TÂN TU TỪ HỌC

 TÂN TU TỪ HỌC

(Tiếng Anh: “Neorhetoric”, tiếng Đức: “Neorhetorik”, tiếng Pháp: “Néorhetoric”, tiếng Ý: “Neoretorica”, tiếng Ba Lan: “nowa retoryka”

Iu.V. Satin 

Là một trong những khuynh hướng quan trọng nhất của phân tích diễn ngôn hiện đại được hình thành vào nửa sau thế kỉ XX. Nền tảng của nó là các công trình nghiên cứu của Chaïm Perelman[1]: Triết học và tu từ học (1952), Tân tu từ học: luận về luận chứng (1958 – đồng tác giả với L. Olbreht Tyteka). Cơ sở làm nên TÂN TU TỪ HỌC là luận điểm của F. Nietzsche, theo đó “không thể có thứ “ngôn ngữ tự nhiên”, phi tu từ học mà người ta có thể sử dụng làm xuất phát điểm: ngôn ngữ tự nó là kết quả của các thủ pháp và sự ứng dụng tu từ học. Ngôn ngữ mang tính tu từ vì nó chỉ tìm cách truyền đạt doxa (quan niệm), chứ không phải episteme (chân lí)”.

Đặc điểm cơ bản của tu từ học là hiệu quả tác động trong giao tiếp (hiểu theo nghĩa thuyết phục), chứ không phải năng lực hùng biện. Nếu tu từ học cổ điển nhìn thấy con đường tiếp cận chân lí đầy lạc quan, thì TÂN TU TỪ HỌC xuất phất từ luận điểm của Protagoras[2], cho rằng bản thân chân lí do quan điểm của người nói, do thời gian và tình huống cụ thể quyết định. “Thời gian luôn thay đổi điều kiện bàn luận: nó gợi ra trật tự đẳng cấp của các khái niệm, kiến tạo lại chúng để chúng thích ứng với một tình huống cụ thể” (Chaïm Perelman). Theo quan điểm như thế, khác với lí thuyết của Aristotle, lập luận tu từ không thể tìm thấy ở những vị trí cố định (topos), mà  tùy từng trường hợp, nhà hùng biện sẽ tạo ra nó trong quá trình phát biểu và chuẩn bị diễn từ. Khi tạo ra lí lẽ, chúng ta không cầu viện ở thực tại đứng bên ngoài, mà cầu viện từ kho dự trữ ngôn ngữ và tư duy của chúng ta. TÂN TU TỪ HỌC phủ nhận mô hình ngôn ngữ phổ quát của Descartes bằng cách lấy lí lẽ “ad hominem”  (“hợp với con người”) thay cho lí lẽ “ad rem” (“hợp với bản chất”) : ngôn ngữ tạo ra bức tranh thế giới nhiều hơn là phản ánh nó, các ngôn ngữ khác nhau tạo ra những bức tranh thế giới khác nhau. Có thể tìm thấy sự khác nhau như thế trong các bức tranh thế giới của những người nói cùng một ngôn ngữ nhưng do sử dụng các mã diễn ngôn khác nhau nên trong quá trình giao tiếp họ không hiểu được nhau một cách đầy đủ. Đến lượt mình, sự thông hiểu thiếu đầy đủ sẽ biến thủ thuật được tạo ra bởi ý thức của người khác trở thành cái khả thể. Một trong những đối tượng nghiên cứu của TÂN TU TỪ HỌC là các dạng khác nhau của giao tiếp ngôn ngữ.

          Khái niệm trung tâm của TÂN TU TỪ HỌC là sự kiện giao tiếp (thuật ngữ của T. Van Dijk), nó khác với sự giao tiếp sự kiện. Nếu giao tiếp sự kiện là “đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất thông báo về sự kiện xẩy ra trong thực tế” (Svedelius), thì sự kiện giao tiếp là hệ thống các phương tiện tu từ có chức năng kiến tạo một sự kiện ảo, sự kiện có thể xẩy ra thay cho sự vắng mặt của các sự kiện thực tế. Sự kiện giao tiếp chỉ bù đắp phần nào cho tính phi sự kiện của văn hóa hiện đại. Các phương tiện giao tiếp đại chúng tạo ra vô số kiểu mẫu của các sự kiện giao tiếp – quảng cáo, trưng bầy sống (reality-show.- ND), văn học đại chúng… Ngôn ngữ được hiểu như là máy sản xuất các sự kiện giao tiếp cũng là mối quan tâm của TÂN TU TỪ HỌC.

          Tu từ học cổ điển quan tâm chủ yếu tới các phát ngôn độc thoại, TÂN TU TỪ HỌC tập trung chú ý vào loại đối thoại có thể hiện thực hóa mối quan hệ với NGƯỜI KHÁC, giống như quan hệ với “ANH” (Bakhtin, Buber, Rosenstock-Huessy…) và, cùng với thuật tranh biện (éristique.- ND) và ngụy biện (sophistique.- ND), loại đối thoại này đòi hỏi phải có thuật đối thoại (maïeutique.- ND).

          Khi phân loại các diễn ngôn tu từ, TÂN TU TỪ HỌC không chấp nhận cả kiểu phân loại của Aristotle dựa vào đối tượng lời nói (tư pháp, giáo huấn, tư vấn), lẫn cách phân loại sau này dựa vào phương thức lời nói (diễn ngôn ẩn dụ, hoán dụ…). Theo TÂN TU TỪ HỌC, cơ sở phân loại là nguyên tắc giả định mục đích: thay vì “cái gì” và “thế nào”, phát ngôn được tổ chức với hàm ý “vì sao?”. TÂN TU TỪ HỌC phân biệt ba loại diễn ngôn độc thoại: thông tin (truyền đạt tri thức), gợi cảm (thông báo chính kiến), tạo hình (kiến tạo quan điểm), cách phân chia này tương ứng với ba phần phê phán của Kant – lí trí thuần túy, lí trí thực tiễn, năng lực phán đoán. Cùng với diễn ngôn độc thoại là ba loại diễn ngôn đối thoại: Socrates (hòa hợp tu từ là mục đích của nó), tranh biện (mục đích là chiến thắng bằng mọi giá), ngụy biện (với mục đích làm cho kẻ phẩn biện lầm lẫn động cơ cá nhân và hành động sau đó).

          TÂN TU TỪ HỌC có mối liên hệ trực tiếp với văn hóa hậu hiện đại chủ nghĩa, nơi ““nói” có nghĩa là “tranh đấu” hiểu theo nghĩa là “chơi trò”; các hành vi ngôn ngữ phô bày sự đối chọi (đối kháng) phổ quát… Việc liên tục sáng tạo ra nhiều cách nói, các từ ngữ, ý nghĩa sẽ mang lại niềm vui khôn cùng, và ở cấp độ hoạt động lời nói, đó sẽ là cái làm ngôn ngữ phát triển. Tuy nhiên, bản thân niềm vui ấy không thể nằm ngoài cảm giác về sự thành công như là yêu cầu tối thiểu giành được từ đối phương, và niềm vui ấy tùy thuộc vào kích thước, vào ngôn ngữ được tiếp nhận, vào ý nghĩa liên hội” (J-F Lyotard).Ta hiểu vì sao TÂN TU TỪ HỌC đặc biệt quan tâm tới chủ nghĩa hậu hiện đại (trong đó có cả văn bản nghệ thuật) của Samuel Barclay Beckett, Jorge Luis Borges, Robert Musil, Venhedict Erofeev, Victor Pelevin, Sasha Sokolov, Vladimir Sorokin…

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 142-143.

[1] Chaïm Perelman (1912-1984)- Nhà khoa học Bỉ, nhà triết học, logic học, Giáo sư, Tiến sĩ Luật (1934), tiến sĩ triết học và toán học (1938).- ND.

[2] Protagoras (490-420 tr.CN) – Nhà triết học cổ đại Hy Lạp, một trong những đại diện xuất sắc nhất của triết học ngụy biện.-ND.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: