MĨ HỌC MÁC XIT PHƯƠNG TÂY TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

MĨ HỌC MÁC XIT PHƯƠNG TÂY

TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM

 TỪ 1986 ĐẾN NAY

Lã Nguyên

1. György Lukács (1885 – 1971), Karl Korsch (1886 – 1961) và Antonio Gramsci (1881 – 1937) được xem là ba nhân vật đầu tiên đặt nền móng cho tư tưởng mĩ học mác xit phương Tây. Ngoài ba nhân vật hàng đầu ấy, nhắc tới mĩ học mác xit phương Tây, còn phải kể tới hàng chục tác giả nổi tiếng khác, ví như Walter Benjamin (1892 -1940), Max Horkheimer (1895 – 1973), Galvano Della Volpe (1897 -1968), Herbert Marcuse (1898 – 1979), Henri Lefebvre (1901 -1991), Theodor W. Adorno (1903 – 1969), Jean-Paul Sartre (1905 – 1980), M. L. Goldman (1913 -1970), Louis Althusser (1918 – 1990), Lucio Colletti (1924 – 2001), Christopher Caudwell (1907 – 1937)… Trong cuốn Tư tưởng văn hóa, văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây, Phương Lựu, nhà lí luận mác xit đương đại Việt Nam kì cựu, có một đoạn tự bạch nói về sự “ngộ nhận” thú vị của bản thân ông: “Trong mấy thập niên tiếp xúc với lí luận phê bình văn học phương Tây, thỉnh thoảng bắt gặp những ý kiến như của nhà Phê bình mới nổi tiếng R. Weller cho rằng trong sáu trường phái cơ bản của lí luận phê bình văn học thế kỉ XX, phải xếp lí luận phê bình mác xit lên hàng đầu, thì tránh khỏi pha chút phấn khởi tự hào mà ngộ nhận rằng đó là lí luận phê bình Mác – Lênin quen thuộc với chúng ta. Nhưng hóa ra không phải…”[1]. Xin lưu ý, Phương Lựu mới viết những dòng này vào năm 2007, lúc ông đã ngoài bảy mươi tuổi. Nói như thế để thấy, ở Việt Nam, chắc chắn việc dịch thuật và quảng bá hệ thống mĩ học mác xit phương Tây chưa thể có bề dầy lịch sử.

Sau năm 1986, chuyên luận duy nhất của mĩ học mác xit phương Tây được dịch ra tiếng Việt là cuốn Văn học là gì của J.P. Sartre[2]. Hầu hết các bản dịch khác đều chỉ là tiểu luận, hoặc trích đoạn từ chuyên luận của một tác giả nào đó. Chẳng hạn, năm 2005, tạp chí Nghiên cứu văn học tổ chức số đặc biệt (số 10 tháng 10) dành cho “Chuyên đề văn học Hungary”. Trong số này, Trương Đăng Dung đăng bản dịch tiểu luận Nghệ thuật và chân lí khách quan[3] và chương XIII rút từ cuốn Đặc trưng mĩ học[4] của György Lukács. Hai năm sau, năm 2007, bộ Lí luận – phê bình văn học thế giới thế kỉ XX (2 tập) do Lộc Phương Thủy chủ biên ra mắt bạn đọc. Một loạt tiểu luận, hoặc trích đoạn rút từ chuyên luận của các nhà mác xit phương Tây được giới thiệu trong bộ sách này. Ngoài việc in lại tiểu luận Nghệ thuật và chân lí khách quan và chương XIII rút từ cuốn Đặc trưng mĩ học của György Lukács do Trương Đăng Dung dịch (vừa nhắc tới ở trên), độc giả còn được tiếp xúc với các bản dịch sau đây:

Kafka của Roger Garaudy (Lộc Phương Thủy dich)[5].

Kafka của Ernst Fischer (Trương Đăng Dung dịch) [6].

Ảo ảnh và hiện thực của Christopher Caudwell (Trương Đăng Dung dịch)[7].

Phương pháp cấu trúc phát sinh trong lịch sử văn học của Lucien Goldman (Lộc Phương Thủy dịch)[8].

Qui tắc của nghệ thuật của Pierre Bourdieu (Nguyễn Phương Ngọc dịch)[9].

Trong cuốn Xã hội học văn học mới xuất bản 2014, Lộc Phương Thủy dịch thêm hai công trình khác của Lucien Goldman:

Quan niệm về thế giới và các giai cấp xã hội[10].

Tiểu thuyết Mới và hiện thực[11].

Nguyễn Phương Ngọc cũng dịch thêm một tác phẩm khác của Pierre Bourdieu:

Qui tắc của nghệ thuật – Ba trạng thái của trường[12].

Các dịch giả Trương Đăng Dung, Lộc Phương Thủy,  Nguyễn Phương Ngọc đồng thời cũng là những tác giả có nhiều bài báo, tiểu luận sâu sắc dành cho mĩ học mác xit phương Tây. Các tiểu luận Xã hội học văn học trong các công trình nghiên cứu của Lucien Goldman của Lộc Phương Thủy, Xã hội học văn học của Pierre Bourdieu của Nguyễn Phương Ngọc, Những đặc điểm của hệ thống lí luận văn học mác xit thế kỉ XX của Trương Đăng Dung là những ví dụ tiêu biểu. Theo chúng tôi biết, Trương Đăng Dung đang thực hiện đề tài khoa học – công nghệ cấp bộ với đề tài là “Mĩ học hiện thực của György Lukács”.

Nhưng ở Việt Nam, có lẽ Phương Lựu là người đầu tiên có tham vọng diễn giải mĩ học mác xít phương Tây một cách có hệ thống. Cho đến nay, cuốn Tư tưởng văn hóa văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây[13] của ông vẫn là công trình dài hơi duy nhất dành cho đề tài này. Cuốn sách dày 343 trang, chia thành 14 chương, chương đầu mô tả tổng quan lịch sử và cấu trúc của chủ nghĩa Mác phương Tây, 13 chương còn lại giới thiệu tư tưởng triết học, mĩ học và lí luận văn học của 13 học giả và môn phái lớn: G. Lukacs, R. Garaudy, E. Fischer, H. Lefefbvre, T.W. Adorno, E. Fromm, J.P. Sartre, L. Goldman, A. Gramsci, R. Williams, T. Eagleton, F. Jameson.

2. Vấn đề đặt ra ở đây là: với những công trình dịch thuật và giới thiệu, diễn giải như thế, chúng ta đã tiếp nhận được những gì từ di sản mĩ học và lí luận nghệ thuật mác xit phương Tây?

Như đã nói, chuyên luận Tư tưởng văn hóa, văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây của Phương Lựu có 14 chương. Ngoài chương mở đầu là chương tổng quan, có nhiệm vụ giới thiệu khái quát bức tranh toàn cảnh của mĩ học mác xit phương Tây, 13 chương còn lại được chia thành hai cụm vấn đề: 9 chương (II, III, IV, V, VI, VII, VIII và IX) bàn về quan niệm nghệ thuật của G. Lukacs, R. Garaudy, E. Fischer,  H. Lefefbvre, T.W. Adorno, E. Fromm, J.P. Sartre, L. Goldman và các nhà mác xit Nam Tư; 4 chương còn lại (XI, XII, XIII, XIV) phân tích quan niệm về văn hóa của A. Gramsci, R. Williams, T. Eagleton, F. Jameson. Lô gic cấu trúc của cuốn sách được Phương Lựu giải thích như sau: vì chủ nghĩa Mác phương Tây “khởi trình từ vấn đề nghệ thuật” “rồi dần dần về sau mở rộng sang vấn đề văn hóa”, cho nên 9 chương bàn về nghệ thuật được ông đặt lên trước, còn 4 chương bàn về văn hóa để ở sau cùng[14]. Lô gíc trình bày của Phương Lựu  thể hiện cấu trúc nội dung của mĩ học mác xit phương Tây. Một số bài viết của Trương Đăng Dung cũng không vượt ra ngoài cấu trúc nội dung ấy.

Cho nên có thể nhận xét, về cơ bản, các nhà nghiên cứu Việt Nam  đã ghi nhận 3 nội dung chính yếu sau đây từ di sản mĩ học mĩ học mác xit phương Tây: 1) Sự chuyển dịch đối tượng nghiên cứu; 2) Lí luận nghệ thuật; 3) Lí luận văn hóa.

2.1. Về sự chuyển dịch của đối tượng nghiên cứu. Chúng ta đều biết, các khái niệm “chủ nghĩa Mác phương Tây”, “mĩ học mác xit phương Tây”  được sử dụng để chỉ một chi nhánh của chủ nghĩa Mác và mĩ học mác xit. Chi nhánh này tuy không đối lập, nhưng khác xa với nhánh chủ nghĩa Mác và mĩ học mác xit phương Đông, hay còn gọi là “chủ nghĩa Mác – Lênin”, “mĩ học Mác – Lênin. Phương Lựu chỉ ra 6 lí do dẫn tới sự hình thành của chủ nghĩa Mác phương Tây: 1. Khác biệt trong cách giải thích về sự thất bại của cách mạng ở Trung và ây Âu; 2. Khác biệt trong cách giải thích tác phẩm “Bản thảo kinh tế triết học năm 1844” của Mác; 3. Khác biệt trong cách giải thích sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít vào những năm ba mươi, bốn mươi; 4. Khác biệt trong nhận thức đối với chủ nghĩa tư bản hiện đại những năm năm mươi, sau mươi; 5. Khác biệt trong quan hệ tinh thần với “phong trào tạo phản” của thanh niên trí thức Âu Mĩ những năm sáu mươi, bảy mươi; 6. Khác biệt trong nghiên cứu hiệu ứng xã hội đối với cách mạng khoa học kĩ thuật những năm bảy mươi, tám mươi [15]. Nhưng xét về mặt nội dung, sự khác biệt lớn nhất giữa chủ nghĩa Mác phương Tây và chủ nghĩa Mác – Lênin là ở sự chuyển dịch của đối tượng nghiên cứu.

Thực tế chứng tỏ, đối tượng nghiên cứu chính yếu của mĩ học mác xit phương Tây là nghệ thuật, văn hóa và các hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc. Quả vậy, từ những năm 20, chủ nghĩa Mác phương Tây dần dần không tham gia vào những cuộc tranh luận có tính đối đầu lí thuyết về các vấn đề kinh tếchính trị. A. Gramsci là đại biểu cuối cùng của các nhà tư tưởng mác xit phương Tây nêu ra những vấn đề gai góc về đấu tranh giai cấp. Nhưng ông không hề viết bất kì điều gì về kinh tế tư bản, tức là ông không phân tích các qui luật phát triển của phương thức sản xuất ấy theo kiểu truyền thống. Càng về sau, các nhà mác xit phương Tây càng giữ thái độ im lặng trước hệ thống chính trị của chế độ cai trị tư sản đương thời và không bàn tới phương thức lật đổ nó. Rốt cục, về cơ bản, nếu vấn đề bàn bạc chỉ đụng chạm tới nội dung, chứ không liên quan gì tới phương pháp, thì chủ nghĩa Mác phương Tây dồn toàn bộ mối quan tâm vào việc nghiên cứu thượng tầng kiến trúc. Đã thế, khi bàn về thượng tầng kiến trúc, các nhà mác xít phương Tây đặc biệt chú ý tới những bình diện mang tính đặc thù, mà như Engels từng nói, rất xa với nền tảng kinh tế. Nói cách khác, đối tượng nghiên cứu chính yếu của các nhà mác xít phương Tây không phải là nhà nước hay pháp quyền, mà là văn hóa. Chẳng những thế, ta có đủ bằng chứng để khẳng định, trong lĩnh vực văn hóa, các nhà mác xit phương Tây lại dồn nhiều tâm trí và tài năng vào nghệ thuật.

Lukács là ví dụ tiêu biểu. Ông dành phần lớn đời mình cho nghiên cứu văn học. Ông viết rất nhiều công trình bàn về kịch và tiểu thuyết (Lịch sử phát triển của kịch hiện đại, 1912; Lí luận tiểu thuyết, 1920). Sáng tác của một loạt tác gia nổi tiếng như J.W. Goethe, W. Scott, T. Mann, A. Solzhenitsyn luôn nằm trong phạm vi khảo sát của ông. Đỉnh cao trong hoạt động khoa học của Lukács công trình Mĩ học (1965) đồ sộ. Theodor W. Adorno là một thí dụ khác. Ông viết hàng chục cuốn sách về âm nhạc, dành rất nhiều trang để phân tích sự phát triển của văn hóa âm nhạc thế kỉ XX và nghiên cứu tác phẩm của các nhạc sĩ riêng lẻ, ví như Richard Wagner, hoặc Gustav Mahler (Philosophy of New Music; Mahler: A Musical Physiognomy; Night Music: Essays on Music 1928-1962; Beethoven: The Philosophy of Music; Fragments and Texts; Current of Music…). Ngoài ra, ông còn viết hàng loạt tiểu luận về văn học (Notes to Literature I , Notes to Literature II) và chuyên luận dày dặn Lí luận mĩ học (Aesthetic Theory). Đóng góp lớn nhất của Ales Walter Benjamin cho di sản lí luận của chủ nghĩa Mác là tác phẩm Nghệ thuật trong thời đại sản xuất cơ học (Art in the Age of its Mechanical Reproduction) và những công trình nghiên cứu của ông vào những năm 1930 dành cho sáng tác của Charles Baudelaire. Sáng tác của Bertolt Brecht cũng thuộc phạm vi quan tâm nghiên cứu của ông. Tác phẩm quan trọng nhất của M. L. Goldman là Thiên Chúa ẩn giấu (The Hidden God), nội dung chính của nó là phân tích đối sánh Jean-Baptiste Racine với quan điểm triết học và tôn giáo của phái Jensen. Đồng thời, trong tác phẩm này, ông đã xác lập những nguyên tắc chung của phê bình văn học theo quan điểm duy vật lịch sử. Trong một số tác phẩm khác, Goldman nghiên cứu tiểu thuyết (của André Malraux) và nhà hát hiện đại.  Nói về Henri Lefebvre, người ta nhớ ngay tới cuốn sách Đóng góp cho mĩ học (Contribution à l’esthétique). Galvano Della Volpe, ngoài các tiểu luận về thơ và điện ảnh, còn có một chuyện luận dày dặn với nhan đề Phê bình thị hiếu (Critique du gout).  Herbert Marcuse tuy không viết về nhà văn, nhà thơ, hay nghệ sĩ cụ thể nào, nhưng bao giời ông cũng xem mĩ học là phạm trù trung tâm của xã hội tự do, trong đó “nghệ thuật với tư cách là hình thức của hiện thực” bao giờ cũng xác định phạm vi khách quan của thế giới xã hội. Tư tưởng này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm Tình dục và văn minh (Eros and civilization) và Tiểu luận về giải phóng (An Essay on Liberation) của ông. Lần đầu tiên tiếp xúc với chủ nghĩa Mác, Jean-Paul Sartre cho xuất bản cuốn Văn học là gì? (Qu’est-ce que la literature? – 1948). Khi bắt đầu ngả theo lí thuyết mác xit ông cho xuất bản một tác phẩm hết sức lí thú về về cuộc đời và sáng tác của Saint Jenet (Saint Genet, comédien et martyr – 1952), viết sách về Mallarmé (Mallarmé, la lucidité et sa face d’ombre – 1952) và danh họa Tintoretto. Đến lúc trở thành nhà mác xit thực thụ, Jean-Paul Sartre dành hẳn mười năm nghiên cứu để viết công trình đồ sộ gồm ba tập  (lúc đầu, dự định bốn tập) về Flaubert (L’idiot de la famille – Gustave Flaubert de 1821 à 1857‎, lần đầu in năm 1971), giá trị lí thuyết của bộ sách này lớn hơn tất cả những tác phẩm triết học trước đó của ông cộng lại. Trong Bút kí trong tù (viết vào quãng từ 1929 đến 1934, xuất bản lần đầu năm 1948), Antonio Gramsci bàn rất nhiều về văn học Ý. Louis Althusser cũng tìm ra nội dung phân tích riêng và tập trung vào chủ yếu vào các vấn đề thượng tầng kiến trúc. Những tác phẩm lớn của ông về đề tài này thường liên quan tới vấn đề hệ tư tưởng và giáo dục, được tiếp cận theo quan điểm lí thuyết của Antonio Gramsci. Ông cũng có nhiều bài báo về nghệ thuật sân khấu và hội họa (Brecht và Cremonini), về bản chất của nghệ thuật.

Tóm lại, mĩ học, cây cầu nối liền triết học với thế giới hiện thực từ thời Khai sáng trở thành trung tâm chú ý thường xuyên của các nhà mác xit phươngTây.  Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật chính là đối tượng nghiên cứu chủ chốt trong các công trình nghiên cứu của họ và đó cũng là nội dung quan trọng đã được tiếp nhận vào Việt Nam trong mấy chục năm gần đây.

2.2. Về lí luận nghệ thuật. Chín chương bàn về quan niệm nghệ thuật của mĩ học mác xit phương Tây trong chuyên luận của Phương Lựu, có tiêu đề xác định như sau:

“Chủ nghĩa hiện thực vĩ đại” của G. Lukacs (chương II),

–  “Chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến” của R. Garaudy (chương III),

“Chủ nghĩa hiện thực hiện đại” của E. Fischer (chương IV),

“Chủ nghĩa lãng mạn mới” của H. Lefèbvre (chương V),

T.W. Adorno với chủ nghĩa hiện đại (chương VI),

Lí luận nghệ thuật “mác xit – phân tâm” của E. Fromm (chương VII)

Lí luận nghệ thuật “mác xit – hiện sinh” của J.P. Sartre (chương VIII)

Lí luận văn nghệ “mác xit –cấu trúc” của L. Goldmann (chương IX),

Lí luận văn nghệ “mác xit – thực tiễn” ở Nam Tư (chương X).

Các tiêu đề nói trên cho thấy, chuyên luận của Phương Lựu đã mô tả tương đối chi tiết hệ thống chủ đề trong các công trình bàn về văn học nghệ thuật của mĩ học mác xit phương Tây. Nhìn vào hệ thống chủ đề ấy, độc giả nhận ra đặc điểm nổi bật nhất của mĩ học mác xit phương Tây là xu hướng giải qui phạm, chống lại các biểu hiện biến chủ nghĩa Mác thành một giáo điều.  Nó chống giáo điều, giải qui phạm bằng hai cách:

Thứ nhất: Kết hợp chủ nghĩa Mác với các lí thuyết hiện đại. Cho nên mới có lí luận nghệ thuật “mác xit – phân tâm” của E. Fromm, lí luận nghệ thuật “mác xit – hiện sinh” của J.P. Sartre, lí luận văn nghệ “mác xit –cấu trúc” của L. Goldmann, lí luận văn nghệ “mác xit – thực tiễn” ở Nam Tư, mới có chủ nghĩa “lãng mạn mới” của H. Lefèbvre và chủ nghĩa hiện đại T.W. Adorno. Cũng bởi thế, mĩ học mác xit phương Tây là một trào lưu tư tưởng hết sức phức tạp. Chúng tôi sẽ không bàn thêm về điểm này, vì chuyên luận của Phượng Lựu đã trình bày kĩ[16].

Thứ hai: Khẳng định vai trò của “chủ nghĩa hiện thực” đối với sáng tác nghệ thuật và mở rộng tối đa ý nghĩa của khái niệm này.Ta biết, vào những năm 30, 40 của thế kỉ trước, giống như mĩ học Mác – Lênin, một bộ phận mác xit phương Tây có tham vọng xây dựng một mô hình văn học nhất nguyên. Theo quan điểm của mĩ học Mác – Lênin, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là mô hình văn học nhất nguyên của thời đại mới. Với mĩ học mác xit phương Tây, mô hình văn học nhất nguyên của mọi thời đại là chủ nghĩa hiện thực.  Về mặt lí thuyết, cả hai mô hình văn học nói trên đều được kiến tạo trên cơ sở các ý kiến của các vị kinh điển  chủ nghĩa Mác và mô hình nào cũng là sự phát triển phản ánh luận của V.I. Lênin. Nhưng khảo sát kĩ, ta sẽ thấy, mĩ học Mác – Lênin chủ yếu dựa vào các luận điểm luận điểm của V.I. Lênin về tính giai cấp và nguyên lí tính đảng, về vai trò của thế giới quan và lập trường tư tưởng trong sáng tạo nghệ thuật. Nó có xu hướng biến sáng tác văn nghệ thành một hệ thống qui phạm.Trong khi đó, mĩ học mác xit phương Tây dựa vào luận điểm của F. Engels về sự “thắng lợi vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực”[17]. Chuyên luận của Phương Lựu đã nhấn mạnh điều này khi tác giả nhắc lại cuộc tranh luận giữa hai phái “Ngược với”[18] và “Nhờ có”[19] diễn ra trên tờ Báo văn[20] và tạp chí Người bình văn[21] trong suốt những năm 30 cho đến cuối năm 1940 của thế kỉ trước.

Đại diện cho phái “Nhờ có” là V. Ermilov (1894 – 1968), V.Ja. Kirpotin (1898 – 1997)  và E. Knhipovich (1898 – 1988). Đại diện cho phái “Ngược với” là G. Lukacs và M.A. Lifshits (1905 – 1983). Vấn đề trung tâm của cuộc tranh luận là mối quan hệ giữa thế giới quan và sáng tác nghệ thuật. Trong bài báo Thế giới quan và phương pháp trong sáng tác nghệ thuật đăng trên Người bình văn, số tháng 6 năm 1933, M.M. Rozhentan viết: “Tri thức sâu sắc của nhà văn về cuộc sống, việc nghiên cứu thấu đáo thực tại sẽ gợi ra phương pháp hiện thực. Phương pháp ấy, ngược với quan điểm của tác giả, sẽ được bộc lộ trong sự phản ánh chân thực hiện thực” (chữ in nghiêng do tôi nhấn mạnh.- LKH). Chữ “ngược với” được Rozhentan dùng ở đây sau này trở thành tên gọi của cuộc tranh luận.

Dựa vào luận điểm của F. Engels về “thắng lợi vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực”, phát triển quan điểm của Rozhentan, G. Lukacs và M.A. Lifshits cho rằng, từ quan điểm lịch sử – xã hội, chủ nghĩa hiện thực hoàn toàn có thể giúp nghệ sĩ phản ánh thực tại chân thật, sâu sắc, ngược với thế giới quan và lập trường giai cấp của tác giả. Trong loạt bài báo viết ra để tranh luận vào các năm 1936 – 1938, nhất là trong cuốn Bàn về lịch sử chủ nghĩa hiện thực, khảo sát sáng tác của nhiều tác gia văn học, Lukacs chứng minh: nghệ sĩ có thể cố ý không không đứng về phía quan điểm chính trị – xã hội tiến bộ, thậm chí, thế giới quan, lập trường tư tưởng của nghệ sĩ có thể phản động, nhưng chỉ cần anh ta là nhà hiện thực chủ nghĩa, thì “nhờ có chủ nghĩa hiện thực” – tức là “ngược với thế giới quan”, bức tranh đời sống do anh ta tái hiện vẫn cứ sâu sắc và chân thật[22].

Điều đáng lưu ý là nếu mĩ học Mác – Lênin có xu hướng qui phạm hóa phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì mĩ học mác xit phương Tây mở rộng tối đa nội hàm của khái niệm “chủ nghĩa hiện thực”. Khái niệm “chủ nghĩa hiện thực vĩ đại” của Lukacs bao trùm nhiều hiện tượng văn học từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX. Ngoài “chủ nghĩa hiện thực vĩ đại” của Lukacs, còn có chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến” của R. Garaudy, chủ nghĩa hiện thực hiện đại” của E. Fischer, chủ nghĩa hiện thực “ảo ảnh” của Ch. Caudwell (1907 – 1937)[23]

Quan điểm của M.A. Lifshits và Lukacs trở thành đối tượng phê phán từ nhiều phía.  Mùa thu năm 1939, giương cao ngọn cờ của phái “Nhờ có” trên tờ Báo văn,  V. Ermilov và V.Ja. Kirpotin ra đòn chống lại phái “Ngược với”. Đòn đánh cơ bản của họ tập trung giáng xuống cuốn Bàn về lịch sử chủ nghĩa hiện thực vừa xuất bản của G. Lukacs. Họ cho rằng, trong cuốn sách này, Lukacs đã trình bày những quan điểm rất cũ của Henri Bergson.  Theo V. Ermilov và V.Ja. Kirpotin, phải “nhờ có thế giới quan tiên tiến”, nghệ sĩ chỉ có thể chiếm lĩnh thực tại sâu sắc.  Tháng 4, năm 1940, tạp chí “Đất hoang đỏ” (“Красная новь”) đăng bài xã luận Về những quan điểm có hại của tờ “Người bình văn”, buộc tội những người theo phái “Ngược với” đã diễn giải văn học xô viết “như là một trong những biểu hiện của xu hướng suy đồi”, rằng các nhà phê bình và lí luận của phái này đã gieo rắc quan điểm theo đó “thế giới quan bảo thủ và phản động, định kiến của nghệ sĩ là mảnh đất thuận lợi để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất”.

Đấy là lí do khiến tạp chí Người bình văn bị đình bản từ ngày 2.12.1940 và cuộc tranh luận giữa hai phái “Ngược với” và “Nhờ có” thế là được khép lại. Tuy vậy, ý hướng giải qui phạm, chống giáo điều của mĩ học mác xit phương Tây là một đóng góp quan trọng.

2.3. Về lí luận văn hóa. Bốn chương sách trong chuyên luận của Phương Lựu đã đặt tên cho bốn hệ thống lí thuyết về văn hóa của mĩ học mác xit phương Tây như sau:

“Chủ nghĩa bá quyền văn hóa” A. Gramsci (Chương XI),

“Chủ nghĩa duy vật văn hóa” của R. Williams (Chương XII),

Mĩ học “sản xuất văn hóa” của T. Eagleton (Chương XIII)

“Giải thích học văn hóa” của F. Jameson (chương XIV).

Đặt tên cho các hệ thống lí thuyết như thế, Phương Lựu giúp người đọc nhận ra sự khác biệt giữa mĩ học Mác – Lênin và mĩ học mác xit phương Tây: bên này có xu hướng chính trị hóa văn hóa, bên kia tìm cách văn hóa hóa chính trị. Quả vậy, qua cách giới thiệu của Phương Lựu, ta thấy mĩ học mác xit phương Tây không xem văn hóa là lĩnh vực “tòng thuộc chính trị”, có chức năng “phục vụ chính trị”. Họ nghiên cứu chức năng và cấu trúc chỉnh thể của văn hóa trong hệ thống quyền lực ở châu Âu để chỉ ra tính độc lập và hiệu lực của thượng tầng kiến trúc. Trong quan niệm của họ, văn hóa có quan hệ trực tiếp với việc duy trì, hay lật đổ chế độ hiện hành. Nói cách khác, văn hóa tự nó có hiệu lực y như chính trị. Tư tưởng này được thể hiện rõ nhất trong học thuyết “bá quyền văn hóa” của  A. Gramsci.

Có thể nói, trung thành với đối tượng nghiên cứu là văn học nghệ thuật và các hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, phân tích các hiện tượng ấy, Antonio Gramsci đã sáng tạo ra một lí thuyết mới về nhà nước và cách mạng trong hoàn cảnh của xã hội hiện đại. Ông đúc rút kinh nghiệm cách mạng từ cuộc Cải cách của đạo Tin lành, của Cách mạng Pháp, Cách mạng tháng Mười Nga, qua đó đề xuất hướng khắc phục hạn chế của lí luận do Lênin được sáng tạo trong điều kiện của một nước Nga nông dân, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác. Nội dung chính yếu trong Bút kí trong tù của Gramsci là học thuyết bá quyền. Đó là học thuyết về cách mạng như là sự sụp đổ của nhà nước để rồi chuyển qua một chế độ chính trị – xã hội mới. Từ sự diễn giải của Phương Lựu, ta có thể tóm tắt nội dung cơ bản của học thuyết thành một số luận điểm như sau:

 Thứ nhất: “Bá quyền” là vị thế đồng thuận tuyệt đối mà nhà nước đạt được. Theo Gramsci, quyền lực của giai cấp thống trị được duy trì không chỉ nhờ vào bạo lực, mà còn nhờ vào sự đồng thuận. Cỗ máy quyền lực không chỉ là cỗ máy cưỡng bức, mà còn là cỗ máy thuyết phục. Quyền tư hữu như nền tảng kinh tế hoàn toàn chưa đủ để bảo vệ sự thống trị và duy trì quyền lực của các chủ sở hữu bền vững lâu dài.  Bởi vậy, nhà nước, bất luận giai cấp cầm quyền là giai cấp nào, đều phải đứng vững trên hai trụ cột: sức mạnh và sự đồng thuận. Gramsci gọi vị thế mà ở đó trình độ đồng thuận đạt được sự tuyệt đối là bá quyền. Bá quyền không phải là trạng thái nhất thành bất biến mà là tiến trình tinh tế, liên tục năng động. Gramsci  nhấn mạnh, “nhà nước là sự bá quyền khoác vỏ bọc của sự cưỡng chế”. Nói cách khác, chỉ sử dụng sự cưỡng chế làm vỏ bọc dành cho một nội dung quan trọng hơn. Lại nữa, bá quyền không có nghĩa chỉ là sự đồng thuận giản đơn, mà còn là sự đồng thuận có thiện chí, là sự đồng thuận tích cực, theo đó những gì giai cấp thống trị đòi hỏi đều là điều mong muốn của mọi công dân. Ông đưa ra định nghĩa: “Nhà nước là toàn bộ hoạt động thực tiễn và hoạt động lí thuyết nhờ đó giai cấp thống trị biện minh và duy trì sự thống trị của mình bằng cách gắng sức đạt được sự đồng thuận tích cực của những người bị lãnh đạo”. Định nghĩa không chỉ nói về nhà nước như một hệ thống chính trị, mà xác định phẩm chất cơ bản của xã hội hiện đại phương Tây. Theo định nghĩa ấy, bá quyền là sức mạnh của nhà nước và là cơ sở quyền lực của giai cấp thống trị.

Thứ hai: “Hạt nhân văn hóa” là nền tảng của bá quyền. Phá vỡ “hạt nhân văn hóa” là chuẩn bị điều kiện cho cách mạng bùng nổ. Chế độ chính trị có thể ổn định hoặc sụp đổ (cách mạng) tùy thuộc vào sự sụp đổ hay ổn định của bá quyền. Theo Gramsci, cả sự xác lập, lẫn sự sụp đổ của bá quyền đều là những trình trình “phân tử”. Nó diễn ra không giống như là xung đột giữa các giai cấp đối lập (Gramsci phủ định quan niệm cơ giới của một thứ chủ nghĩa duy vật lịch sử dung tục như thế), mà như sự thay đổi ý kiến và tâm trạng một cách vô hình với những tỉ lệ rất nhỏ trong ý thức của mỗi con người. “Hạt nhân văn hóa” của xã hội là chỗ dựa của bá quyền. Hạt nhân này chứa đựng trong tổng thể các quan niệm về thế giới và về con người, về cái thiện và cái ác, về cái đẹp và cái ghê tởm, trong vô số biểu tượng và hình ảnh, truyền thống và định kiến, tri thức và kinh nghiệm của nhiều thế kỉ. Chừng nào cái hạt nhân ấy còn ổn định, xã hội sẽ còn có một “ý chí tập thể rắn chắc”. Một khi “ý chí tập thể” bị sụp đổ, “hạt nhân văn hóa” bị phá vỡ, điều kiện cách mạng sẽ xuất hiện. Gramsci gọi quá trình tạo ra điều kiện cách mạng là quá trình xâm hại “phân tử” vào cốt lõi văn hóa. Đó là kết quả xâm nhập của cả một “khối lượng khổng lồ những sách vở, tạp chí, bài báo, những cuộc trò chuyện, những tranh cãi được lặp lại không dứt và trong tổng thể của nó, chúng tạo ra sự nỗ lực lâu dài để từ đây lại nảy sinh một ý chí tập thể ở một trình độ thuần nhất, một trình độ tất yếu đủ để có hành động được phối hợp đồng thời cả trong thời gian lẫn không gian địa lí”.

Theo Gramsci,  muốn xác lập (hay phá bỏ) bá quyền cần tác động vào ý thức thông thường, ý nghĩ “nhỏ bé”  hàng ngày của con người bình thường. Phương thức tác động hiệu quả nhất là liên tục lặp lại một loại xác quyết nào đó để chúng thành quen thuộc với người ta, để người ta tiếp nhận bằng niềm tin, chứ không phải bằng lí trí. Gramsci viết: “ Ngoài đức tin, quần chúng đích thực không thể quán triệt triết học bằng bất kì cách nào khác”. Ông lưu ý, rằng nhà thờ duy trì niềm tin tôn giáo bằng cách lặp lại các nghi lễ và lời cầu nguyện. Gramsci hiểu rõ, rằng cả hai phía, – phía các lực lượng bảo vệ bá quyền và phía các lực lượng cách mạng, – đều phải đấu tranh quyết liệt để chống lại ý thức thường nhật. Ở đây, lực lượng nào cũng có hy vọng giành được thắng lợi, vì hạt nhân văn hóa và ý thức thường nhật không chỉ mang tính bảo thủ, mà còn dễ thay đổi. Gramsci chia ý thức thường nhật thành hai loại: loại “ý thức lành mạnh” (triết học tự phát của người lao động) và “ý thức hão huyền”. “Ý thức lành mạnh” luôn rộng mở để tiếp nhận tư tưởng cộng sản. Đây là nguồn cội của “bá quyền giải phóng”. Với tham vọng duy trì và xác lập bá quyền, giai cấp tư sản tìm mọi cách nhồi vào ý thức con người huyền thoại hoang đường, những chuyện viển vông để trung hòa hoặc ngăn chặn mọi “ý nghĩ lành mạnh”.

Ai là nhân vật chính yếu trong việc xác lập hoặc lật đổ bá quyền? Câu trả lời của Gramsci hết sức dứt khoát: tầng lớp trí thức. Trong Bút kí trong tù, ông viết hẳn một chương bàn về bản chất của trí thức, quá trình hình thành, vai trò của nó trong xã hội và quan hệ giữa nó với quyền lực. Nghề nghiệp (kĩ sư, nhà nghiên cứu, cha cố…) không phải là chức năng chính của trí thức. Là một nhóm xã hội đặc biệt, trí thức chỉ có thể sinh ra trong xã hội hiện đại, khi xuất hiện nhu cầu xác lập bá quyền thông qua hệ tư tưởng. Ý nghĩa tồn tại cơ bản của giới trí thức là sáng tạo và phổ biến các hệ tư tưởng, xác lập và lật đổ bá quyền của giai cấp này hay giai cấp kia.

Nền bá quyền hiệu quả nhất của giai cấp tư sản hướng tới quyền lực đã diễn ra ở Pháp, nơi hình thành rất nhanh chóng liên minh giữa tư bản và giới trí thức. Đằng sau liên minh ấy là sự nối kết chặt chẽ cả giai cấp tư sản, lẫn giớ trí thức với Cải cách tôn giáo Đức – cuộc Cải cách đã sinh ra các trào lưu triết học mạnh mẽ (như người ta nói, “Kant chặt đầu Chúa trời, Robespierre thì chặt đầu đức vua”). Nhìn chung, Gramsci xem sự nối kết cuộc Cải Cách của đạo Tin lành với mô hình chính trị của cách mạng Pháp là hiệu quả tối đa của lí thuyết trong việc xác lập bá quyền.

Đem bán sức lao động, trí thức phải tìm tới chỗ có tiền. Gramsci viết: “Trí thức là những “kẻ ban bố mệnh lệnh” của nhóm thống trị, là những người được sử dụng để thực hiện các chức năng gắn với nhiệm vụ bá quyền xã hội và kiểm soát chính trị”. Thật ra, bao giờ trong xã hội cũng có một phần trí thức mà Gramsci xếp vào loại “truyền thống”. Bộ phận trí thức này phục vụ nhóm đã đánh mất bá quyền, nhưng vẫn không thay đổi ngọn cờ. Thông thường, nhóm giành được bá quyền mới tìm cách thuần hóa họ. Ngoài ra, phong trào xã hộ khi đã trưởng thành đủ sức đấu tranh giành bá quyền sẽ sinh ra tầng lớp trí thức riêng của mình và tầng lớp trí thức này sẽ thành tác nhân cơ bản tác động tới hạt nhân văn hóa và giành lấy bá quyền.

          Tóm lại, mĩ học mác xít phương Tây xem văn hóa, chứ không phải đấu tranh giai cấp, là động lực phát triển của nhà nước và xã hội. Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản giữa họ và mĩ học Mác – Lênin.

*

Một số bài viết của Trương Đăng Dung, đặc biệt, chuyên luận của Phương Lựu là những nỗ lực đầu tiên trong việc tiếp cận mĩ học mác xit phương Tây. Các công trình nghiên cứu này góp phần làm phong phú kho tri thức và vốn kinh nghiệm của nền lí luận văn nghệ Việt Nam truyền thống. Tuy nhiên, có một điều đặc biệt, chúng tôi muốn lưu ý ở đây: Phương Lựu tiếp cận mĩ học mác xit phương Tây từ lập trường của Lênin: Lênin thuộc về “chúng ta”, phương Tây là của “họ”. Với ông, mục đích tiếp cận mĩ học “của họ” là để “chúng ta gạn khơi mà hấp thu”. Năm 2003, trong một bài báo viết nhân kỉ niệm 120 năm ngày qua đời của C. Mác, đăng trên tờ Văn nghệ (số 12), Phương Lựu cho rằng, mĩ học mác xit phương Tây “chưa phải là chủ nghĩa Mác – Lênin”, “chưa quán triệt tư tưởng Lênin”, “cho nên có thể có không ít luận điểm cụ thể không thể chấp nhận được”[24].  Năm 2007, trong chuyên luận mà chúng tôi đang phân tích, Phương Lựu tiếp tục vạch rõ đường ranh giới giữa “họ” với “chúng ta” để xác định nguyên tắc “gạn khơi mà hấp thụ” di sản mĩ học mác xit phương Tây: “… Nếu không cấp bách đặt vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống trào lưu lí luận này thì sẽ có nguy cơ bị ngộ nhận cả hai chiều: hoặc cho đây là tư tưởng xét lại, đối địch, từ đó sẽ không gạn khơi được nhiều điều bổ ích; hoặc đồng nhất giữa họ và chúng ta để bê nguyên si mọi luận điểm mà rõ ràng là có chỗ có hại cho nền văn hóa văn nghệ của chúng ta”[25]. Thiết nghĩ, tiếp cận đối tượng từ thiên kiến với những chân lí có sẵn như thế, dù cố gắng “gạn khơi” thế nào, thì sự “hấp thụ” mĩ học mác xit phương Tây trong chuyên luận của Phương Lựu cũng khó tránh khỏi tính chủ quan, và vì chủ quan, chắc chắn nhiều giá trị đích thực sẽ dễ bị bỏ sót.

Cho nên, di sản mĩ học mác xit phương Tây vẫn còn là kho báu đầy hấp dẫn đang mời gọi các học giả Việt Nam tiếp tục nghiên cứu, khám phá.

Kho báu ấy là kết tinh của một hoàn cảnh địa – chính trị rất khác. Cái nôi nuôi dưỡng mĩ học Mác  – Lênin với những tên tuổi lẫy lừng như V.I, Lênin, G.V. Plekhavov, N.V. Bukharin, A.A. Zdanov là nước Nga. Về sau, từ Nga, mĩ học Mác – Lênin được truyền bá sang các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và một số quốc gia châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên. Quê hương của các nhà mĩ học mác xit phương Tây chủ yếu là Ý, Đức, Pháp, Anh, Thụy Sĩ. Thụy Sỹ, Pháp, Anh, Đức, Ý là những nước tư bản phát triển nhất ở tây Âu. Nga là mắt xích yếu nhất trong hệ thống các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở thế kỉ XIX. Thời đó, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên là những nước thuộc địa nửa phong kiến, đang có phong trào giải phóng dân tộc. Đặc điểm khác biệt của hai khu vực địa – chính trị chắc chắn ảnh hưởng tới quan điểm mĩ học của hai nhánh mác xít phương Tây và phương Đông.

Kho báu ấy còn là sản phẩm của một thế hệ các nhà mác xit khác với những trải nghiệm thực tiễn cách mạng cũng rất khác. So với các nhà mĩ học Mác – Lênin, đa số các nhà mĩ học mác xit phương Tây thuộc thế hệ sau. Các nhà mĩ học Mác – Lênin trải nghiệm chủ yếu thực tiễn trước Cách mạng tháng Mười. Hệ thống mĩ học của họ về cơ bản được hình thành từ những năm 20 cho đến những năm 40 đầu thế kỉ XX. Các nhà mĩ học mác xit phương Tây lại trải nghiệm thực tiễn cách mạng sau năm 1917. Hệ thống mĩ học của họ được hình thành và phát triển chủ yếu từ sau thế chiến thứ II.

Kho báu ấy được kiến tạo trên nền tảng của một bộ phận khác trong di sản của các vị kinh điển chủ nghĩa Mác. Ta biết, cuộc đời hoạt động của K. Mác và F. Engels gồm hai giai đoạn, ở giai đoạn đầu, di sản của họ được mở ra bằng những công trình triết học. Ở giai đoạn sau, di sản của họ được khép lại bằng kinh tế học và chính trị học. Có cơ sở để chứng minh, mĩ học Mác – Lênin chủ yếu phát triển di sản của Mác và Engels ở giai đoạn sau. Mĩ học mác xit phương Tây lại chủ yếu tiếp thu và phát triển di sản của Mác và Engels ở giai đoạn đầu.

Kết luận mà chúng tôi muốn rút ra ở đây là thế này: Được một thế hệ khác kiến tạo trong một hoàn cảnh địa – chính trị khác, từ nền tảng của một bộ phận khác trong di sản của các vị kinh điển chủ nghĩa Mác, so mĩ học Mác – Lênin truyền thống, mĩ học mác xit phương Tây là một hệ thống lí thuyết hoàn toàn khác. Cách tốt nhận để tiếp nhận hữu hiệu hệ thống lí thuyết ấy là nguyên tắc đối thoại.

                                                                       Đồng Bát, 20/11/2015

[1] Phương Lựu – Tư tưởng văn hóa, văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây. Nxb Thế giới. H., 2007, tr. 5-6.

[2] J.P. Sartre – Văn học là gì (Nguyên Ngọc dịch và chú giải). Nxb Hội nhà văn, 1999, 396 trang.

[3] György Lukács – Nghệ thuật và chân lí khách quan (Trương Đăng Dung dịch)//”Nghiên cứu văn học”, số 10/2005, tr. 42 – 76.

[4] György Lukács – Đặc trưng mĩ học (chương XIII, T.2;Trương Đăng Dung dịch)//”Nghiên cứu văn học”, số 10/2005, tr. 8 – 42.

[5] Xem: Lộc Phương Thủy (Chủ biên) – Lí luận – Phê bình văn học thế giới thế kỉ XX. T.I, Nxb Giáo dục, H., 2007, tr. 284 – 325.

[6] Tlđd, tr. 327 – 337.

[7] Tlđd, tr. 339 – 360.

[8] Tlđd, tr. 483 – 496.

[9] Tlđd, tr. 499 – 517.

[10] Xem:  Lộc Phương Thủy  – Nguyễn phương Ngọc – Phùng Ngọc Kiên – Xã hội học văn học. Nxb ĐHQG Hà nội. H., 2014, tr. 276 – 296.

[11] Tlđd, tr. 297 – 322.

[12] Tlđd, tr. 433 – 499.

[13] Phương Lựu- Tư tưởng văn hóa văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây. Nxb Thế giới, 2007.

[14] Xem: Phương Lựu – Tlđd, tr. 8 – 9.

[15] Xem: Phương Lựu – Tlđd, tr. 24.

[16] Xem: Phương Lựu – Tlđd, tr. 121 – 256.

[17] Xem: Thư gửi M. Hác-cơ-nét-xơ đầu tháng 4-1888//C. Mác – Ph. Ăngghen – V.I. Lênin – Về văn học và nghệ thuật. Nxb Sự thật, H., 1977, tr. 382 – 387.

[18] Tiếng Nga: “Вопрекист(“Voprekiste”) nghĩa là “người theo phái ngược với”, được cấu tạo từ chữ “Вопреки” (“Vopreki”) nghĩa là “ngược với”, “trái với”, “mặc dù”, “bất kể”.

[19] Tiếng Nga: “Благодарист” (“Blagodariste”) nghĩa là “người theo phái nhờ có”, được cấu tạo từ chữ  “Благодаря” (Blagodaria) có nghĩa là “nhờ”, “nhờ có”.

[20] Tiếng Nga: “Литературная газета” – ra đời ngày 22.4.1929 theo sáng kiến của M. Gorki, cơ quan ngôn luận của Hội nhà văn Liên Xô, có nguồn cội từ tờ Báo văn của A. Pushkin.

[21] Tiếng Nga: “Литературный критик” – tờ nguyệt san chính thức ra đời vào tháng 6 năm 1933, lúc đầu do P.F. Iudin, sau đó do M.M. Rozhentan làm Tổng biên tập.

[22] Xem: Georg Lukacs – Bàn về chủ nghĩa hiện thực. M:. “Văn học nghệ thuật”, 1939 (tiếng Nga).

[23] Xem: Trương Đăng Dung – Christopher Caudwell//Lộc Phương Thủy (Chủ biên) – Lí luận, phê bình văn học thế giới thế kỉ XX. T.I,  Nxb Giáo dục, H., 2007, tr. 338 – 360.

[24] Xem: Phương Lựu – Tlđd, tr. 7.

[25] Phương Lựu – Tlđd, tr. 7 – 8.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: