MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU CÓ TRIỂN VỌNG (VỀ CHUYÊN LUẬN “THI PHÁP THƠ TỐ HỮU” CỦA TRẦN ĐÌNH SỬ)

MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU CÓ TRIỂN VỌNG

(VỀ CHUYÊN LUẬN THI PHÁP THƠ TỐ HỮU[1] CỦA TRẦN ĐÌNH SỬ)

Lã Nguyên

LỜI DẪN: Năm 1987, GS Trần Đình Sử xuất bản “Thi pháp thơ Tố Hữu”. Mình là người đầu tiên viết bài phê bình về cuốn sách này. Bài viết in trên “Tạp chí văn học”, Số 3, tháng 5 &6, năm 1989.  Thời ấy, cả nước nhai bo bo, “Tạp chí văn học” chỉ ra 6 số/năm, in bằng giấy cực xấu. Bản thảo, mình viết tay (đã làm gì có máy vi tính!), đưa ra đầu phố đánh máy, lấy 5 bản, nộp Tạp chí 2 bản, mình giữ 3 bản, lâu ngày bị mối xông, không còn nữa. Ngoảnh đi ngoảnh lại, thế mà đã  26 năm, một phần tư thế kỉ, GS Trần Đình Sử và mình thành hai ông già hưu trí rồi. Đọc lại bài viết, thấy văn vẻ của mình hồi ấy non nớt, nhưng vẫn nói được vài điều đắc ý. Điểm đắc ý thứ nhất là luận điểm nói về cuốn sách của GS Trần Đình Sử. Bài viết khẳng định, ở Việt Nam, Trần Đình Sử là người đầu tiên tiếp cận vấn đề hình thức nghệ thuật từ quan điểm hiện đại. Cho nên nay, nhiều người, thậm chí có không ít giáo sư đầu ngành vẫn đồng nhất hình thức nghệ thuật với các thủ pháp từ chương, nó chỉ là cái vỏ bề ngoài chuyên chở nội dung giống như “bình” với “rượu”. Trần Đình Sử đưa ra khái niệm “hình thức quan niệm”. “Hình thức quan niệm” là hình thức của tư tưởng hệ, là ngôn ngữ kiến tạo bức tranh thế giới. Khái niệm này gần với khái niệm “hình thức thế giới quan” M. Bakhtin và Gachev. Với ý nghĩa như thế, ở Việt Nam, Trần Đình Sử là người đầu tiên đặt nền tảng cho hướng “thi pháp học nội dung”. Điểm tâm đắc thứ hai là luận điểm nói về thơ Tố Hữu. Hồi ấy mình cho rằng, Tố Hữu càng đi về phía trước với thời gian, tư duy thơ của ông càng quay ngược về quá khứ: “Việt Bắc” về với kiểu ca dao, dân ca, “Gió lộng”, “Ra trận” về với truyền thống thơ nói chí, tỏ lòng của văn học trung đại. Với ý nghĩa như thế, trong tương lai, thơ Tố Hữu chắc chắn không thể bảo toàn được giá trị thẩm mĩ. Cái ý về thơ Tố Hữu mình nung nấu hơn hai chục năm, mãi tới gần đây, mới viết được thành tiểu luận “Thơ Tố Hữu – Kho “kí ức thể loại của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Vì có vài điểm đắc ý như thế, nên mình bỏ cả một buổi sáng đánh máy lại (cuốn tạp chí in giấy xấu, sắp mủn rồi), đưa lên blog, nhờ nhà mạng giữ hộ làm kỉ niệm.

LN

Sau hàng loạt công trình phê bình, giới thiệu của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, sau các chuyên luận và bài nghiên cứu của Lê Đình Kị, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức… dành cho sáng tác thơ của Tố Hữu, không ít người có cảm giác, thật khó có thể nói thêm điều gì mới mẻ về lá cờ đầu của nền thi ca hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cảm giác ấy hoàn toàn có cơ sở. Trần Đình Sử đã chứng minh đầy thuyết phục: thơ Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam. Chúng ta đều biết, thơ trữ tình chính trị có đặc điểm chung là tính đơn nghĩa. Một khi cái nghĩa ấy đã được người đi trước khấm phá, phát hiện, thì người đi sau khó bề thi thố tài năng. Chắc chắn Trần Đình Sử đã lường trước được khó khăn ấy khi chọn thơ Tố Hữu làm đối tượng nghiên cứu. Cho nên, để có thể đưa ra những kết luận mới mẻ, ông đã phải mở ra một hướng đi mới.

Quả là Thơ Tố Hữu đã được phân tích, đánh giá kĩ lưỡng ở nhiều cấp độ khác nhau trên cả hai mặt nội dung và hình thức. Nhưng nghiên cứu tác phẩm của nhà thơ từ góc độ tiếp cận của thi pháp học thì cho đến nay vẫn còn là mảnh đất trống. Từ góc độ mới mẻ này, Trần Đình Sử đã đặt ra và giải quyết hàng loạt vấn đề mà trước nay nghiên cứu văn học ít quan tâm. Đó là những vấn đề như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian và thời gian nghệ thuật, chất thơ và phương thức thể hiện. Thể tài trong sáng tác của nhà thơ cũng được nhìn nhận theo một tinh thần mới. Việc khẳng định giá trị thẩm mĩ của thơ Tố Hữu như đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam là kết luận có ý nghĩa mạnh bạo đối với tư duy lí luận. Rõ ràng, từ góc độ thi pháp học, Trần Đình Sử đã mở rộng phạm vi nhận thức của nghiên cứu văn học trước sáng tác nghệ thuật, qua đó ông mang đến cho khoa học văn học một tiếng nói mới mẻ.

Dĩ nhiên, thành công của Trần Đình Sử không phải ở chỗ ông biết chọn cái người khác chưa nói để nói. Điều cốt yếu là ông đã biết xuất phát từ một quan niệm mới về bản chất và đặc trưng của văn học, của sáng tạo nghệ thuật để xác định chính xác đối tượng, chức năng của thi pháp học. Quan trọng hơn, trong quá trình tiếp cận sáng tác của một tác giả từ góc độ thi pháp học, ông đã đứng vững trên lập trường lịch sử quan. Mọi kiến giải độc đáo của Trần Đình Sử đều bắt nguồn từ đó.

Trần Đình Sử cho rằng, “nhiệm vụ của thi pháp học chính là nghiên cứu cái lí của hình thức nghệ thuật” (tr. 13). Thông thường, người ta vẫn chia thi pháp học làm hai nhánh cơ bản: thi pháp học lí thuyết, hay còn gọi là thi pháp học chức năngthi pháp học lịch sử. Thi pháp học lí thuyết tập trung vào tìm hiểu các nguyên tắc, phương thức tổ chức hình thức, các phương tiện, thủ pháp, thao tác xây dựng hình tượng, cấu trúc tác phẩm. Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự phát triển lịch sử của các phương thức, phương tiện ấy. Qua đó đủ thấy, thi pháp học xưa nay phần nhiều vẫn giải thích “cái lí của hình thức” như những qui luật tự thân, tách rời và nằm bên ngoài mối quan hệ với nội dung nghệ thuật. Trong quan niệm của Trần Đình Sử, cái lí của hình thức không đơn giản chỉ là nguyên tắc tổ chức hình thức, càng không phải là thao tác tổ chức chất liệu vật chất của văn học, mà là bản chất của sự thống nhất giữa nội dung và hình thức. Thi pháp học có nhiệm vụ khám phá, phát hiện cái bản chất của sự thống nhất ấy trong mỗi đơn vị nghệ thuật.

Thực ra, xưa nay, tất cả các nhà mĩ học có quan điểm biện chứng đều khẳng định nguyên lí về sự thống nhất giữa nội dung và hình thứ văn học. Song không phải lúc nào và bất kì ai cũng xác định được bản chất của sự thống nhất ấy. Trong quan niệm thông thường, khi phân tích tác phẩm, người ta vẫn xếp đề tài, chủ đề, chủ đề tư tưởng thuộc phạm trù nội dung, còn các phương thức và phương tiện thể hiện như thể loại, kết cấu, ngôn ngữ… thuộc hình thức. Cách phân chia ấy chỉ thuận tiện cho việc mô tả đối tượng – mà ở đây là tác phẩm dưới dạng văn bản tĩnh tại, chứ không thể cung cấp cơ sở vững chắc để xem xét các đơn vị nghệ thuật trong sự thống nhất toàn vẹn giữa hình thức và nội dung. Đặc biệt, nó tỏ ra bất lực hoàn toàn khi phải nghiên cứu tác giả, tác phẩm văn học trên trục phát triển của nghệ thuật. Trong cách phân chía nói trên, nội dung và hình thức được quan niệm như hai phạm trù nằm ngoài nhau, không thể chi phối, qui định, chuyển hóa lẫn nhau, giống hệt như bình với rượu. Cho nên, đừng lấy làm lạ là tại sao rất nhiều người lớn tiếng tuyên bố về quan điểm lịch sử – cụ thể, quan điểm biện chứng tỏ vẻ là người có lập trường, song khi phân tích nội dung tác phẩm, họ lập tức trở thành những nhà xã hội học dung tục, còn khi phân tích hình thức họ lại là những nhà hình thức chủ nghĩa cũng dung tục không kém.

Vậy là muốn khám phá bản chất thống nhất giữa nội dung và hình thức trong các đơn vị nghệ thuật, tất yếu phải nhìn nhận hai phạm trù ấy như những phạm trù có khả năng chuyển hóa lẫn nhau. Cái khó ở đây là phải tìm ra một đơn vị logic làm cơ sở và điểm xuất phát của cả hệ thống khoa học, sao cho có thể thông qua đó, khi nói tới nội dung thì nội dung đã bao hàm hình thức, còn khi nói tới hình thức thì đó đã là hình thức mang tính nội dung. Về phương diện lí luận, đóng góp quan trọng nhất của Trần Đình Sử chính là ở chỗ này.

Trần Đình Sử đề xuất ý kiến phân biệt hai bình diện hình thức: hình thức cảm tính hình thức quan niệm. Ông cho rằng, chỉ có “hình thức quan niệm” mới là hiện thân của một kiểu tư duy nghệ thuật, một kiểu quan hệ nhất định giữa chủ thể và khách thể phản ánh. “Hình thức quan niệm” là hình thức, nhưng cơ sở của nó là loại hình nội dung (chứ không phải là nội dung cụ thể), Nó là hiện thân của quan niệm nghệ thuật về con người và về thế giới. Với ý nghĩa ấy, “hình thức quan niệm” là một dạng, một trạng thái tồn tại và phát triển của nội dung. Nói cách khác, “hình thức quan niệm” cũng chính là nội dung. Trần Đình Sử đã nghiên cứu qui luật tổ chức bên trong của thơ Tố Hữu thông qua phạm trù “hình thức quan niệm” với nội hàm như vậy. Cho nên, đừng vì thấy trong quá trình phân tích sáng tác của nhà thơ, Trần Đình Sử xem xét đơn vị hình thức, mà vội cho rằng, ông không quan tâm tới nội dung. Rõ ràng, tất cả những gì ông nói về thế giới nghệ thuật của Tố Hữu, từ kiểu nhà thơ, thể tài, đến giọng điệu … đều vừa là câu chuyện nội dung, vừa là câu chuyện hình thức.

Lấy “hình thức quan niệm” làm điểm xuất phát, Trần Đình Sử chẳng những lí giải một cách thuyết phục cái lí của hình thức trong thơ Tố Hữu, mà còn đánh giá, xác định đúng đắn vai trò, vị trí sáng tác của ông đối với tiến trình văn học Việt Nam, nói chung và thơ ca, nói riêng.

Trước Trần Đình Sử, hầu như không còn tập thơ, bài thơ có giá trị nào của Tố Hữu mà chưa được bàn đến, không có hình tượng thơ, hay câu thơ hay nào của ông mà không được phát hiện. Song do ảnh hưởng của những nguyên tác phương pháp luận thuộc lối phê bình kiểu cổ và lối nghiên cứu văn học truyền thống, nhiều công trình, bài viết thường dừng lại ở việc mô tả các loại hình tượng, phân tích các loại đề tài, chủ đề, hoặc tập trung phát hiện ý sâu, lời đắt. Cái hay và bản sắc độc đáo của thơ Tố Hữu được cắt nghĩa như cái hay muôn thủa của văn chương. Thế giới nghệ thuật của ông bị đập vụn, tháo rời ra từng mảng. Những phát hiện của các nhà nghiên cứu thành ra như lơ lửng, không ăn nhập vào một hệ thống nào cả. Nhiều người tập trung phân tích sự phát triển của hồn thơ Tố Hữu qua các tập thơ của ông, nhưng khi phải xác định bản chất của sự phát triển ấy là ở đâu, người ta thường đưa ra những câu trả lời thuộc loại ít xác định nhất, tỉ như Việt Bắc “chín” hơn Từ ấy, Gió lộng “chín” hơn Việt Bắc… Trong chuyên luận của Trần Đình Sử, mọi đơn vị nghệ thuật, từ đơn vị vĩ mô như tác phẩm, thể tài, đến đơn vị vi mô như nhịp điệu, câu, chữ đều được qui về một kiểu tư duy nghệ thuật, một kiểu quan hệ giữa chủ thế và khách thể phản ánh, giữa nhà thơ và các phương thức, phương tiện biểu hiện. Còn logic phát triển của hình thức thơ trong sáng tác của Tố Hữu được lí giải thông qua sự vận động của các loại hình nội dung, – từ các thể tài đời tư, thế sự đến thể tài dân tộc – lịch sử, – và sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người, về xã hội và về thế giới của bản thân tác giả.  Nhờ thế, qua chuyên luận này, người đọc tiếp nhận được một cái nhìn bao quát về toàn bộ sáng tác của Tố Hữu như một chỉnh thể nghệ thuật không ngừng vận động trong sự thống nhất toàn vẹn của nó.

Vấn đề vị trí thơ Tố Hữu đối với tiến trình phát triển của văn học Việt Nam cũng đã được đặt ra từ lâu. Nhưng nhìn chung, giới nghiên cứu, phê bình mới chỉ mô tả sự giống nhau hoặc sự khác nhau, sự thay đổi hay trùng lặp thuần túy mang tính chất số lượng giữa sáng tác của nhà thơ này và các hiện tượng nghệ thuật khác. Chẳng hạn, chỗ này thơ Tố Hữu đặt ra vấn đề mới, chỗ kia ông tiếp tục những đề tài truyền thống, chỗ này có hơi ca dao, còn chỗ kia câu thơ bảy chữ bị tháo rời, mang dáng dấp của Thơ Mới. Bản chất của sự cách tân, cốt lõi của nhân tố truyền thống trong thơ Tố Hữu vì thế vẫn chưa được phát hiện.

Cái khó trong việc nghiên cứu tiến trình của văn học để xác định trình độ cách tân, bản sắc độc đáo của một hiện tượng văn học nghệ thuật là phải chỉ ra được đâu là chủ thể của sự phát triển ấy. Là hiện tượng xã hội đặc thù, văn học có những qui luật phát triển đặc thù do chủ thể vận động của nó qui định. Nghiên cứu văn học của chúng ta lâu nay thường vẫn dựa vào sự vận động của thế giới quan và hệ tư tưởng để lí giải sự vận động của nghệ thuật. Tuy giữ vai trò vô cùng quan trọng đối vsáng tạo nghệ thuật, nhưng các nhân tố ấy tuyệt nhiên không phải là chủ thể phát triển của văn học, bản thân chúng không thể mang lại cho văn học khả năng tự vận động. Dựa vào đấy để đánh giá tiến bộ nghệ thuật chẳng khác nào lấy độ bền và chiều dài của dây diều để xác định sức bay của cánh diều! Chủ thể phát triển của văn học bao giờ cũng chỉ có thể là ý thức nghệ thuật của thời đại được thể hiện tập trung nhất, cao độ nhất trong sáng tác văn chương. Bàn về sự phát triển của văn học phải nhắm thẳng vào đấy.

Lấy hình thức quan niệm, loại hình nội dung của thể tài văn học và quan niệm nghệ thuật về con người làm xuất phát điểm, thực chất Trần Đình Sử đã dựa vào sự phát triển của ý thức nghệ thuật để xem xét vấn đề truyền thống và cách tân trong sáng tác của Tố Hữu. Không phải ngẫu nhiên, để nghiên cứu thi pháp thơ Tố Hữu, ông đã đặt sáng tác của nhà thơ vào thời điểm thơ Việt Nam đang chuyển mình từ hình thức cổ điển sang hình thức hiện đại. Thơ Tố Hữu trước hết là thơ hiện đại. Tố Hữu đã sáng tạo ra một hình thức thơ kiểu mới cho thi ca Việt Nam: mới từ kiểu nhà thơ, kiểu quan hệ giữa chủ thể và khách thể, cho tới giọng điệu thơ ca. Bản chất của sự cách tân trong thơ Tố Hữu là ở đấy. Thơ hiện đại của Tố Hữu rất đậm đà bản sắc dân tộc. Cốt lõi của tính dân tộc trong thơ ông được thể hiện trước hết ở sự kế thừa và phát triển những hình thức khái quát đời sống bằng một nghệ thuật đã thành truyền thống, gắn với một kiểu tư duy, một cách nhìn thế giới rất riêng của dân tộc ta.

Có thể kể thêm nhiều ưu điểm của cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu. Mặt khác, ở đây cũng có nhiều vấn đề cần được tiếp tục bàn bạc, xem xét. Chẳng hạn nhấn mạnh sự khác nhau giữa các giai đoạn sáng tác qua các tập thơ của Tố Hữu như chuyên luận đã làm là cần thiết, nhưng có lẽ cũng cần chỉ ra mối quan hệ kế thừa giữa các giai đoạn ấy. Vấn đề kiểu nhà thơ cần được xem xét cụ thể, tỉ mỉ hơn. Vì nói Tố Hữu đã tạo ra trong sáng tác của mình một “kiểu nhà thơ kiểu mới”, thiết nghĩ, chỉ đúng đối với Từ ấy. Qua Việt Bắc, kiểu nhà thơ dân ca, ca dao lấn át kiểu nhà thơ kiểu mới kia. Đến Gió lộng, nhất là từ Ra trận, thì kiểu nhà thơ cổ điển lại lấn át tất cả. Tố Hữu là người đặt nền móng và là lá cờ đầu của nền thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ở nhiều nước, xung quanh và theo sau những nhà văn, nhà thơ như thế thường hình thành một trường phái hay một khuynh hướng sáng tác. Ở Việt Nam, liệu có phải do Tố Hữu càng về sau càng có khuynh hướng quay ngược trở lại với kiểu nhà thơ cổ điển trong thơ ca nói chí, tỏ lòng xưa kia nên không thấy xuất hiện trường phái, hay khuynh hướng thơ Tố Hữu trong sáng tác của một loạt nhà thơ đó chăng? Lại nữa: Trần Đình Sử đã đứng vững trên quan điểm lịch sử để xem xét thơ Tố Hữu đối với tiến trình văn học Việt nam. Nhưng lịch sử không ngừng vận động. Tố Hữu là người mở đầu, đồng thời cũng là người khép lại cả một thời đại văn chương nghiêng về phía tụng ca. Đó cũng là thời đại văn chương của ý thức độc thoại khi mà chất sử thi lấn át chất đời thường, ý thức cá nhân bị hòa tan vào ý thức cộng đồng và không thể vượt ra ngoài những quan điểm chính thống, những chuẩn mực qui phạm. Chiến tranh chấm dứt đã từ lâu, nay cơ chế quan liêu – bao cấp đã bị xóa bỏ, con người vì thế phải đối diện với cái thường ngày và ý thức cá nhân đang có điều kiện nẩy nở. Một thời đại văn chương mới tất yếu sẽ được mở ra. Cho nên, vấn đề vị trí của thơ tố Hữu đối với tiến trình văn học Việt Nam chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng và có sức thuyết phục nếu Trần Đình Sử biết kết hợp biện chứng quan điểm lịch sử và quan điểm thực tiễn. Nghĩa là cần phải nghiên cứu cả khả năng bảo tồn của các giá trị thẩm mĩ trong thơ Tố Hữu trước những nhu cầu ngày càng đổi mới của đời sống tinh thần xã hội và sự trưởng thành không ngừng của ý thức nghệ thuật trong văn học hôm nay.

Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử là một công trình khoa học có tính cách tân, thực sự tạo ra một bước ngoặt trong ngành ngữ văn học Việt Nam. Không có gì là quá đáng nếu nói rằng, chuyên luận này, với việc đưa ra hàng loạt khái niệm, phạm trù công cụ như hình thức quan niệm, quan niệm nghệ thuật về con người…, đã góp phần hoàn thiện, nâng lên đỉnh cao mới một hướng thi pháp học hiện đại do ngành nghiên cứu văn học Nga gợi ý. Có thể gọi đó là thi pháp học nội dung, do nó lấy loại hình nội dung làm nền tảng để lí giải qui luật vận động của mọi hiện tượng nghệ thuật trong tiến trình văn học. Tôi cho rằng, đây là một trong những hướng thi pháp học hiện đại có nhiều triển vọng nhất, bởi nó mở ra khả năng giải quyết hàng loạt vấn đề mà mĩ học nhiều thế kỉ đặt ra, nhưng chưa có câu trả lời thỏa đáng. Dĩ nhiên, nếu không có một trí tuệ sắc sảo, một tình yêu và ý thức trách nhiệm cao trước những giá trị tinh thần của dân tộc, chắc đâu cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu đã ra mắt bạn đọc! 

Nguồn: Tạp chí văn học, số 3 (tháng 5 + 6), 1989, tr. 74 – 78.

[1] Trần Đính Sử – Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, H., 1987. Các trích dẫn tiếp theo rút từ cuốn sách này sẽ ghi chú ngay sau đoạn trích dẫn bằng cách ghi số trang và để trong dấu ngoặc đơn.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: