HUYỀN THOẠI ĐEN

HUYỀN THOẠI ĐEN

   S.G. Kara-Murza

Loại huyền thoại này được duy trì trong ý thức xã hội (thường có qui mô quốc tế) để cần thiết, đến một lúc nào đó, chúng sẽ được làm sống dậy và đề ra cả một loạt thao tác cấp tốc của ý thức.

Những huyền thoại đen tầm cỡ trong lịch sử thường do các trí thức và nghệ sĩ có uy tín tạo ra, lại được các giới cầm quyền tìm mọi cách cổ xúy để bảo vệ bá quyền văn hóa của họ.  Chúng biện minh cho sự đoạn tuyệt với quá  khứ, nhằm xác lập trật tự hiện hành. Nếu lại được các bộ óc ngoại quốc có uy tín tán thưởng, những huyền thoại như thế sẽ có ý nghĩa rất tệ hại, tồn tại lâu dài, chúng sinh ra các huyền thoại nhánh và huyền thoại phổ quát.

Chẳng hạn, với nước Nga thời hiện đại và trong quan hệ với châu Âu, huyền thoại đen về Ivan Hung bạo (trong một số công trình, V.V. Kozinov đã phân tích rất hay) có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong giới trí thức của Nga và ở phương Tây, từ huyền thoại ấy, người ta thường rút ra nhận xét cho rằng, loại độc tài tàn bạo, sắt máu là đặc tính nằm trong “gien” của nước Nga. Chả thế mà cố vấn của Elsin, giáo sư A.I. Rakitov đã liệt kê cả một loạt “chuẩn mực và khuôn mẫu đặc biệt có trong nền tảng ở nền văn minh Nga”. Ở đây, thuộc tính quốc gia của Nga được gắn với cả một chuỗi phẩm chất tiêu cực: “dối trá, vu khống, phạm tội v.v… được biện minh và xem là có đạo đức, nếu chúng phục vụ cho các nhiệm vụ tối thượng của nhà nước, tức là củng cố  sự hùng cường của quốc phòng và việc mở rộng lãnh thổ”.

Ivan Hung bạo được hiểu và được nhấn mạnh, rằng, sự tàn bạo có tính bệnh lí của ông không phải là nhược điểm, mà là phẩm chất nội tại thuộc về nước Nga: “Chúng ta không nên nói về sự vắng mặt của văn minh, về sự bất công, không nên nói về sự vắng mặt của công lý, về sự phi pháp của cỗ máy trấn áp của các thời đại Ivan Hung bạo, Peter Đại đế, Nicholas I và Stalin, mà phải nói rằng pháp luật tự nó mang tính trấn áp, hiến pháp mang tính phản nhân đạo, rằng các quy tắc, tiêu chuẩn, luật lệ, chuẩn mực hoạt động hoàn toàn khác với những thứ tương tự như thế ở các nền văn minh châu Âu hiện đại khác”. Ở đây, có một mệnh đề tư tưởng được xác quyết: Nga là một nền văn minh mà mặt xấu xa nhất bao giờ giờ cũng nổi trội hơn các quốc gia châu Âu hiện đại – so với châu Âu, nước Nga Ivan Hung bạo tựa như nước ăn thịt người, ở đó máu chảy ra sông. Đó là một tín niệm, một biểu tượng của đức tin, không một chứng lí nào có thể làm nó suy suyển, vì nó đã cắm rễ sâu vào huyền thoại.

Trong thực tế, chuẩn mực Nga thời ấy khác biệt với chuẩn mực châu Âu về mặt nào? Sau 37 năm Iavan Hung bạo cầm quyền, có quãng 3 đến 4 nghìn người bị treo cổ, ít hơn rất nhiều so với mỗi một đêm trong lễ Thánh Bartholomew ở Paris (đêm 24.8.1572, gần 30 nghìn người bị thảm sát theo lệnh vua của những người theo phái tân giáo Calvin – ND). Cũng vào thời này, ở Hà Lan, có tới 100 nghìn người bị treo cổ. Ai cũng biết điều đó, nhưng khi đã tin vào huyền thoại người ta không thể xóa bỏ niềm tin giống như một tình cảm tôn giáo rằng từ trong nguồn cội, Nga là “đế chế tội ác”.

Những nỗ lực của Đảng Tự do Tây Ban Nha gia nhập lực lượng chiến đấu chống lại Liên minh của chế độ quân chủ và Giáo hội và những người Tin lành chống lại đạo Kitô cũng được nối kết với nhau trong việc tạo ra những huyền thoại đen về Toà án dị giáo theo kiểu tương tự như vậy. Về sau, huyền thoại này đã trở thành một phương tiện quan trọng dùng để trấn áp dư luận xã hội trong các cuộc đối đầu địa -chính trị giữa Anh và Hoa Kỳ chống lại thế giới nói tiếng Tây Ban Nha. Ngày nay, ở Tây Ban Nha, huyền thoại này là dấu hiệu về sự trung thực không thể thiếu của người trí thức trong thái độ với dân chủ và sự đoạn tuyệt hoàn toàn của mình với “chủ nghĩa thủ cựu” phản động (chế độ chính trị Franco, chủ nghĩa tăng lữ v.v…).

Huyền thoại về Tòa án dị giao cũng gắn chặt với huyền thoại của phương Tây hiện đại về Cuộc cải cách của đạo Tin Lành – cuộc Cải cách đã sinh ra khoa họcchủ nghĩa tư bản như là hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau. Bởi vậy, sự xuất hiện của một loại hình bóc lột mới (mà về nhiều mặt, nghiệt ngã hơn chủ nghĩa phong kiến) tựa như được bổ chính bằng món quà tuyệt vời của tư duy duy lí và tri thức tự do. Quan niệm về một nền “khoa học Tin lành” chính thức được nhà xã hội học có uy tín người Mĩ là Robert King Merton hoàn thiện từ những năm 30 của thế kỉ XX.

 Sau này, luận điểm cho rằng khoa học phát triển rực rỡ ở Bắc Âu vì ở đó không có Tòa án dị giáo đã đi vào lịch sử khoa học như một sự hiển nhiên. Ngược lại, phong trào Phản cải cách và Tòa án dị giáo ở Nam Âu bóp nghẹt tinh thần khoa học. Theo lịch sử chính thống của Anglo-Saxon, thế lực ngự trị ở đây không phải là ý thức duy lí, mà là tình cảm, là mê tín dị đoan và tôn giáo thủ cựu.

Ta hiểu vì sao việc khám phá bước quá độ chuyển từ kiểu tư duy thời Phục hưng, một kiểu tư duy hình dung thế giới đầy những phù thủy, ma quỉ và ma thuật, đã diễn ra ở đâu, lúc nào và như thế nào, lại có ý nghĩa quan trọng đến thế để hiểu chính xác quá trình hình thành xã hội hiện đại với tư duy thế tục, duy lí. Cột mốc đánh dấu thời Khai sáng, thời đại của  Descartes là ở đâu?

Trước khi cái chết, Henry Charles Lee (1825-1909), sử gia Tin Lành người Mĩ đã giáng một cú chí mạng vào huyền thoại ý thức hệ về Tòa án dị giáo, dù chính ông đã đổ rất nhiều công sức góp phần tạo ra huyền thoại ấy. Ông trở thành một học giả có uy tín nhờ viết cuốn sách Lịch sử Tòa án dị giáo thời Trung đại (1877). Trong vòng hai năm 1906 – 1907, ông in bộ sách bốn tập Lịch sử Tòa án dị giáo ở Tây Ban Nha. Trong Lời tựa bộ sách này, Henry Charles Lee nói là ông không có ý định chỉ ra nghi lễ autodafé khủng khiếp (lễ hành hình hỏa thiêu của tòa án giáo hội – ND) đã thiêu sống các nhân vật nổi tiếng như thế nào, mà chỉ muốn chỉ ra cái công việc bí mật, diễn ra liên tục hàng ngày của Tòa án dị giáo kia đã “tác động tới toàn bộ quần chúng nhân dân mạnh mẽ như thế nào, chỉ ra cái khung mà nó đã xua đuổi trí tuệ của những người Tây Ban Nha vào đó, chỉ ra chủ nghĩa thủ cựu ngu xuẩn đã giam giữ cả một dân tộc trong sự hủ lậu thời trung cổ, không để cho dân tộc được tự do suy nghĩ theo tinh thần duy lí”.

Lại nữa, sau khi công trình chính yếu Henry Charles Lee ra đời, ông còn tìm thấy nhiều tư liệu làm đổi hẳn quan điểm của ông. Đó là các biên bản của phiên tòa năm 1610 ở thành phố Logroño. Tại đây, quan tòa Alonso de Salazar, một tu sĩ dòng Tên, người từng nhận bằng luật sư của Đại học Salamanca, đã chứng minh đầy thuyết phục, rằng hoàn toàn không có ma quỉ và phù thủy.  Ông đã chứng minh điều ấy theo các chuẩn mực nghiêm nhặt của phương pháp khoa học thực chứng đã có được vào thời ấy. Tổng giám mục Toledo, đại pháp quan Bernardo de Sandoval, và sau đó Hội đồng tối cao Tòa án dị giáo đã ủng hộ Salazar.

 Quyết định nói trên làm thay đổi hoàn toàn không khí trí tuệ ở các nước theo đạo Kitô, và sau đó làm thay đổi trạng thái xã hội nói chung – chẳng phải hầu hết nạn nhân của Tòa án dị giáo đều là “thầy đồng và phù thủy” đó sao! Kết cục là, ngay ở các nước Kitô giáo, theo quyết định của Tòa án dị giáo, những cuộc “săn lùng phù thủy” hoàn toàn chấm dứt – nó chấm dứt sớm hơn hàng trăm năm so với những khu vực châu Âu, nơi mà Phong trào Cải cách đã giành thắng lợi.

Sau những sự kiện trên, Henry Charles Lee nhìn tư liệu lịch sử bằng đôi mắt khác. Hóa ra ở Bắc Âu, những chiến sĩ nổi tiếng từng đấu tranh cho tư duy duy lí (ví như Descartes) chỉ là những nhà bất đồng chính kiến hiếm hoi, đa số trí thức lớn, có tên tuổi cho mãi đến thế kỉ XVIII vẫn còn tin là có ma quỉ và phù thủy. Và đã có hàng ngàn tên “phù thủy” đã phải bước lên giàn hỏa thiêu trong thời đại cách mạng khoa học (ngay ở Mĩ, cho đến thến kỉ XVIII vẫn còn thiêu người, mà các quan tòa là mấy vị Giáo sư Đại học Harvard).

 Phải là học giả trung thực, mạnh mẽ và quả cảm như thế nào, ngay trước khi chết,  Henry Charles Lee mới tuyên bố: “Trong lịch sử châu Âu không có trang nào khủng khiếp thơn so với  cơn điên rồ săn lùng phù thủy suốt ba thế kỷ, từ thế kỉ XV cho đến tận thế kỉ XVIII. Vụ nổ của chứng loạn óc lây lan này đe dọa Tây Ban Nha suốt hàng trăm năm. Việc nó bị chặn lại và được giảm thiểu mới mức trở thành vô hại nói lên thái độ thận trọng và sự tỉnh táo của Tòa án dị giáo. Tôi muốn nhấn mạnh tới sự tương phản giữa nỗi kinh hoàng thống trị các nước Đức, Pháp, Anh và lòng khoan dung ngược lại của Tòa án dị giáo”.

Henry Charles Lee đã bắt ta khởi thảo một công trình vô cùng lớn lao, ông lùng sục vào kho lưu trữ của tất cả các nước Kitô giáo để mô tả bằng tư liệu những cuộc săn lùng phù thủy. Các môn đệ của ông đã hoàn thành công trình này. Nhà lịch sử hiện đại F. Donovan viết: “Nếu chúng ta dùng dấu chấm để đánh dấu trên bản đồ từng trường hợp đã được xác định về các vụ thiêu sống phù thủy, thì nơi tập trung các điểm như thế nhiều nhất là ở khu vực nằm trong đường biên của các nước Pháp, Đức và Thụy Sĩ. Có chi chit những điểm như vậy phủ kín Basel, Lyon, Geneva, Nuremberg và những thành phố lân cận.  Vô số những điểm như thế tạo thành mảng đốm đen dày đặc ở Thụy sĩ, kéo từ sông Rhine đến Amsterdam, cũng như miền Nam nước Pháp, bắn loe cả sang Anh, Scotland và các nước vùng Scandinavia. Cần chỉ ra, rằng, chí ít trong vòng một trăm năm gần đây, những cuộc săn lùng phù thủy, những vùng tập trung nhiều nhất các điểm được đánh dấu là các trung tâm của đạo Tin lành. Ở những nước theo đạo Kitô toàn tòng – Ý, Tây Ban Nha, Irlande có rất ít những điểm như thế; thực tế, ở Ý chỉ có mỗi một điểm”.

Các nhà sử học dám rời bỏ tín niệm của huyền thoại đen về Tòa án dị giáo sẽ lập tức có thể khắc phục được mâu thuẫn mà trước kia tưởng như không lí giải được: xác quyết cho rằng Phong trào Cải cách  đã giải phóng tư duy không thể nào khớp với thực tế là những nhà hoạt động nổi tiếng của đạo Tin lành ( Martin Luther, Jean Calvin, Baxter) là những kẻ khủng bố phù thủy cuồng tín nhất. Martin Luther lúc nào cũng yêu cầu xác định phù thủy rồi đem thiêu sống họ. Đúng như bạn của Henry Charles Lee, nhà triết học V. Lekki từng viết: “Niềm tin của Luther vào sự cần thiết phải trừng trị phù thủy khiến cho người ta, ngay ở thời đại của ông, phải ngạc nhiên. Scotland là nơi ảnh hưởng của Phong trào Cải cách mạnh hơn bất cứ nơi nào khác, thì đó cũng là nơi diễn ra sự đàn áp phù thủy khốc liệt nhất”.

Richard Baxter (“thuộc số tín đồ lớn nhất của Thanh giáo”), – một trong những tác giả chính mà trong công trình Luân lí Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (Die protestantische Ethik und der «Geist» des Kapitalismus1905 ) Max Weber  đã trích dẫn, – được Robert Merton giới thiệu như là người phát ngôn cho tinh thần của nền khoa học mới. Nhưng vào năm 1691, chính Richard Baxter từng xuất bản cuốn sách  Bằng chứng về sự tồn tại của thế giới thần thánh, trong đó ông kêu gọi tiến hành thánh chiến chống lại “tông phái Satan”.

Những công trình nghiên cứu của Henry Charles Lee và các môn đệ của ông không thể lay chuyển được hệ tư tưởng từng ngự trị ở Âu châu, có nguồn cội từ các huyền thoại của khoa học lịch sử Anglo – Saxon. Thậm chí, ngay ở Ý, huyền thoại về Tòa án dị giáo cũng bị hoài nghi một cách công khai, tức là tự gieo cho mình mối ngờ vực có thiện cảm với thể chế chính trị Franco, với chủ nghĩa tăng lữ, chủ nghĩa Stalin và mọi thứ tội lỗi khác. Giờ đây, ở Tây Ban Nha, nhà sử học am hiểu sự đời cũng chỉ dám nói thầm, hoặc nói một mình về điều ấy. Nhưng tất nhiên, giới trí thức và giới triết học thì đã nhìn quá trình hình thành khoa học và chủ nghĩa tư bản theo một cách hoàn toàn khác. Từ Max Weber, người bắt đầu tạo ra bước ngoặt, cho đến Michel Foucault, người diễn giải một cách vô tư (khảo cổ học) trong cuốn Lời và vật, nhân loại đã tạo ra một bước tiến dài trong việc giải huyền thoại.

Lã Nguyên dịch

Nguồn: С.Г. Кара-МурзыМанипуляция сознанием.  Изд. “Алгоритм”, 2000.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: