngữ của V. Shklovski, người từng cho rằng, nghệ thuật có nhiệm vụ đưa sự vật ra ngoài sự thụ cảm tự động thường nhật và “mang lại cho sự vật cảm giác tựa như nó được nhìn thấy, chứ không phải như được nhận biết”. Trong bài Nghệ thuật như là thủ pháp (1916), V. Sklovski đã xác lập nguyên tắc trở thành đặc điểm nổi bất của tư duy nghệ thuật hiện đại. Các thủ pháp LẠ HÓA cố nhiên tồn tại trong văn học và nghệ thuật từ rất lâu trước đó, ở thời xa xưa. Có thể phân biệt một cách ước lệ hai xu hướng LẠ HÓA: theo kiểu Plato và kiểu Aristotle. Theo kiểu Plato, LẠ HÓA tập trung vào sự nhận thức “tư tưởng” được dấu kín bên dưới lớp bề mặt của các hiện tượng. Theo kiểu Aristotle, LẠ HÓA tập trung chú ý vào các thủ pháp giúp giải tự động hóa cái nhìn.

A.Schopenhauer, hoặc L. Tolstoi sử dụng phép LẠ HÓA theo hướng thứ nhất. Theo A. Schopenhauer, nghệ thuật cần xua tan lớp sương mù “phủ tấm màn” che mắt khiến ta không nhìn thấy hiện thực.  L. Tolstoi cho rằng, cần “bóc lớp vỏ bọc bên ngoài” để tìm thấy bản chất của các hiện tượng theo tinh thần phê phán. Trong một số công trình nghiên cứu, đặc biệt, trong là tiểu luận Nghệ thuật nhìn thấy thế giới (1928), A. Voronski đã phát triển tư tưởng này của L. Tolstoi.

Worringer, nhà nghệ thuật học từng viết về “khát vọng trừu tượng hóa” (Abstraktionsdrang), hoăc V. Kadinski, người từng viện dẫn tới cái nhìn thế giới trực tiếp của trẻ thơ, cái nhìn xa lạ với tư tưởng vụ lợi về sự vật, là những tác giả sử dụng phép LẠ HÓA theo xu hướng Aristotle.

Có thể xem Henri Bergson, người từng phê phán cái nhìn thực tiễn khiến hiện thực bị đơn giản hóa, là tiền bối trực tiếp của trường phái hình thức luận trong quan niệm về LẠ HÓA. Qua sự phân tích của Shklovski về thiên truyện Kholstomer có thể rút ra nhận xét, rằng phái hình thức luận hoàn toàn bỏ qua bình diện ngoài thẩm mĩ của LẠ HÓA. Khái niệm HIỆU ỨNG LẠ HÓA (Verfremdungseffekt или V-Effekt) của Bertolt Brecht có sự gặp gỡ rõ ràng với  thuật ngữ và quan niệm của nhà nghiên cứu người Nga. Nhưng khác với Shklovski,  Brecht gắn các yếu tố phê phán xã hội vào LẠ HÓA theo quan niệm của ông về kịch tự sự. Chẳng hạn, Brecht nói rằng, hai cách LẠ HÓA không tồn tại tách rời nhau.

Nguyên tắc LẠ HÓA bao trùm một khu vực rộng lớn các thủ pháp ở những cấp độ khác nhau của văn bản văn học. Nhiều khi các tác giả sử dụng “cái nhìn của người khác” – cái nhìn của trẻ nhỏ, của người mất trí, hoặc khách viễn du “không am hiểu” hiện thực. Cái nhìn lạ hóa của con ngựa trong Kholstomer được L. Tolstoi sử dụng với mục đích như vậy. Nhiều khi, trong văn học hiện đại chủ nghĩa, các thủ pháp LẠ HÓA được sử dụng trong tổ chức truyện kể. Chẳng hạn, Brecht tạo ra một loạt kĩ thuật chia tách cốt truyện bằng nghệ thuật lồng ghép và nhiều thủ pháp khác. Ở bình diện tu từ, LẠ HÓA được thực hiện bằng cách làm sai lệch phong cách nghệ thuật của một trường phái văn học nào đó, hoặc đi trệch khỏi các chuẩn mực của ngôn ngữ thường nhật, tức là bằng các thủ pháp làm “ngôn từ phục sinh” (Sklovski). 

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn:  Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 154.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: