LÍ LUẬN VĂN HỌC NGA HẬU XÔ VIẾT

LÍ LUẬN VĂN HỌC NGA HẬU XÔ VIẾT

A. Sự sụp đổ của nền lí luận văn học Xô viết chính thống

và tình trạng hỗn loạn

của nghiên cứu văn học Nga hậu Xô Viết

Chương I

Liên Xô trong bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội

cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI

Công trình nghiên cứu này có nhiệm vụ khảo sát cục diện của nền lí luận văn học Nga từ năm 1985 đến nay. Đây là giai đoạn Liên Xô tiến hành cải tổ, nhà nước Liên bang Xô Viết sụp đổ và sau đó là sự ra đời của Cộng đồng các quốc gia độc lập (“СНГ” – “SNG”). Ở thế kỉ XX, khi thế giới bị bổ đôi chia thành hai cực đối đầu, trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, khoa học nhân văn thuộc lĩnh vực tư tưởng hệ, phụ thuộc vào chính trị và chịu sự quản lí trực tiếp của bộ máy nhà nước. Số phận của văn học nghệ thuật và các khoa học xã hội – nhân văn lệ thuộc trực tiếp vào sự tồn tại của thể chế nhà nước và hệ thống chính trị của đảng cầm quyền. Cho nên, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô sụp đổ, lí luận văn học Nga lập tức phát triển theo một hướng mới. Vì thế, muốn nắm bắt xu hướng vận động của lí luận văn học Nga thời hậu Xô Viết, dứt khoát phải tìm hiểu tất cả những gì đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội, chính trị, văn hoá ở đất nước này trong vòng ngót ba chục năm trở lại đây.

Có hai sự kiện chính trị – xã hội từng làm thay đổi toàn bộ cấu trúcxu hướng vận động của lí luận văn học Nga.

1.1. Sự kiện có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là “công cuộc cải tổ” (“perestroika” -“перестройка”) do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.S. Gorbasev[1] và những người cùng chí hướng như A.N. Jakovlev khởi xướng. Đường lối “cải tổ” về cơ bản được hoạch định và thông qua tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô vào tháng 4 năm 1985. Lí luận, đường lối và cương lĩnh hành động của công cuộc “cải tổ” có cả một quá trình phát triển và được cụ thể hoá trong các Nghị Quyết Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXVII và XXVIII. Về đại thể, quá trình ấy gồm 3 giai đoạn: 1985 – 1986, 1987 – 1988, 1999 – 1991.

Giai đoạn thứ nhất (1985 – 1986): Gọi  là  thời  kì “Tăng tốc” (“ускорение”).Vì sao Liên Xô phải “cải tổ” và phải bắt đầu “cải tổ” bằng chiến lược phát triển “tăng tốc” như thế? M.S.Gorbachov nhiều lần nhấn mạnh rằng “cải tổ” là nhu cầu tất yếu và mang tính cấp bách. Mặc dù tư tưởng và cách tiến hành của ông càng về sau càng có nhiều thay đổi, nhưng động cơ thực hiện “cải tổ” thì rất rõ ràng: Liên Xô đứng trước nhiều thách thức, trước hết là thách thức kinh tế và chính trị. Trong cuốn sách nổi tiếng Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới [2]viết năm 1987, M.S. Gorbasev khẳng định: “Cải tổ là nhu cầu đã chín muồi, nẩy sinh từ quá trình phát triển sâu xa của xã hội xã hội chủ nghĩa chúng ta. Nó đã chín muồi để tạo ra những chuyển biến, có thể nói, nó làm nẩy sinh những chuyển biến trong sự đau đớn. Nhưng nếu kìm hãm công cuộc cải tổ thì ngay cả trong thời gian trước mắt có thể dẫn tới chỗ làm gay gắt thêm tình hình trong nước, tình hình xin nói thẳng ra là đã chứa đựng trong nó nguy cơ của một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội và chính trị trầm trọng”[3].

Trọng tâm cải tổ ở giai đoạn này là cải cách kinh tế. Thực ra vấn đề cải cách cơ cấu kinh tế đã từng được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách trong hai lầm cải cách được tiến hành vào giữa những năm 50 (thời N.S. Khrusev[4], sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô)  và những năm 60 (thời L.I. Breznev[5]) của thế kỉ trước.  Nhưng cả hai cuộc cải cách ấy đều không thu được kết quả đáng kể, nói đúng hơn, đều thất bại. Thời cầm quyền của L.I. Breznev còn được gọi là thời kì “trì trệ”. Từ nửa sau những năm 70, tình trạng “trì trệ” trở nên đặc biệt trầm trọng, những mâu thuẫn của xã hội Liên Xô ngày càng gay gắt và bắt đầu phát tác, gây ra hệ quả xấu cho nền kinh tế và đời sống tâm lí, chính trị, xã hội của nhân dân.  Về mặt kinh tế, sự trì trệ thể hiện ở một số mặt cơ bản như sau. Thứ nhất: nền sản xuất tiếp tục duy trì phương thức bao cấp và kế hoạch hoá duy ý chí theo mô hình được hoàn thiện từ những năm 40 và đầu những năm 50 của thế kỉ trước. Thứ hai: do ưu tiên phát triển bề rộng mà không khuyến khích phát triển chiều sâu, triển khai nhiều dự án tốn kém được tuyên truyền rầm rộ nặng về ý nghĩa tuyên truyền hình thức, lại trả lương theo mức chi tiêu kế hoạchkế hoạch hoá theo sản lượng (sản phẩm chế tạo ra càng đắt, càng nhiều nguyên liệu thì càng nhanh hoàn thành và vượt mức chỉ tiêu kế hoạch và càng có lợi cho người sản xuất), nền kinh tế vì thế kém hiệu quả, thiếu sức sống, việc áp dụng khoa học kĩ thuật bị kéo lùi, kỉ luật lao động suy giảm, năng suất lao động thấp, hàng hoá kém chất lượng, thiếu tính cạnh tranh so với phương Tây. Thứ ba: kinh tế dựa nhiều vào khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên dẫn đến tài nguyên cạn kiệt và ô nhiễm môi trường gia tăng. Thứ tư: mất cân đối nghiêm trọng giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa công nghiệp quốc phòng và công nghiệp dân dụng, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, công nghiệp và nông nghiệp, tuy đất đai rộng lớn và phì nhiêu, nhưng sản xuất nông nghiệp sa sút, càng ngày vấn đề nông nghiệp càng trầm trọng, đến cuối thời L. Breznev thì thật sự nóng bỏng. Năm 1982, khi L. Breznev qua đời, tỉ lệ tăng trưởng thu nhập quốc dân của Liên Xô chỉ còn 2,6%, đạt mức thấp nhất của thời kì chiến tranh. Vị trí của Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới bị Nhật Bản thách thức nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê của Liên Xô công bố, từ năm 1960 – 1965, thu nhập quốc dân của Nhật Bản tăng 5,4 lần, giá trị sản lượng công nghiệp tăng 6,5 lần, năng suất lao động công nghiệp tăng 4,3 lần, cùng thời kì, chỉ tiêu tăng trưởng tương ứng của Liên Xô là 3,8, 4,8 và 3 lần. Đến năm 1986, tổng giá trị sản phẩm xã hội của Mĩ là 3.900 tỉ đô la, Liên Xô – 1.800 tỉ đô la, Nhật Bản 1.700 tỉ đô la. Đầu năm 1988, quan chức Nhật Bản chính thức tuyên bố: Nhật Bản đã vượt Liên Xô, trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới[6].  Ta hiểu vì sao vừa lên cầm quyền, Iu.Vl. Andropov[7] đã lập tức đặt việc chỉnh đốn và phát triển kinh tế lên nhiệm vụ hàng đầu, kiên quyết làm thay đổi nền kinh tế sút kém. Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lập riêng Bộ Kinh tế và dưới sự chủ trì của Iu.Vl. Andropov, vấn đề kinh tế bao giờ cũng được đưa ra bàn bạc trong các cuộc họp hàng tuần của Bộ Chính trị. Nhưng trong hai năm cầm quyền ngắn ngủi, Iu.Vl. Andropov không thể đưa nền kinh tế Liên Xô thoát khỏi tình trạng trì trệ. Chính M.S. Gorbasev đã thừa nhận: “Cách nhìn trung thực và không thiên kiến dẫn chúng ta đi đến kết luận chắc chắn là: đất nước đang ở vào tình trạng tiền khủng hoảng”[8]. Đây là lí do giải thích vì sao việc xây dựng và cải cách kinh tế trở thành vấn đề thảo luận trọng tâm của Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô. Đại hội đặt mục tiêu đến năm 2000 tăng gấp đôi thu nhập quốc dân và tổng giá trị công nghiệp của Liên Xô, năng suất lao động tăng 2,3 – 2,5 lần, thu nhập thực tế bình quân đầu người tăng 60 – 80% và xác định chiến lược phát triển “tăng tốc” nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp được vận dụng để thực hiện chiến lược ấy là phát huy tính năng động của “yếu tố con người”(phát động thi đua xã hội chủ nghĩa, phát động chiến dịch chống tệ nạn rượu chè),  khai thác mọi tiềm năng xã hội, tăng ngân sách nhằm cải tiến kĩ thuật, siết chặt kỉ luật hành chính…

Đọc lại các văn kiện của Đảng và Nhà nước từ thời Iu.Bl. Andropov cầm quyền cho tới Đại hội XXVII[9], ta không thấy có bất kì một Nghị quyết nào về văn hoá văn nghệ, nhưng mỗi năm lại có đến mấy chục sắc lệnh, đạo luật về kinh tế, thậm chí, chỉ trong vòng mươi ngày mà liên tiếp có hai chỉ thị về việc chống tệ rượu chè[10]. Nhắc lại như thế để thấy, Đảng Cộng sản Liên Xô xem kinh tế là trọng tâm của cải tổ, chuyện đấu tranh tư tưởng hệ bị gạt xuống hàng thứ yếu, không còn xem văn nghệ là hàn thử biểu đấu tranh giai cấp, lí luận, phê bình văn học là nơi khởi đầu cho những cuộc đấu tranh chính trị. Đây là tiền đề văn hoá – xã hội quan trọng tạo ra không khí dân chủ, tự do, mở đường cho sự đổi mới văn học nghệ thuật nói chung, lí luận văn học nói riêng.

Giai đoạn thứ hai (1987 – 1988): “Cải tổ”“Сông khai” (“Перестройка” и “Гласность”). Chiến lược “tăng tốc” của M.S. Gorbasev và Đảng Cộng sản Liên Xô không mang lại kết quả mong muốn. Nền kinh tế Liên Xô không thể phát triển “tăng tốc”. Khủng hoảng ngày càng trầm trọng hơn. Cho nên, phải “cải tổ” tận gốc toàn bộ cơ cấu của nền kinh tế ấy. Đường lối cải cách giờ đây là xây dựng thể chế “chủ nghĩa xã hội hạch toán” (“хозрасчетный социализм”), thực chất là nới lỏng sự kiểm soát của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế. Năm 1988, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đứng đầu là Gorbasev rút ra kết luận rằng sự phát triển kinh tế bị hệ thống chính trị kìm hãm. Cho nên cải tổ kinh tế ngày càng có xu hướng chuyển trọng tâm sang cải tổ chính trị. Tại Hội nghị Đảng Cộng sản toàn quốc lần thứ XIX (từ ngày 28.6. đến 1.7 năm 1988), M.S. Gorbasev trình bày tư tưởng cốt lõi về cải tổ hệ thống chính trị ở Liên Xô. Có rất nhiều “nghị quyết”, “chỉ thị” được thông qua tại Đại hội này, ví như Nghị quyết Về những biện pháp cấp bách nhằm thực thi việc cải cách hệ thống chính trị của đất nước, Về các bước hiện thực hoá Nghị quyết Đại hội XXVII của Đảng và nhiệm vụ đẩy mạnh cải tổ, Về dân chủ hoá  xã hội xô viết và cải cách hệ thống chính trị, Về việc đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu, Về quan hệ quốc tế, Về cải cách pháp quyền[11]. Tất cả những “nghị quyết”, “chỉ thị” ấy tựu chung đều nhắm vằo mấy nội dung chính sau đây. Thứ nhất: xây dựng nhà nước “xã hội chủ nghĩa pháp quyền” thay thế nhà nước toàn trị hình thành từ thời Stalin. Dưới sự lãnh đạo của Gorbasev, ở Liên Xô bắt đầu hình thành một chính quyền kiểu mới, gọi là Đại hội đại biểu nhân dân (“Съезд народных депутатов”), biến Xô Viết tối cao thành cơ quan hoạt động thường xuyên, chức vụ lãnh đạo Đảng và Xô Viết tập trung vào một người từ trung ương tới địa phương, lập ra “Chủ tịch Xô Viết” thông qua luật bầu cử tự do. Thứ hai: xây dựng  xã hội công dân “minh bạch”, “công khai” (“гласность”), mở rộng tự do dân chủ, tự do ngôn luận, quyền được “nói”, được “biết” thay cho cơ chế kiểm duyệt và cấu trúc được thiết lập nhằm bảo vệ sự “bí mật” mà thực chất là giữ kín sự dối trá, chuyên quyền. Thứ ba: hình thành nguyên tắc tư duy chính trị kiểu mới trong đường lối đối ngoại: thừa nhận thế giới là toàn vẹn, không thể chia tách, đặt các giá trị nhân loại cao hơn tính đảng, tính giai cấp, thừa nhận nguyên tắc cân bằng lợi ích là phương thức phổ quát trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế.

Giai đoạn thứ ba (1989 – 1991): Tiếp tục đẩy mạnh cải tổ hệ thống chính trị, mục đích cuối cùng là xây dựng nhà nước pháp quyền và chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng. Năm 1989, bắt đầu tiến hành bầu cử Đại hội đại biểu nhân dân, lần đầu tiên, đại hội được phát sóng trực tiếp trên vô tuyến truyền hình, các đại biểu được bầu chọn tự do. Ngày 12.3.1990, tại Đại hội bất thường đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ III, M.S. Gorbasev được bầu làm Tổng thống Liên Xô. Dưới áp lực mạnh mẽ của xã hội, Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản đã đưa điều 6 ra khỏi Hiếp pháp Liên Xô, tức là điều khoản quy định vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản.

1.2. Liên Xô tan rã là sự kiện thứ hai có ảnh hưởng trực tiếp tới khoa học xã hội – nhân văn nói chung, lí luận văn học nói riêng ở Nga. Thực tế chứng tỏ, tốc độ và quy mô các sự kiện trong những năm cải tổ làm mhữmg người chủ xướng lâm vào thế bị động, không còn kiểm soát được tình hình và bị cuốn theo các sự kiện. Cho nên, càng cải tổ, Liên Xô càng lún sâu vào khủng hoảng, bế tắc. Đến cuối những năm 80 của thế kỉ trước, những nền tảng quan trọng nhất của hệ thống Đảng và Nhà nước của Liên Xô đã bắt đầu sụp đổ. Vào năn 1989, người ta thấy xuất hiện nhiều đảng phái chính trị đối lập chống lại chế độ toàn trị của Đảng Cộng sản, một bộ phận các Đại biểu Nhân dân thống nhất thành lập khối “Trung gian” (“Межрегиональная группа”) cấp tiến đứng đầu là B. Yelsin[12].  Đại hội lần thứ XXVII (cũng là Đại hội cuối cùng, diễn ra từ ngày 2 đến 13 tháng 7 năm 1990) không thể thông qua cương lĩnh mới, đánh dấu sự tan rã ngay trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 12 năm 1989, và sau đó, tháng 4 và tháng 10 năm 1990, các Đảng Cộng sản 3 nước Ban Tích lần lượt tuyên bố rút ra khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ 1.1991, các đảng phái và phong trào chính trị được đăng kí chính thức hoạt động. Ở Kharkov, 47 đảng và phong trào của 12 nước cộng hoà  tiến hành “Hội nghị dân chủ” thông qua kiến nghị gửi Quốc hội, kêu gọi giải thể Liên Xô, thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập. Mâu thuẫn giữa trung ương và các nước cộng hoà ngày càng sâu sắc. Trước tình hình đó, ngày 19.8.1991, cánh bảo thủ trong Đảng Cộng sản Liên Xô và bộ máy quốc gia (gồm Chủ tịch Quốc hội Lukianov, Chủ nhiệm KGB Rriusev, Phó Tổng thống Janaev, Thủ tướng Pavlov) với lí do khôi phục sự thống nhất của Liên bang Xô Viết đã tiến hành đảo chính, lập Uỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp, tước bỏ quyền lực của Tổng thônga Liên Xô Gorbasev và đưa quân đội vào thủ đô. Nhưng lực lượng đảo chính không nhận được sự ủng hộ của dân chúng và quân đội, đảo chính càng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước cộng hoà và các thế lực chính trị lãnh đạo khu vực. Theo lời hiệu triệu của Tổng thống Liên bang Nga Boris Elsin, hàng vạn dân chúng Moscow vây quanh Nhà trắng, bảo vệ trụ sở của chính phủ Nga. Chỉ sau 2 ngày (21.8), đảo chính bị dập tắt. Gorbasev trở lại nắm quyền và tuyên bố từ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau đảo chính, tình hình diễn biến vô cùng mau lẹ. Ngày 24.8. 1991, Gorbasev yêu cầu giải tán Uỷ Ban Trung ương Đảng. Ngày 29.8.1991 Đảng Cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động, chính quyền Xô Viết trong toàn Liên bang bị giải thể. Ngày 6.9 Quốc hội bãi bỏ Hiệp ước Liên bang năm 1922, trao quyền hành cho cơ quan lâm thời. Ngày 25.11, các nhà lãnh đạo 7 nước cộng hòa từ chối không kí Hiệp ước liên bang mới mà họ từng tham gia soạn thảo. Ngày 8.12, tại Misk, thủ đô của Belorus, các nhà lãnh đạo 3 nước cộng hoà Nga, Belorus và Ukraina ra tuyên bố kí thoả thuận thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG – Содружество Независимых Государств), chấm dứt sự tồn tại của Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. Ngày 21.12, tại Alma Alta, thủ đô Kazakhtan, tất cả các nước cộng hoà, trừ 3 nước vùng biển Baltic, kí tuyên ngôn tôn trọng các tôn chỉ và mục đích của thoả thuận thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập. Và cuối cùng, ngày 26.12.1991, Liên Xô chính thức chấm dứt sự tồn tại[13].

Công cuộc cải tổ và sự tan rã của Liên Xô là những sự kiện mang ý nghĩa cách mạng, tạo ra bước ngoặt, kéo theo sự thay đổi sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống của nước Nga, trong đó có văn học và các khoa học về văn học. Lí luận văn học Nga không thể đứng bên ngoài dòng thác của lịch sử. Có điều, tuy là hai hai chế độ chính trị khác nhau, nhưng nền tảng tạo nên Liên Xô trước kia và SNG ngày nay vẫn là nước nga, là dân tộc Nga và các tầng lớp nhân dân khác nhau sinh sống trên đất Nga với nếp cảm, nếp nghĩ, với những truyền thống bền vững hàng ngàn đời nay. Mà lịch sử sử tư tưởng Nga thì chưa bao giờ là một hiện tượng thuần nhất. Cho nên, Liên Xô mới có thể hiến tặng cho nhân loại một trong số những tài năng kiệt suất của thế kỉ XX: M.Bakhtin. Nói cách khác, nước Nga trước khi Liên Xô tan rã không chỉ sản sinh ra những công trình khoa học công thức, giáo điều, mà còn là quê hương của những học giả lớn. Chỉ riêng Viện Văn thế giới (IMLI) trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô sau 75 năm hoạt động (1932 – 2007) đã tạo ra được hàng trăm tên tuổi lẫy lừng rất có uy tín ở nước Nga và trên thế giới, như S.S. Averintsev, Iu. B. Vipper, M.M. Pokrovski,  M.L.Gasparov, N.I. Balasov, S.I. Sobolevski, G.P. Berdnikov, D.D. Blagoi, N.F. Belchikov, P.A. Nikolaev, L.I. Timofiev, G.I. Lodmize, F.F.Kuznetsov, V.M. Gatsak, L.D. Gromova, N.V. Kornienko, A.D. Mikhailov, V.V. Novikov, B.L. Riftin, E.R. Tenitshev, A.L. Toporkov…Công trình nghiên cứu của họ cho đến nay về cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị. Nghĩa là lịch sử dẫu có thay đổi thế nào, thì lí luận văn học trên đất nước Liên Xô trước kia và lí luận văn học Nga ngày nay vẫn có quan hệ mật thiết với nhau.

Cho nên, để miêu tả cục diện lí luận văn học Nga từ cuối những năm 80 của thế kỉ trước cho đến nay, chúng tôi vừa phải khảo sát sự tác động của hoàn cảnh chính trị – xã hội đến các khoa học văn học, vừa phải đặt nó vào chiều dài và bề dày của truyền thống văn hoá Nga. Chúng tôi sẽ chứng minh, một mặt, sự tan rã của Liên bang Xô Viết khiến cho nền lí luận văn học chính thống sụp đổ, tạo ra tình trạng hỗn loạn kéo dài hàng chục năm của nghiên cứu văn học. Nhưng, mặt khác, công cuộc cải tổ cho phép nước Nga rà soát lại lịch sử tri thức, đánh giá một cách khoa học, khách quan thực tiễn sáng tạo nghệ thuật, mở rộng biên độ nghiên cứu, tích cực và chủ động hội nhập với thế giới để xây dựng một nền lí luận văn học kiểu mới.

Chương II.

Sự sụp đổ của hệ thống lí thuyết chính thống

và tình trạng hỗn loạn của nghiên cứu văn học Xô Viết

Hơn hai chục năm nay, kể từ khi Trung Quốc tiến hành “cải cách mở cửa” và Việt Nam thực hiện công cuộc “đổi mới”, trên diễn đàn văn học ở cả hai nước, người ta đã tổ chức hàng trăm cuộc hội thảo lớn bé nói về sự yếu kém của lí luận, phê bình văn học và bàn kế sách thúc đẩy sự phát triển của nó. Quan sát những cuộc hội thảo như thế, đâu đâu tôi cũng nghe thấy “chúng khẩu đồng từ” nhất loạt đổ tội cho Liên Xô, xem việc trước kia mình bắt chước cái mô hình lí thuyết của ông “anh cả” để xây dựng nền lí luận văn học của dân tộc là nguyên nhân tạo nên sự yếu kém và tình trạng xơ cứng của nó về sau này. Nếu có chút hiểu biết về Liên Xô ta sẽ thấy, nói như thế là không thực sự cầu thị. Bởi vì nền lí luận văn học của Liên Xô chưa bao gìơ là hiện tượng thuần nhất. Ở Liên Xô, giai đoạn nào cũng vậy, bên dưới hệ thống lí luận văn học chính thống, còn có rất nhiều hệ thống lí thuyết phi chính thống. Mà những thứ phi chính thống này đều là “vàng mười”, chứ nào có phải là “thau” đâu! Đó là thi pháp học lí thuyết của Trường phái hình thức, là kí hiệu học văn hoá của Trường phái Tartu – Moscow, là di sản triết học, mĩ học của M. Bakhtin, người đã mở ra cả một  “hệ hình tư duy mới của thiên niên kỉ thứ ba”. Các nước Âu – Mĩ đã khai thác mỏ vàng ấy để tạo nên một thời đại lí luận văn học vô cùng giàu có, rạng rỡ kéo dài suốt từ những năm 60 cho đến hết những năm 80 của thế kỉ trước. Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã tìm thấy cho mình kho báu tri thức ở hệ thống lí luận văn học chính thống của Liên Xô. Chỉ tiếc, cùng với sự tan rã của Liên Xô, hệ thống lí luận này đã sụp đổ.  Vậy lí luận văn học chính thống ở Liên Xô là gì? Nó được hình thành từ bao giờ? Trước khi sụp đổ, nó có vị trí thế nào trong cấu trúc chỉnh thể của khoa nghiên cứu văn học Xô Viết? Phải trả lời được những câu hỏi như thế, ta mới hy vọng rút ra những bài học bổ ích cho việc xây dựng nền lí luận, phê bình văn học Việt Nam.

2.1. Ta biết, từ sau Cách mạng tháng Hai năm 1917, chính quyền Nga hoàng bị lật đổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik, ở nước Nga đồng loạt xuất hiện các tổ chức “hội đồng” (tiếng Nga: Совет), hay “Xô Viết” của công nhân, nông dân và binh lính để bảo vệ quyền lợi của chính họ. Nhưng trong 8 tháng, quãng thời gian giữa hai cuộc Cách mạng, có hai chính quyền song song tồn tại: Chính quyền trung ương là của Chính phủ lâm thời nằm ở bên trên, các sắc lệnh nó ban hành muốn được thực thi nhất thiết phải có sự chấp nhận của các Xô viết tồn tại ở bên dưới.  Sau Cách mạng tháng Mười, Chính phủ lâm thời của Aleksandr Fyodorovich Kerenski bị lật đổ, toàn bộ chính quyền mới thuộc về công – nông – binh, nhưng nước Nga lại rơi vào thời kì nội chiến vô cùng đẫm máu (1918 – 1922). Đến cuối năm 1920, về cơ bản, các lực lượng phản cách mạng đã thất bại, chính quyền Xô Viết được thành lập trên toàn lãnh thổ Đế quốc Nga.  Ngày 30 tháng 12 năm 1922, những vùng lãnh thổ còn lại của Đế quốc Nga tuyên bố thành lập một quốc gia mới là “Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết” (“Liên Xô”), gồm 6 nhà nước Xô Viết: Nga, Ukraina, Belorussia, Aizerbaidjan, Armenia, Gruzia. Đến năm 1925, Liên Xô có thêm hai thành viên là Uzbekistan, Turkmenia, năm 29 có thêm Tadjikistan, năm 1936 có thêm Kazakhstan, Kirgizia và đến năm 1940 lại có thêm Moldavia, Latvia, Litva, Estonia. Cùng với sự ra đời của nhà nước Liên Xô, người ta thấy xuất hiện các khái niệm “lí luận văn học Xô Viết”, “lí luận văn học Liên Xô”. Theo nghĩa rộng, các khái niệm ấy được sử dụng nhằm chỉ toàn bộ hoạt động và quá trình phát triển của bộ môn lí luận văn học trên đất nước bao la gồm 15 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết trong suốt 70 năm tồn tại (1922 – 1991) như thế. Tức là không nên đồng nhất khái niệm “lí luận văn học Xô Viết” với khái niệm “lí luận văn học chính thống của Liên Xô” như ta vẫn thường thấy trong giới nghiên cứu ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây[14].

   Liên Xô chính thức ra đời vào năm 1922. Nhưng hệ thống lí luận văn học chính thống của Liên Xô phài đến những năm 30 mới hình thành. Những năm 20 thường được gọi là thời kì quá độ của nền lí luận văn học Xô Viết. Gọi đó là giai đoạn quá độ vì lúc này, lí luận văn học tồn tại và phát triển trong tình thế đầy mâu thuẫn, trước hết là mâu thuẫn giữa đường lối chuyên chính về chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô với hình thái đa nguyên văn hoá trong đời sống tinh thần của xã hội.

Hình thái đa nguyên văn hoá gắn với những nguồn cội sau đây. Thứ nhất: Cách mạng tháng Mười mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử các dân tộc và lịch sử nghệ thuật của nước Nga, buộc ai cũng phải bày tỏ thái độ, bộc lộ quan điểm cá nhân. Hoạ sĩ Marc Chagall (1887 – 1985) nói về cuộc thay trời đổi đất của nước Nga bằng ngôn ngữ hình ảnh thế này: “Lênin đã dốc nước Nga chổng ngược chân lên trời, hệt như cách hành sử của tôi trong những bức tranh của mình”[15].  Thực tế lịch sử chứng tỏ, tầng lớp trí thức, nhất là trí thức hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật và các ngành khoa học xã hội nhân văn, đã thể hiện những thái độ rất khác nhau. Với nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà nghiên cứu, phê bình, Cách mạng là sự kiện vĩ đại, truyền cho họ cảm hứng sáng tạo và niềm tin vào tương lai. Nhưng quan niệm văn học của họ vô cùng đa dạng. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ lại công khai thể hiện thái độ thù địch với Cách mạng bằng cách di tản ra nước ngoài. Hoạt động của họ ở hải ngoại khiến cho bức tranh lí luận văn học Nga càng trở nên phức tạp. Thứ hai: Chính sách kinh tế mới (NEP: 1921 – 1929) do Lênin khởi xướng tạo ra một khoảng tự do tương đối cho hoạt động văn hoá, văn nghệ. Thứ ba: Vào những năm 20, Đảng Cộng sản Nga chưa kịp định hình chủ trương và hoàn thiện hệ thống phương pháp nhằm chính trị hoá và nhà nước hoá một cách hiệu quả các hoạt động nghệ thuật và khoa học. Có thể nhận ra điều đó qua Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Nga (B) Về đường lối của đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật được ban hành vào ngày 18 tháng 6 năm 1925[16]. Không phải ngẫu nhiên mà trong cuộc Hội nghị thảo luận văn kiện trên do Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản tổ chức vào tháng 5 năm 1924, N.I. Bukharin còn nêu chủ trương phải vận dụng tư tưởng của Lênin về sự cần thiết “hợp tác” với các giai cấp khác vào lĩnh vực văn học nghệ thuật.

   Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, hình thái đa nguyên văn hoá ở những năm 20 thể hiện rõ nhất qua sự nở rộ của vô số các hiệp hội và các nhóm văn học[17]. Có hai Hiệp hội rất lớn: Hiệp hội các nhà thơ toàn NgaHiệp hội các nhà văn toàn Nga. Hiệp hội các nhà thơ toàn Nga có trụ sở ở Moskva và Petrograd (Leningrad, Peterburg). Ở Moskva, Hội các nhà thơ hoạt động liên tục từ 1918 đến 1929 gắn với những tên tuổi lớn như V. Kamenski,V. Briusov, G. Senghel. Ở Petrograg, hoạt động của Hội này chia thành hai thời kì: 1920 – 1922 và 1924 – 1929, với sự tham gia của các nhà thơ A. Blok, N. Gumilev, I. Sadofiev, N. Tikhonov. Hiệp hội các nhà văn toàn Nga được thành lập năm 1918, do B. Zaisev làm Chủ tịch, cũng có hai chi nhánh ở Moskva và Petrograd. Ngoài ra, còn có thể kể thêm một số hiệp hội như “Hội các nhà hoạt động văn học nghệ thuật” (thành lập tháng 3 năm 1918 ở Petrograd, với sự tham gia của M. Gorki, A. Blok, N. Gumilev, A. Kuprin, E. Zamiatin, K. Tsukopski…), hoặc “Hội những người yêu văn chương Nga” (1910 – 1930, với sự tham gia của hầu hết các nhà văn, nhà thơ Nga nổi tiếng thời ấy, ví như L. Tolstoi, V. Solovief, V. Korolenko, V. Veresaev, M. Gorki, K. Balmont, D. Merezkopski, V. Briusov, A. Belưi, Vjach. Ivanov, M. Volosin, B.Zaisev, A, Kuprin, A. Berdjaev…).

Các nhóm văn học xuất hiện khắp mọi nơi và hoạt động trên cái nền của các đại Hiệp hội nói trên. Một số tài liệu thống kê cho biết, thời kì này, chỉ riêng ở Moskva đã có trên 30 nhóm văn học hoạt động[18].  Có thể tìm thấy trong các giáo khoa, giáo trình lịch sử văn học Nga, các loại từ điển “Thuật ngữ văn học”, “Bách khoa văn học”, “Bách khoa toàn thư”, “Đại bách khoa Xô Viết”… các khái niệm về những nhóm văn học sau đây:

– Nhóm DÂN SKIF (tiếng Nga: “СКИФЫ”, có  gốc từ tiếng Hy Lạp: “Σκύθαι”, là tên gọi các bộ lạc và tộc người Á – Âu cư trú từ Karpat đến Altai): chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (1917 – 1918), gồm các nhà văn, nhà thơ thuộc nhiều khuynh hướng, trường phái khác nhau: phái “tượng trưng”, “vị lai”,  phái “cực đỉnh”, đứng đầu là R. Ivanov – Razumnhik, cùng với những tên tuổi như A. Belưi, A. Blok, S. Klưchkov, S. Esenhin, P. Oresin, A. Tsapưgin, O. Phors, A. Remizov, E. Zamiatin, M. Prisvin…)

   – Nhóm CÁNH TẢ (ЛЕФ, 1922 – 1929): Được tập hợp dưới hình thức “Hiệp hội văn học – nghệ thuật” tại Moskva vào cuối năm 1922. Thành viên của nó gồm các nhà thơ (N.N. Aseev, V.V. Kamenski, S.I. Kirsanov, P.V. Nheznamov…, sau đó có thêm B.L. Pasternak), hoạ sĩ (A.M. Rodchenko, B.F. Stepanov, VC.E. Tatlin…), các nhà lí luận, phê bình nghệ thuật, các nhà giáo của Trường Đại học mĩ thuật công nghiệp quốc gia[19] (B.I. Arvatov, O.M. Brik, N.F. Tsuzak, V.B. Sklopski, B.A. Kusnher, A.M. Lavinski…).

   – Nhóm HÌNH TƯỢNG LUẬN (ИМАЖИНИЗМ – có nguồn gốc từ tiếng Latin “imago”- nghĩa là hình tượng): Xuất hiện ở Nga vào năm 1918, trên cơ sở hoạt động thực tiễn của trường phái “vị lai”. Đầu năm 1919, tuyên ngôn của nhóm được công bố trên các tạp chí Sirenia (Voronez) và Đất nước Xô Viết (Moskva). V. Sersenhevich, A. Mariengof, S. Esenhin, A. Kusikov, R. Ivnhev, I. Gruzinov…là những thành viên chủ chốt làm thành hạt nhân của nhóm này. Hoạt động của họ gắn chặt với hai nhà xuất bản Imanis, Tsikhi – Pikhi, một số hiệu sách và phòng trà Stoilơ Pegas. Họ còn xuất bản tạp chí Khách sạn dành cho khách lữ hành bước vào thế giới của cái đẹp. Tạp chí ra được 4 số, đình bản vào năm 1924, và chẳng bao lâu sau đó nhóm hình tượng chủ nghĩa cũng tan rã.

   – Nhóm CẤU TRÚC LUẬN (КОНСТРУКТИВИЗМ): Là một trong số những khuynh hướng nghệ thuật mới, nghệ thuật tiên phong chủ nghĩa, trước hết là ở các bộ môn nghệ thuật tạo hình, nhiếp ảnh, điêu khắc, trang trí, được xem là hiện tượng thuần Nga, xuất hiện sau Cách mạng tháng Mười, đặc biệt phát triển từ 1920 đến 1930. Năm 1923, với việc thành lập Trung tâm văn học của các nhà cấu trúc luận, chủ nghĩa cấu trúc tuyên bố đã trở thành một trào lưu trong văn học (chủ yếu là thơ) với sự tham gia của các nhà thơ Ilia Selvinski, Vera Inber, Vladimir Lugovski, Boris Agapov, các nhà nghiên cứu văn học, Korneli Zelinski, Alecsandr Kviatkovski. Từ đầu năm1930, các nhà cấu trúc luận trở thành đối tượng bị RAPP (РАПП) bức hại và thế là họ buộc phải tự giải tán.

   – Nhóm ANH EM SERAPIONOV (СЕРАПИОНОВЫ БРТЬЯ): Là nhóm hội văn học (bao gồm các nhà văn, các nhà thơ và nhà phê bình) được thành lập ngày 1 tháng 2 năm 1921 tại Petrograd (Peterburg – Leningrad). Danh xưng của nhóm được đặt theo nhan đề cuốn tiểu thuyết của nhà văn Đức  Ernst Theodor Amadeus Hoffmann (1776 -1822), tác phẩm miêu tả tình bạn của các nhân vật cùng lấy chung một họ “Serapionov”. Thành viên chủ chốt của nhóm gồm có L. Lunse, I. Gruzdev, M. Zosenko, V. Kaverin, N. Nikitin, M. Slonimski, V. Sklovski, Vl. Pevznere, E. Polonskaja, K. Phedin, N. Tikhonov, Vs. Ivanob. Giữ vai trò lãnh đạo tư tưởng và nghệ thuật của nhóm là E. Zamejatin. Vào những năm 1923, 1923, nhóm này bắt đầu suy yếu và đến năm 1926 thì hoàn toàn tan rã.

– Nhóm CÁI ĐÈO (ПЕРЕВАЛ): Tồn tại gần 10 năm, từ 1923 đến 1932, dưới sự lãnh đạo của A. Voronski, tập họp quanh tạp chí Đất hoang đỏ. Danh xưng của nhóm được đặt theo nhan đề một bài báo của A. Voronski Trên đèo (Sự nghiệp văn học (“На перевале (Дела литературные)”). Lúc đầu, thành phần của nhóm chủ yếu là mấy nhà thơ: M. Svetlov, M. Golodnưi, A. Jasnưi…, về sau mới có sự tham gia đông đảo của các cây bút văn xuôi: A. Malưskin, I. Kataev, V. Gubere, N. Zarudin, M. Barsukov, L. Zavadovski, N. Smirnov, M. Prisvin, N. Ognev, A. Vesiolưi, A. Karavaeva, P. Sirjaev, A. Platonov, I. Evdokimov, R. Akulsin, A. Peregudov, , M. Vikhrev, V. Rjakhopski, P. Pavlenko, A. Novikov, P. Svelov, các nhà thơ: D. Semenovski, N. Tarusski, N. Drujinhin, P. Nasedkin, B. Kovưlev, N. Demelchiev, E. Erkin; các nhà phê bình: A. Lejnhiev, D. Gorbov, S. Pakentreigere, N. Smirnov, N. Zamoskin…Vì bất đồng chính kiến, hàng loạt thành viên đã ra khỏi Nhóm. Ngày 23 tháng 4 năm 1923, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô ra Nghị quyết Về việc cải tổ các tổ chức văn học – nghệ thuật. Sau Hội nghị toàn thể lần thứ nhất Ban Tổ chức Hội nhà văn lien Xô (29 tháng 10 đến 3 tháng 11 năm 1932), nhóm Cái đèo chính thức đệ đơn xin giải thể.

   – ПРОЛЕТКУЛЬТ (ПРОЛЕТКУЛЬТ): Là tên viết tắt của các Tổ chức văn hoá – giáo dục vô sản, chính thức hoạt động từ ngày 19 tháng 10 năm 1917 (tức chỉ 1 tuần sau ngày thành công của Cách mạng tháng Mười), vào các năm 1918 – 1920 xuất bản nhiều tạp chí được chính quyền ủng hộ, ví như tờ Tương laiNgọn lửa ở Petrograd, hoặc tờ Văn hoá vô sản, Sáng tạo ở Moskva. Proletkult có chi nhánh hoạt động ở hầu hết các tỉnh và thành phố lớn, tập hợp được một đội ngũ đông đảo các nhà thơ, nhà văn chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp chủ yếu xuất thân từ thành phần thợ thuyền. Có nhiều nhà hoạt động văn hoá, nghệ thuật và giáo dục nổi tiếng như A. Lunasaski. A. Bordanov, F. Kalinin, V. Poljanski, St. Krivsov, V. Pletnhev, P. Kerzensev, N. Masirov – Samobưtnhik, N. LukinV. Ignatov…Tổ chức này cũng thu hút được nhiều nhà văn, nhà thơ vô sản ưu tú, ví như M. Herasimov, A. Gaschev, V. Alecsandrovski, V. Kirillov, P. Bessalko, S. Obradovich, A. Pomorski, I. Sadofiev, G. Sandnickov… Trong thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga (b) Về các Proletkult, V. Lênin phê phán nghiêm khắc hoạt động của tổ chức này và đến đầu những năm hai 20, nó bị giải tán hoàn toàn trong hệ thống tổ chức hành chính.

   – Nhóm THỢ RÈN và VAPP, VOAPP (КУЗНИЦА И ВАПП, ВОАПП): “Thợ rèn” được sáng lập vào năm 1920 bởi các nhà thơ tách ra từ “Proletkult”: V. Alecsandrovski, G. Sandnickov, M. Herasimov, V. Kazin,  S. Obradovich, V. Kirillov,  N. Poletaev. Cơ quan ngôn luận của họ là tạp chí Thợ rèn (từ 1920 đến 1922) và tờ Tạp chí công nhân (1924 – 1925). Vào giữa những năm 20, trong nhóm này xuất hiện một đội ngũ những cây bút văn xuôi gây được nhiều tiếng vang: F. Gladkov, N. Ljasko, A. Novikov – Priboi, P. Nizovoi, V. Bakhmechiev…Đến năm 1931, nhóm Thợ rèn nhập vào VAPP.

   VAPP (ВАПП): Là tên gọi tắt của Hội các nhà văn vô sản toàn Nga (Всероссийская ассоциация пролетарских писателей). Nó có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ cho văn học vô sản, tổ chức họ thành một thể thống nhất và soạn thảo các cương lĩnh, chương trình hoạt động sáng tạo. Năm 1928, VAPP lại nhập vào VOAPP (ВОАПП).

VOAPP (ВОАПП): Là tên gọi tắt của Liên hiệp các hội nhà văn vô sản toàn Liên Xô (Всесоюзное объединение Ассоциаций пролетарских писателей). VOAPP được thành lập năm 1928, tại Đại hội các nhà văn vô sản toàn Liên Xô lần thứ nhất. Thành phần của VOAPP gồm: RAPP (RSFSR – Hội các nhà văn vô sản Nga), VUSPP (USSR – Hội các nhà văn vô sản Ucraina), Hội Beloruss, Ngoại Kapkaz, Turkmenistan, Uzbeckistan và nhóm Cái đèo.

RAPP (РАПП – Российская ассоциация пролетарских писателей- Hội các nhà văn vô snr Nga): Chính thức thành lập vào tháng Giêng năm 1925, là tổ chức văn học hùng mạnh nhất ở những năm 20. Trong khuôn khổ của VOAPP, RAPP đứng ở vị trí hàng đầu, có nhiệm vụ tập họp lực lượng mọi lực lượng sang tạo, đoàn kết hàng ngũ cán bộ vô sản chủ chốt thành một đội quân thống nhất trên mặt trận văn học. RAPP có nhiều nhà văn tầm cỡ, như A. Fadeev, A. Serafimovich, Iu. Libedinski…Trong mọi hoạt động của RAPP, các nhà văn A. Fadeev, Iu. Libedinski, V. Stavski và các nhà phê bình L. Averbakh, I. Grossman – Rosin, A. Selivanovski, V. Ermilov, G. Lelevich là những người tham gia tích cực nhất. Suốt một thời gian dài, nó được xem là lực lượng truyền bá đường lối của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực văn học. Nhưng đến năm 1932, RAPP vẫn bị giải thể theo tinh thần Nghị quyết Về việc cải tổ các tổ chức văn học – nghệ thuật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô (Ngày 23 tháng 4 năm 1932).

Hình thái đa nguyên văn hoá ở những năm 20 không chỉ thể hiện qua hoạt động của vô số nhóm văn học, mà chủ yếu còn thể hiện ở tình thế  lựa chọn tự do (alternative) các quan niệm tư tưởng – nghệ thuật.  Cho nên, điều thú vị là, nhóm văn học nào cũng tự nhận là đại diện chân chính cho tư tưởng thẩm mĩ của thời đại mới, thời đại cách mạng vô sản, nhưng quan niệm nghệ thuật của họ nhiều khi đối lập, trái ngược với nhau, thậm chí, có nhận ra sự đối lập, trái ngược như thế trong phạm vi mỗi nhóm. Chẳng hạn, nếu Hình tượng luận bảo vệ quan niệm về một thứ nghệ thuật trống rỗng nội dung, thì nhóm Cánh tả lại tuyên ngôn cho những quan niệm xã hội học nhiều khi rất dung tục.

Các nhà Hình tượng luận khẳng định tính ưu thắng của hình tượng đối với tư tưởng, “hình tượng đánh bại ý nghĩa”, “mọi thứ nội dung trong tác phẩm nghệ thuật cũng vô nghĩa và nhảm nhí chẳng khác gì cái nhãn mác được cắt ra từ tờ báo đem dán lên bức tranh”…V. Sersenhevich nói: “Nhà thơ ấy là kẻ điên rồ ngồi trên toà nhà chọc trời đang rừng rực khói lửa mà vẫn điềm tĩnh gọt nhọn cây chì màu để hoạ lại đám cháy.  Nếu xông vào cứu hoả, dập tắt đám cháy, anh ấy sẽ thành một công dân, mà đã là công dân thì anh ta không còn là nhà thơ nữa”. Nhóm Cánh tả dĩ nhiên không thể tán thành với một quan niệm nghệ thuật như thế. Họ cho rằng, chỉ Cánh tả mới có thể trở thành lực lượng  “bá  quyền” của văn học cách mạng” .Tư tưởng mĩ học của nhóm Cánh tả được phát biểu tương đối đầy đủ trong Thư viết về chủ nghĩa vị lai của Majakopski và trong bản tuyên ngôn tập thể Cánh tả chiến đấu vì cái gì”[20]. Các ghệ sĩ Cánh tả tìm mọi hình thức để nối kết nghệ thuật với cách mạng. Họ cho rằng nghệ thuật là bậc thang thuận tiện dẫn nghệ sĩ đến với sản xuất, từng lĩnh vực nghệ thuật phải am hiểu thấu đáo kĩ nghệ riêng của mình đúng như ý nghĩa và quan niệm mà lĩnh vực sản xuất vẫn sử dụng. Chính những người Cánh tả đã đặt nền tảng lí luận cho cái được gọi là “nghệ thuật sản xuất” và “đơn đặt hàng xã hội” để sau này Stalin đưa ra định nghĩa “nghệ sĩ là kĩ sư tâm hồn”. Đồng nhất nghệ thuật với sản xuất, nhóm Cánh tả chỉ thừa nhận loại văn học tư liệu xác thực. Họ đề cao một cách cực đoan vai trò của kí sự, bút kí, khẩu hiệu, phủ nhận hư cấu, ước lệ nghệ thuật và mọi sự khái quát trong sáng tác văn học. Cần biết, những người Cánh tả từng là thành viên của nhóm Vị lai. Họ tự tách ra và đặt danh xưng như thế nhằm đối lập với Phái hữu trong nhóm văn học này. Tức là quan điểm nghệ thuật của nhóm Vị lai ở Nga vốn cũng rất phức tạp[21].

Nếu đem Dân Skif đặt bên cạnh Proletcul, hoặc RAPP, ta càng thấy sự đa dạng của quan niệm nghệ thuật trong đời sống văn học ở nước Nga vào những năm 20. Như đã nói, bản thân Dân Skif  là tập hợp của những nhà văn thuộc nhiều trường phái, khuynh hướng khác nhau. Nhưng nhìn chung, tuyên ngôn nghệ thuật của nhóm này thường thấm đẫm tâm trạng thất vọng trước cuộc Cách mạng tháng Hai. Sau tháng Mười, họ xem cách mạng giống như một thứ thiên đường của nông dân. Vị chủ soái của nhóm này là Ivanov – Razumnhik thường quay về với nguồn cội Slavơ cổ xưa của nền văn hoá Nga để tìm kiếm cái đẹp, và vì thế, ông đặc biệt coi trọng ý nghĩa của chủ nghĩa tượng trưng huyền thoại. Lí luận của Proletcul lại đặc biệt nhấn mạnh tính giai cấp lập trường vô sản trong tất cả các lĩnh vực mĩ học, đạo đức và tư tưởng hệ.  Họ đề cao cái “ta” tập thể và tính ưu việt của hoạt động thực tiễn, phủ nhận cái “tôi” cá nhân và các hoạt động sáng tạo tinh thần. Họ xem sáng tạo nghệ thuật cũng giống như “tổ chức” kinh nghiệm tập thể của con người dưới dạng những “hình tượng sống”[22]. Họ không chấp nhận di sản văn hoá của các thời đại trước để lại, họ đem văn hoá vô sản đối lập với mọi nền văn hoá khác. Theo họ, “sự thống nhất của hứng khởi” với máy móc (chủ nghĩa cơ giới) và cái nhìn thế giới từ quan điểm “lao động – tập thể” là những nguyên tắc thẩm mĩ phù hợp nhất với tâm lí, tình cảm của giai cấp công nhân. Nhận về mình sứ mệnh đào tạo các nhà văn xuất thân từ giai cấp công nhân, Proletcul tự tách ra khỏi mọi tầng lớp xã hội, kể cả nông dân và trí thức. Một lí luận gia của Proletcul là Fedor Kalinin quả quyết, rằng chỉ nhà văn – công nhân mới có thể nghe được tiếng “thì thầm trong tâm hồn” cùa giai cấp vô sản.  Về cơ bản RAPP đã kế thừa khuynh hướng xã hội học dung tục của Proletcul. RAPP tuyên bố trước bàn dân thiên hạ, rằng họ không chỉ là tổ chức văn hoá vô sản, mà còn là đại diện duy nhất của Đảng trong lĩnh vực văn học, nên kẻ nào chống lại RAPP tức là chống Đảng.  Tuy nhiên, khác với Prolecul, RAPP kêu gọi học tập các tác gia cổ điển, đặc biệt là L. Tolstoi. Về phương diện này, có thể thấy, tư tưởng thẩm mĩ của RAPP có khuynh hướng quay trở về với những truyền thống của chủ nghĩa hiện thực[23].

Nói về quan điểm nghệ thuật của các khuynh hướng văn học ở những năm 20, không thể không nhắc tới Trường phái hình thức Nga (РУССКАЯ  ФОРМАЛЬНАЯ  ШКОЛА), một khuynh hướng nghiên cứu chính thức xuất hiện vào năm 1914 với những tên tuổi lớn như Viktor Shklovski (1893-1984), Boris Eikhenbaum (1886-1959), Boris Tomashevski (1890-1957), Yuri Tynhianov (1894-1943), Roman Jakobson (1895-1982), Vladimir Propp (1895-1970), Viktor Vinogradov (1895-1969), Osip Brik (1888-1945)…Về trường phái này, chúng tôi sẽ giới thiệu kĩ hơn trong phần tiếp theo của công trình. Ở đây chỉ xin nhắc lại ý kiến của L.B. Samin, tác giả mục từ Trường phái hình thức Nga trong Bách khoa từ điển Văn hóa học thế kỉ XX.  Ông viết: “Với những công trình lịch sử văn học, lịch sử nghệ thuật, nghệ thuật học, các nhà hình thức luận là chuẩn mực rất cao của sự uyên thâm, thông thái trong khoa học nhân văn và đã có cống hiến to lớn cho nền văn hoá Nga thời Xô Viết, nhưng vào những năm 30, họ bị phê bình marxiste chính thống “đánh cho tơi tả”, buộc phải thừa nhận “những sai lầm” của mình, rồi bị đẩy vào trong bóng tối, và sau này, đến những năm 60, họ trở thành huyền thoại – hồi ức về hình thái đa nguyên của những năm 20, khi hệ thống lí thuyết của họ được thừa nhận và được công bố”[24]. Ý kiến này không chỉ nêu nhận xét về Trường phái hình thức, mà còn chỉ ra bước ngoặt trong đời sống học thuật của Liên Xô ở giai đoạn quá độ chuyển từ những năm 20 qua những năm 30.

2.2. Những mầm mống đầu tiên của một nền lí luận văn học chính thống xuất hiện ngay từ những năm 20 trong quan điểm nghệ thuật của các nhóm văn học vô sản, như Proletcul, Cánh tả, Cái đèo, RAPP…Nhưng phải đến những năm 30, lí luận văn học chính thống của Liên Xô mới có đầy đủ điều kiện để hình thành như một hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, lí luận văn học chính thống được gọi là lí luận “marxiste”, hoặc “marxiste – leniniste”. Cánh cửa dẫn lí luận marxiste tới địa vị chính thống ở Liên Xô được mở ra bằng con đường hành chính, tổ chức, nhằm nhà nước hoá các hoạt động văn nghệ và khoa học. Như đã nói, vào những năm 20, trên đất nước Liên Xô có hàng trăm nhóm phái, hiệp hội văn học hoạt động. Đến những năm 30, tất cả những nhóm, phái đó đều “bị thủ tiêu” theo quyết định của đảng cầm quyền. Nghị quyết Về việc cải tổ các tổ chức văn học nghệ thuật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô ban hành vào ngày 23.4.1932 ghi rõ: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc quyết định: 1) thủ tiêu các hiệp hội nhà văn vô sản (VOPP, RАPP) ; 2) Tập hợp tất cả các nhà văn tán thành đường lối của chính quyền Xô Viết và có khát vọng tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội vào một hội duy nhất của các nhà văn xô viết trong đó có tổ chức của đảng cộng sản”[25]. Hội nhà văn, cũng như các Viện nghiên cứu văn học sau này, là tổ chức ghề nghiệp, nhưng cũng là cơ quan thực hiện chức năng kiểm soát nhà nước đối với các hoạt động văn nghệ và khoa học. Hội viên Hội nhà văn, nhà khoa học làm việc trong các Viện nghiên cứu được hưởng những quyền lợi mà người bị khai trừ ra khỏi các tổ chức ấy, hoặc người lao động tự do không thể có. Ví như họ được nhà nước trả lương, được tạo điều kiện xuất bản để công bố tác phẩm của cá nhân. Đây là cách thức biến Hội nhà văn và các Viện nghiên cứu văn học ở Liên Xô thành những cơ quan phát ngôn cho tiếng nói chính thống của Đảng và Nhà nước.

Nghị quyết của Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga Về đường lối của đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, ban hành ngày 18.6.1925 chỉ ra: “Chúng ta (…) đã bước sang thời đại cách mạng văn hoá nhằm tạo tiền đề để tiếp tục tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa”. “Giống như cuộc đấu tranh giai cấp nói chung chưa kết thúc, cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận mặt trận văn học cũng chưa thể kết thúc”[26]. Theo tinh thần của những “Nghị quyết” như thế, hoạt động văn nghệ và các khoa học về văn học không ngừng được chính trị hoá. Các thuật ngữ chính trị – xã hội và đấu tranh cách mạng được chính thức sử dụng như những thuật ngữ mĩ học, ví như “mặt trận” (“mặt trận văn học”), “đấu tranh”, “chiến đấu” (“chủ nghĩa Marxisme chiến đấu”), “chiến sĩ” (“nhà văn là chiến sĩ”), “vũ khí” (“văn nghệ là vũ khí đấu tranh giai cấp”), “ngòi bút – lưỡi lê”, “hiện thực xã hội chủ nghĩa”…Cho nên, ngay từ những năm 20, trong hoạt động văn nghệ ở Liên Xô đã thấy có sự phân biệt “nhà văn vô sản” với “những người bạn đường” (“Попутчики”), “nhà văn cách mạng” với “phản cách mạng”. Về sau, trong nghiên cứu khoa học, thường xuyên có sự đối lập giữa lí luận “marxiste” với “phi marxiste”, “lí luận marxiste” với “lí luận tư sản”. Lí luận văn học “tư sản” được xem là thứ “giả, nguỵ” luôn luôn thù địch với lí luận marxiste. Còn “lí luận phi marxiste”, tuy cũng có những hạt nhân hợp lí, nhưng về cơ bản, xa lạ với giai cấp vô sản. Chính vì thế, suốt một thời gian dài, các khuynh hướng, trường phái lí luận “tư sản” và ‘phi vô sản” trở thành đối tượng phê phán thường trực của các nhà khoa học Liên Xô. Mãi đến những năm 70, người ta mới giới thiệu một cách dè dặt một số hệ thống lí thuyết của ngành ngữ văn học phương Tây, như lí thuyết thông tin, chủ nghĩa cấu trúc, cấu trúc – kí hiệu học…, và cũng chỉ xem đó như những tài liệu có thể tham khảo[27]. Nhiều quan điểm lí thuyết được khởi xướng ngay trên đất nước Liên Xô cũng có số phận đầy bi đát. Như đã nói, ở Liên Xô, suốt một thời gian dài, Trường phái hình thức Nga không có chỗ đứng trong đời sống khoa học , tên tuổi và công trình của M.Bakhtin dường như không được ai biết tới, bản thân M.Bakhtin bị lưu đày. Năm 1925, B.V. Tomasevski cho xuất bản giáo trình Lí luận văn học. Thi pháp học. Trong một bài bình luận viết ngay trong năm ấy, Pavel Medvedev (M.Kakhtin) nói rằng “không thể không thừa nhận đó là cuốn sách tốt nhất của chúng ta”, “công trình của Tomasevski vượt xa mọi cuốn “lí luận văn học” đã có và hiện có”. “Nói ngắn gọn, một cuốn sách giáo khoa nghiêm túc, sang sủa, hàm súc như thế, trước kia chúng ta chưa có và hiện nay cũng không có”[28]. Cho nên, chỉ trong vòng mấy năm, từ 1925 đến 1931, cuốn sách của B.B. Tomasevski được tái bản tới 6 lần. Nhưng năm 1931, B.V.Tomasevski bị đuổi khỏi trường Đại học Tổng hợp Leningrad, vì ông là “tín đồ của chủ nghĩa hình thức”, cuốn sách của ông cũng lập tức biến mất, mãi 29 năm sau, năm 1959, giới nghiên cứu lại mới được nhìn thấy nó[29]. Ta biết, Trường phái Tartu – Moscow chính thức xuất hiện từ đầu những năm 60. Nhưng cho đến cuối những năm 80, ở Liên Xô chưa thấy có cuốn giáo trình lí luận văn học nào viện dẫn các công trình của trường phái này như những tài liệu tham khảo chính thức. Thực tế cho thấy, cho đến tận cuối những năm 90 của thế kỉ trước, lí luận văn học marxiste vẫn tồn tại ở Liên Xô như một hệ thống lí thuyết chính thống.

Với tư cách là một hệ thống lí thuyết chính thống, lí luận văn học marxiste ở Liên Xô được kiến tạo từ những nguồn cội sau đây:

+ Thứ nhất: Tác phẩm kinh điển của K. Marx, F. Engels, V. Lenin. Vào đầu những năm 30, các bức thư của K. Marx và F. Engels gửi cho F. Lassalle, M. Kautsky, M. Harkness bắt đầu được dịch sang tiếng Nga và sau đó, năm 1938, xuất bản tuyển tập K. Marx và F. Engels bàn về nghệ thuật[30]. Năm 1932, A.V. Lunasarski công bố tiểu luận Lenin và nghiên cứu văn học. Bài viết này mở ra đường hướng cho việc nghiên cứu toàn bộ di sản của Lenin, nhất là những tác phẩm có quan hệ trực tiếp tới văn học nghệ thuật, ví như Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử (1905), Tổ chức đảng và văn học có tính đảng (1905), Kỉ niệm Ghersel (1912), hoặc loạt bài viết về L.Tolstoi (1908-1911). Năm 1969, để chuẩn bị kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Lenin (1870-1970), ở Leningrad người ta tổ chức xuất bản một công trình với nhan đề: Di sản Lenin và khoa học về văn học[31]

+ Thứ hai:  Những tác phẩm văn học sáng tác theo khuynh hướng cách mạng – vô sản, bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.  Trước hết đó là sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Nga từng rất quen thuộc với Việt Nam, như M. Gorki, V. Majakovski, A.N. Tolstoi, A.A. Fadeev, D. Furmanov, A.X. Xerafimovich, F. Gladkov, L. Leonov, K. Fedin…Ngay từ những năm 30, 40 của thế kỉ trước, những tác phẩm như Người mẹ, Kẻ thù của Gorki, trường ca Tốt lắm của V. Majakovski, Con đường đau khổ của A.A.Tolstoi, Sapaev của D. Furmanov, Suối thép của A.X. Xerafimovich, Chiến bại của A.A. Fadeev, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang của M. Solokhov…đã được xem là kiểu mẫu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sau này, khi nói tới nguồn cội của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, người ta còn nhắc tới sáng tác của một số tên tuổi của nhiều nước khác, như E. Jones (1819-1869, nhà văn Anh), G. Herwegh (1817-1875, nhà thơ Đức), G. Weerth (1822-1856, nhà văn Đức), F. Freillligrath (1810-1876, nhà thơ Đức), E. Pottier (1816-1887, nhà thơ Pháp, tác giả bài L’Internationale), A. Barbusse (1873-1935, nhà văn, nhà hoạt động xã hội Pháp)…Có thể gọi sáng tác của những nhà văn, nhà thơ nói trên là “sách mẫu”. Vì lí luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đã được khái quát chủ yếu từ sáng tác của những tác giả ấy.

+ Thứ ba: Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Liên Xô được thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết về văn học – nghệ thuật. Đây là cơ sở quan trọng nhất, quyết định toàn bộ hướng đi cũng như cơ cấu nội dung của lí luận văn học chính thống. Có thể liệt kê ra đây một loạt “Nghị quyết” từng tác động sâu sắc đến đời sống văn học và nghiên cứu, phê bình văn học, như:

– Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga (b) Về đường lối của Đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật (18.7.1925),

   – Nghị quyết Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc Về việc cải tổ các tổ chức văn học – nghệ thuật (23.4.1932),

   – Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc Về phê bình văn học và công tác thư tịch (1940),

   – Nghị quyết Ban Thường vụ tổ chứ cán bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn quốc Về các tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad” (14.8.1946),

   – Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô Về phê bình văn học – nghệ thuật (21.01.1972),

   – Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô Về việc tiếp tục cải tiến công tác tư tưởng và giáo dục chính trị (26.4.1979)…

   Được kiến tạo từ những nguồn cội như thế, hệ thống lí luận văn học chính thống ở Liên Xô có hai bình diện nội dung: bình diện nhận thức luận và bình diện tư tưởng hệ.

Ở bình diện nhận thức luận, lí luận văn học marxiste khẳng định, nghệ thuật là hình thái ý thức đặc thù thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng song song tồn tại và có quan hệ tương tác với các hình thái ý thức khác. Ở bình diện tư tưởng hệ, nó đề cao nguyên tắc tính đảng và yêu cầu văn nghệ phục vụ chính trị. Trong hàng loạt tác phẩm, như Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý (1896), Làm gì? (1902), Hãy học tập kẻ thù (1905), Chính đảng xã hội chủ nghĩa và tính cách mạng phi đảng (1905), Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử (1905), Tổ chức đảng và văn học có tính đảng(1905), V.I. Lenin nhiều lần nhấn mạnh mệnh đề văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đấu tranh giai cấp và nguyên tắc tính đảng trong khoa học xã hội – nhân văn, trong triết học và văn học nghệ thuật. Đây là ý kiến phát biểu của V.I. Lenin trong bài Tổ chức đảng và văn học có tính đảng: “Đả đảo những nhà văn không có đảng tính! Đả đảo những nhà văn siêu nhân! Sự nghiệp văn học phải trở thành một bộ phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phẩi thành “một cái bánh xe nhỏ và đinh ốc nhỏ trong cỗ máy xã hội –  dân  chủ vĩ đại, duy nhất và thống nhất, do đội quân tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển. Sự nghiệp văn học phải trở thành một bộ phận khăng khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch, thống nhất của đảng xã hội – dân chủ”[32]. Nguyên tắc tính đảng và yêu cầu văn nghệ phục vụ chính trị do V.I. Lenin khởi xướng được quán triệt, mở rộng trong nhiều “Nghị quyết” của Hội nhà văn qua các kì đại hội, “Nghị quyết” của Đảng Cộng sản Liên Xô và không ngừng được triển khai trong nghiên cứu khoa học[33] và thực tiễn sang tạo nghệ thuật. Cho nên, nếu đối sánh hệ thống luận điểm trong nhận thức luận, phản ánh luận của chủ nghĩa Marxisme – Leninisme với các nguyên tắc của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa và đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản, ta sẽ thấy, nội dung tư tưởng hệ mới thực sự là linh hồn của nền lí luận văn học Xô Viết chính thống.

Phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là linh hồn của nhận thức luận, phản ánh luận Marxiste – Leniniste. Lập trường duy vật lịch sử thể hiện ở hệ thống luận điểm về nguồn gốc, bản chất của văn học nghệ thuật. Lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn của cá nhân và xã hội là nguồn cội của văn học nghệ thuật. Văn học nghệ thuật là sản phẩm của những điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi thời đại. Hoàn cảnh kinh tế xã hội quy định cả đối tượng phản ánh, lẫn cách thức phản ánh hiện thực đời sống của văn học nghệ thuật[34]. Tinh thần biện chứng thể hiện ở học thuyết về sự phát triển không đồng đều giữa văn học nghệ thuật và nền tảng kinh tế xã hội, học thuyết về mâu thuẫn, về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập như là động lực tạo nên mọi sự phát triển.

Nhưng ở bình diện tư tưởng hệ, các “Nghị quyết” của Đảng đều khẳng định, sứ mệnh của giai cấp vô sản là thủ tiêu diệt mọi hình thứ áp bức bóc lột. Cuộc cách mạng do giai cấp vô sản tiến hành là cuộc cách mạng cuối cùng trong lịch sử nhân loại. Cách mạng vô sản thành công  cũng có nghĩa là lí tưởng đã trở thành hiện thực. Chân lí thế là đã được phát hiện, lịch sử hoá ra đã hoàn kết, xong xuôi. Cho nên, ngay từ năm 1934, Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ nhất đã thông qua Điều lệ quyết định chọn “hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp chính yếu của văn học hiện đại và phê bình văn học”[35]. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô (công bố vào những năm 1946-1948) đều có những chương mục nói về việc kiện toàn quan điểm lí luận của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Năm 1957 và 1959, nhiều cuộc tranh luận về chủ nghĩa hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa do Viện Văn học thế giới (“ИМЛИ”- IMLI) khởi xướng diễn ra rất sôi nổi. Cuộc tranh luận nào cũng dẫn tới những kết luận nhằm khẳng định: “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là giai đoạn mới phù hợp với quy luật phát triển của nghệ thuật thế giới, là câu trả lời duy nhất đúng dành cho cuộc tìm kiếm một nền văn hoá nghệ thuật tiên tiến của nhân loại, là hình thức tự nhận thức bằng nghệ thuật của các dân tộc đang đấu tranh vì sự giải phóng xã hội”[36]

Ngay từ năm 1934, tại Đại Hội nhà văn toàn quốc lần thứ I, phát biểu với các nhà văn, A.A. Zdanov[37] huấn thị: “Đồng chí Stalin gọi các đồng chí là những kĩ sư tâm hồn con người. Danh hiệu ấy đặt ra trước các đồng chí những trách nhiệm gì? Trách nhiệm thứ nhất là phải am hiểu đời sống để biết cách miêu tả nó một cách chân thực trong các tác phẩm nghệ thuật, không phải miêu tả theo kiểu giáo điều, chết cứng, càng không phải miêu tả một cách giản đơn giống như thứ “hiện thực khách quan”, mà miêu tả hiện thực trong sự phát triển cách mạng. Chẳng những thế, tính chân thật và tính cụ thể lịch sử của sự phản ánh nghệ thuật cần phải kết hợp với nhiệm vụ cải tạo tư tưởng và giáo dục quần chúng lao động theo tinh thần của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”[38]. Thế nào là “miêu tả hiện thực trong sự phát triển cách mạng”? Điều lệ Hội nhà văn Liên Xô ghi rõ: “Hội nhà văn Liên Xô đặt mục đích chính yếu là sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật có giá trị nghệ thuật cao, mang hơi thở cuộc đấu tranh anh hùng của giai cấp vô sản thế giới, thấm đẫm cảm hứng chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, phản ánh sự anh minh vĩ đại và chủ nghĩa anh hùng của đảng cộng sản. Mục đích mà Hội nhà văn Liên Xô đặt cho mình  là sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật xứng đáng với thời đại vĩ đại của chủ nghĩa xã hội”[39].  Rõ ràng, chức năng giáo dục mới thực sự là điểm then chốt của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở đây, nội dung nhận thức luận được thay thế hoàn toàn bằng nội dung tư tưởng hệ. Cho nên, sau này, các sách giáo khoa, giáo trình lí luận văn học được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học và cao đẳng  ở Liên Xô đều nhấn mạnh chức năng giáo dục và xem tính đảng cộng sản là linh hồn của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa[40].

Theo con đường nhà nước hoá, chính trị hoá, lí luận văn học Xô Viết đã triệt tiêu về cơ bản cơ chế lựa chọn làm nên tính phức điệu và trạng thái đối thoại văn hóa được hình thành trong “thế kỉ bạc”, nhất là ở những năm đầu, sau Cách mạng tháng Mười. Nhờ thế, mĩ học Marxiste – Leniniste ở bình diện tư tưởng hệ của nó trở thành hệ thống lí thuyết chính thống. Thời kì hiển hách nhất của nền lí luận chính thống kéo dài từ đầu những năm 30 cho đến hết những năm 50. Đây là thời kì đầy biến động của xã hội Xô Viết, Liên Xô chấm dứt “chính sách kinh tế mới” (НЭП), tập trung xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội toàn trị, bộ máy đảng bao trùm trong mọi chức năng xã hội. Đây cũng là thời kì chiến tranh tàn khốc. Thế chiến thứ hai đã làm hơn 20 triệu người Xô Viết thiệt mạng, hàng nghìn thành phố, làng mạc, các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, văn hoá của Liên bang Xô Viết bị thiêu huỷ. Trong hoàn cảnh ấy, cái mà cả xã hội Xô Viết quan tâm đối với văn học và khoa học ngữ văn chắc chắn không phải là bình diện hình thức và những vấn đề thi pháp, mà là hoàn thiện lí luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác và phê bình văn học. Cho nên, đây cũng là thời đại hoàng kim của nền lí luận văn học Xô Viết chính thống. Nhưng con đường nhà nước hoá, chính trị hoá nhằm triệt tiêu về cơ bản cơ chế lựa chọn làm nên tính phức điệu và trạng thái đối thoại văn hóa chính là con đường khiến cho nền lí luận ấy nhanh chóng bị quy phạm hoá, ngày càng trở nên xơ cứng và khi Đảng Cộng sản không còn là đảng cầm quyền, nhà nước Xô Viết tan rã, nó khó tránh khỏi sự sụp đổ.

2.3. Mục đích của công cuộc cải tổ do M.S. Gorbasev khởi xướng là giải phóng các tiềm năng chưa được khai thác của xã hội. Để giải phóng các tiềm năng ấy, cải tổ tìm cách nới lỏng sự kiểm soát tập trung của Đảng và Nhà nước trong một số lĩnh vực đời sống, tự do hoá ngôn luận, bầu cử cạnh tranh và tiến tới loại bỏ sự can thiệp của cơ cấu đảng vào kinh tế và một số mặt thuộc lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội. Vừa được nới lỏng tự do, văn nghệ liền lên tiếng, các khoa học xã hội cũng lập tức cũng chuyển động. Cuối năm 1986, người ta đã thấy những thay đổi đầu tiên trong lĩnh vực văn hoá. Trước hết là sự thay đổi của hàng ngũ lãnh đạo Hội nhà văn[41], các chi hội ở địa phương, Hội đồng lí luận phê bình, Tổng biên tập và Ban Biên tập của hàng loạt ấn phẩm văn học – nghệ thuật. Hoạt động lí luận, phê bình, ấn loát, xuất bản văn học trở nên vô cùng náo nhiệt. Trong vòng hai năm 1986 – 1987, sáng tác của V. Visoski[42] được xuất bản với khối lượng khổng lồ. Các tạp chí văn học mỗi số phát hành hàng triệu bản. Cả phê bình chuyên nghiệp lẫn phê bình đại chúng thảo luận rất sôi nổi về trước tác của những nhà văn Nga lưu vong, như I.A. Bunin, A.I. Solzenisin, V.P. Nhecrasov, G.N. Vladimov, P.A. Sorokin, V.E. Marsimov, hoặc những tác phẩm từng bị cấm vào những năm 20 – 30, nay mới được xuất bản, ví như Chúng tôi của E.I. Zamjatin, Hố móng của A.P. Platonov, Bác sĩ Jivago của B.L. Pasternak,  Những đứa con của Arbat của A.N. Ribakov, Cuộc đời và số phận của V.S. Grossman…[43] .

Giữa sự náo nhiệt ấy, người ta dễ nhận ra những dấu hiệu của sự hỗn loạn. Tình trạng hỗn loạn được thể hiện rõ nhất ở sự rối loạn của hệ thống chuẩn mực giá trị. Rất nhiều giá trị nghệ thuật từng được khẳng định mạnh mẽ dưới chế độ Xô Viết, tưởng như đã ổn định, nay được đưa ra xem xét lại. Khi xem xét lại như thế, người ta chia giới lí luận, phê bình thành hai phe, một bên là môn đệ Stalin, bên kia là những ai chống lại ông ấy. Trên tạp chí Tháng Mười, số 8 năm 1987, nhà phê bình trẻ Iu. Burtin còn đối lập “thời Stalin” với “thời Breznev”. Những sự đối lập như thế đã mở đường cho việc phủ nhận sạch trơn toàn bộ hệ thống xã hội và những giá trị văn hoá dưới chế độ Xô Viết. Chẳng hạn, năm 1928, tên của M. Gorki được mang ra để dặt cho nhiều thành phố, đại lộ, ga tầu điện ngầm, nhà hát, thư viện, công viên, thậm chí có cả những sân bay mang tên Gorki. N.N. Primochkina nhận xét: “Từ 1928 đến 1933 là thời gian sự thừa nhận chính thức của chính quyền Xô Viết dành cho Gorki lên tới mức cao nhất, ông ấy có thể lui tới nơi làm việc của những nhân vật cao cấp nhất, ân sủng mà người dồn cho ông ấy như nước chảy chỗ trũng”[44]. Nhưng từ cuối những năm 80, từ thành phố quê hương của Gorki, các thành phố khác, cho đến các ga tàu điện ngầm và ngay cả đại lộ mang tên Gorki ở Moscow… đều nhất loạt đổi tên. Người ta đề nghị đưa tác phẩm của Gorki ra khỏi chương trình đào tạo của nhà trường. Khi người ta thanh lọc hệ thống thư viện của Đảng Cộng sản, sách của Gorki thậm chí còn bị mang ra đốt[45]. Trong sự đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình, mới hồi nào, Gorki là “nghệ sĩ vĩ đại”, nay bỗng hoá thành “số không”, thành “Gorki cay đắng”[46]. Hoặc năm 1988, ở Liên Xô, người ta vẫn tiếp tục xuất bản loạt sách được gọi là “Cuộc đời những con người nhân vật phi thường”. Trong chuyên luận tương đối dày dặn của A.A. Mikhailov, Majakovski vẫn được xem là “nhà thơ tài năng nhất, kiệt suất nhất của thời dại chúng ta”. Nhưng cũng chính trong năm ấy, trên tờ Nghệ sĩ Moskva, một tờ báo có số lượng phát hành cực lớn, nhà điêu khắc V. Lemport tung ra nhận xét: “Majakovski chỉ muốn sao cho “ngòi bút sánh ngang với lưỡi lê”, Stalin tán thành ý tưởng ấy nên tiến hành thủ tiêu những quan niệm thi ca không giống như thế cùng những ai gieo rắc chúng”[47]. Xung quanh tên tuổi và sự nghiệp của Majakovski diễn ra những cuộc tranh luận nảy lửa. “Nhà thơ tài năng nhất, ưu tú nhất của thời đại chúng ta” hoá thành kẻ tòng phạm tiếp tay cho những cuộc khủng bố đẫm máu của Stalin, thành tác giả của những tác phẩm rất đáng ngờ về giá trị nghệ thuật[48]. Còn rất nhiều tên tuổi lớn bị giới phê bình bôi đen như thế. Tác giả Sông Đông êm đềm bị ghép vào tội đạo văn. Nhiều thế hệ từng rất yêu thích Mười hai chiếc ghế, nay tập thể tác giả cuốn tiểu thuyết bị kết tội “phỉ báng” tinh hoa trí thức của nước Nga cũ. L. Leonov, A. Fadeev và cả những tác giả mới “tái xuất” như M. Bulgakov, M. Tzvetaeva, O. Mandelstam cũng không thoát khỏi sự chỉ trích cay độc. Thái độ hư vô chủ nghĩa trong việc đánh giá di sản văn hoá trùm lên cả những tác gia cổ điển.  G.V. Plekhanov từng khẳng định, có những thời kì V. Bielinski vô cùng ngưỡng mộ F. Schelling, I.G. Fichte, G. Hegel, L. Feuerbach, để rồi cuối cùng  trở thành nhà tư tưởng lớn nhất của châu Âu. Thế mà bây giờ có nhà nghiên cứu quả quyết: “Bielinski đến với văn học từ phía bên trên, từ việc vận dụng những quan điểm triết học phổ quát. Nhưng việc muốn hiểu tác phẩm, muốn có phương pháp phân tích, muốn chiếm lĩnh quy luật của sang tạo nghệ thuật, người ta lại phải bắt đầu từ ở bên dưới, từ các tác phẩm nghệ thuật mà xây dựng khoa học về văn học. Belinski không có đủ thì giờ, sức lực và những điều kiện vật chất để làm việc ấy. Từ đó, tôi rút ra kết luận (…), nếu các bạn biết nhìn và thấy rõ, thì Belinski chẳng cần cho các bạn, nếu cáca bạn không thể thấy như thế thì nhà phê bình sẽ làm cho các bạn phải nhầm lẫn”. V. Belinski chính là “thời non trẻ ngây thơ của chúng ta” và cũng là “thời non trẻ ngây thơ” của một nền “phê bình chưa kịp trưởng thành”[49].  Tình trạng rối loạn chuẩn mực giá trị là bằng chứng nói lên sự sụp đổ của hệ thống lí luận chính thống.

Tất nhiên, sự hỗn loạn chỉ là cái phần nổi trên bề mặt của đời sống phê bình với những cuộc hội nghị, hội thảo được tổ chức liên miên trong giai đoạn cải tổ. Khi Liên Xô tan rã, đời sống kinh tế của đất nước trở nên vô cùng khó khăn, nhìn vào khối lượng phát hành của các tạp chí, các đầu sách được xuất bản trong khoảng thời gian 1991 – 1995, ta thấy hoạt động văn nghệ và nghiên cứu khoa học có vẻ lắng xuống. Nhưng rồi cả sự hỗn loạn thời cải tổ lẫn sự trì trệ sau khi Liên Xô sụp đổ đều được khắc phục. Từ cuối những năm 80 của thế kỉ trước, lí luận văn học ở các nước Âu – Mĩ bước vào thời kì khủng hoảng. Những sự kiện chính trị – xã hội ở Liên Xô làm sụp đổ hệ thống lí luận văn học chính thống, đồng thời cũng đặt nền tảng cho tư duy lí luận chuyển qua một thời đại mới với những bước đi đầy triển vọng. Theo dõi nội dung nhiều cuốn giáo khoa, giáo trình dành cho đại học và cao đẳng, hoặc bài vở đăng tải trên những tạp chí văn học lớn nhất của nước Nga trong vòng mươi năm trở lại đây, chúng tôi nhận thấy, đúng là hệ hình lí luận văn học lấy phản ánh luận của Lenin và tư tưởng hệ làm điểm tựa dường như đã hoàn toàn biến mất[50]. Mươi năm trở lại đây, không tìm thấy tạp chí nào còn đăng những bài viết về hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở nước Nga, hầu như không có trường đại học hoặc cao đẳng nào còn sử dụng các bộ giáo trình của những tác giả rất quen thuộc với độc giả Việt Nam như G.L. Abramovik, L.V. Sepilova, S.M. Petrov, L.I. Timofeev… Giờ đây, có những bộ giáo trình rất mới của các học giả như V.E. Khalizev, N.D. Tamartzenko, V.I. Chiupa, S.N. Broiman, hoặc tập thể tác giả của Viện Văn học Thế giới (IMLI) thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga. Bộ giáo trình do N.D. Tamartzenko chủ biên không hề nhắc tới phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa[51]. Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ chiếm một vị trí vô cùng khiêm tốn trong giáo trình của V.E. Khalizev[52] và bộ 4 tập của IMLI[53]. Và ở tất cả những bộ giáo trình ấy đều không thấy có phần viết về nguyên lí tính đảng, tính giai cấp của văn nghệ, hoặc phản ánh luận của Lenin.

Có cơ sở để khẳng định, ở nước Nga hiện nay, trong lĩnh vực lí luận văn học, tất cả đã thay đổi, một hệ hình lí thuyết kiểu mới đã thế chỗ cho hệ hình lí thuyết chính thống từng ngự trị già nửa thế kỉ.

  1. Diện mạo mới của nền l í luận văn học Nga hậu Xô Viết

 

Chương III

Di sản triết học, mĩ học và lí luận văn học của M. Bakhtin

trong nền lí luận văn học Nga hậu Xô Viết

Nền lí luận văn học Nga hiện nay được cấu thành bởi những bộ phận nào? Các bộ phận ấy có quan hệ với nhau ra sao? Nghiên cứu xu hướng vận động của nền lí luận văn học Nga ở giai đoạn cải tổ và thời hậu kì Xô Viết, không thể không tìm lời giải đáp cho những câu hỏi như thế.

Thoạt nhìn, môi trường cộng sinh của các khuynh hướng lí thuyết ở nước Nga hiện nay có vẻ như đang lặp lại hình thái đa nguyên văn hoá mà nền lí luận Xô Viết đã trải qua hồi đầu thế kỉ XX. Nhưng bước đi của lịch sử không đơn điệu, nghèo nàn như thế. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa hiện đại đề cao tinh thần duy lí một cách cực đoan, mọi khuynh hướng, trường phái triết học và mĩ học đều có tham vọng xây dựng cho mình một hệ thống lí thuyết nhất nguyên triệt để. Sự vận động của lí luận văn học Xô Viết ở những năm 20 không nằm ngoài quy luật ấy. Tinh thần duy lí cực đoan là mảnh đất nuôi dưỡng các trào lưu tiên phong chủ nghĩa và nhiều quan niệm nghệ thuật tả khuynh. Cho nên, hình thái đa nguyên văn hoá thời ấy đã ngầm chứa cả mầm mống của tư tưởng toàn trị mở đường cho sự hình thành của nền lí luận văn học chính thống sau này.

Gần ba chục năm nay, lí luận văn học Nga phát triển trong một tình huống văn hóa hoàn toàn khác. Có thể gọi đó là tình huống “đối thoại” mang tinh thần thời đại Bakhtin. Tình huống này là môi trường thuận lợi giúp quy tụ mọi tinh hoa lí thuyết của thế kỉ XX để hình thành một hệ thống lí luận phong phú, đa dạng. Đó là một hệ thống “mở”, luôn hướng tới những chuẩn mực giá trị toàn nhân loại. Nền tảng của hệ thống ấy là di sản triết học, mĩ học và ngữ văn học của M.M. Bakhtin, là sự hồi sinh của Trường phái hình thức, sự tiếp thu các khuynh hướng lí luận phương Tây, sự trở về của lí luận hải ngoại, sự khẳng định của Trường phái Tartu – Moscow và nhiều hệ thống lí luận cá nhân cùng những khái quát lí thuyết về chủ nghĩa hậu hiện đại trên cơ sở thực tiễn văn học Nga cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI.

Bộ phận cấu thành quan trọng nhất của nền lí luận văn học Nga thời hậu kì Xô Viết là di sản triết học, mĩ học và ngữ văn học của M. Bakhtin.

Mikhail Mikhailovik Bakhtin sinh ngày 17 (5) tháng 11 năm 1895, mất ngày 7 tháng 5 năm 1975 tại Moskva. Cuộc đời sáng tạo của con người giống như một huyền thoại ấy diễn ra trọn vẹn dưới chế độ toàn trị thời Liên Bang Xô Viết. Nhưng di sản triết học, mĩ học và ngữ văn học của M. Bakhtin thuộc về thời đại mới của nước Nga sau cải tổ và thuộc về tương lai của cả nhân loại. Di sản vĩ đại ấy không chỉ là bộ phận cấu thành mà còn là linh hồn của nền lí luận văn học Nga từ năm 1985 đến nay.

Trước cải tổ, lí luận văn học Xô Viết là một hệ thống khép kín trong khuôn khổ của nội dung tư tưởng hệ, thực chất là giai cấp luận. Trong vòng hai chục năm trở lại đây, nền lí luận văn học Nga là một hệ thống mở có khả năng tiếp nhận, hấp thụ nhiều xu hướng khoa học và những quan điểm lí thuyết trái chiều. Có cơ sở để khẳng định, đây là hệ thống lí luận văn học mang tinh thần thời đại Bakhtin.

Khái  niệm  “thời đại Bakhtin” được chúng tôi sử dụng theo cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, đó khái niệm nói về hiện tượng diễn ra ở những năm 90 của thế kỉ trước: sự bùng nổ của hoạt động xuất bản, phát hành tác phẩm của M.Bakhtin với một khối lượng khổng lồ tạo thành sự kiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử triết học và nghiên cứu văn học ở Nga, cũng như nhiều nước trên thế giới, trước hết là ở các nước Âu – Mĩ[54]. Theo nghĩa rộng, khái niệm chỉ hệ hình lí thuyết mở ra một thời đại mới trong tư duy khoa học.

Lịch sử công bố tác phẩm của M. Bakhtin có thể chia thành ba giai đoạn gắn liền với ba lần phát hiện về di sản vĩ đại của ông.

Giai đoạn thứ nhất kéo dài 45 năm, từ 1919 đến năm 1963. Di sản triết học và mĩ học đồ sộ của  M. Bakhtin chủ yếu được hoàn thành ở giai đoạn này. Nhưng suốt 45 năm ấy, nhiều công trình quan trọng bậc nhất của ông vẫn đành phải nằm im dưới dạng bản thảo. Năm 1919, M. Bakhtin công bố tác phẩm đầu tay có nhan đề Nghệ thuật và trách nhiệm trên Ngày nghệ thuật, một tờ almanach của vùng Nevel. Vào những năm 20, M. Bakhtin cho in một số công trình dưới những bút danh khác nhau, ví như: V.N. Volosinov.- Freudisme. Tiểu luận phê bình (1927), V.N. Volosinov.- Chủ nghĩa Marxisme và triết học ngôn ngữ: Những vấn đê cơ bản của phương pháp xã hội học trong khoa học về ngôn ngữ (1929), P.N. Medvedev.- Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học. Nhập môn phê bình thi pháp xã hội học (1928). Đầu năm 1929, cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoevski (dưới tên thật của tác giả) ra mắt công chúng. Nhưng trước đó, ngày 24 tháng 12 năm 1928, M. Bakhtin bị bắt và đến ngày 22 táng 7 năm 1929 ông bị kết án “5 năm tù giam trong trại tập trung”. Nhờ A.M. Gorki và A.N. Tolstoi tìm mọi cách xin ân xá, M.Bakhtin thoát khỏi án tù,, nhưng ông vẫn bị đầy biệt xứ đến Kustanai, một thành phố hẻo lánh ở miền Bắc Kazasstan. Ông sống ở đây gần 7 năm, làm kế toán tài chính cho liên đoàn kinh tiêu huyện. Mãn hạn đi đầy, M. Bakhtin vẫn bị cấm cư trú ở những thành phố lớn của Liên Xô. Năm 1936, M. Bakhtin được dạy học ở Saransk, nhưng chẳng bao lâu, ông lại buộc phải rời Saransk đến sống ở Kimri và những vùng lân cận. Tại đây, vì bệnh nặng, ông phải tháo khớp chân (1938). Năm 1945 ông được trở về Saransk. Năm 1967, Bakhtin được minh oan và năm 1969, ông trở về Moskva. Suốt 40 năm, M. Bakhtin sống như một người vô danh. Không mấy ai còn nhớ tới tên tuổi của ông, thậm chí không ít người nghĩ rằng ông đã chết[55]. Lúc bị bắt đi đầy, M. Bakhtin mới 33 tuổi. Tức là ở thời điểm tài năng đang nở rộ nhất, sức lực đang cường tráng, sung mãn nhất, M. Bakhtin đã bị tước quyền xuất bản những tác phẩm của mình. Thực ra, sau khi M. Bakhtin bị bắt, vẫn có 3 công trình của ông được công bố (cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoevski và hai bài báo về L. Tolstoi). Nhưng tất cả cũng chỉ có thế, ở thời ấy, mọi nỗ lực tìm cách xuất bản của M. Bakhtin đều thất bại. Cho nên, nhiều tác phẩm của M. Bakhtin đã phải chờ đợi vài ba chục năm, thậm chí hơn nửa thế kỉ mới có thể ra mắt bạn đọc. Sáng tác của Fraçois Rabelais và nền văn hoá dân gianTtrung cổ và Phục hưng (1946), hoặc Triết học hành vi (cuối 1923 – đầu 1924) là những trường hợp như thế[56]. Đây không chỉ là bi kịch của cá nhân M. Bakhtin, mà còn là bi kịch của một nền văn hóa.

Giai đoạn thứ hai: Những năm 60 đến giữa những năm 80. Tất cả những công trình quan trọng nhất của M. Bakhtin được xuất bản trong thời gian này. Năm 1963, cuốn Những vấn đề sáng tác của Dostoevski được sửa chữa, bổ sung và xuất bản dưới nhan đề mới: Những vấn đề thi pháp Dostoevski. Theo lời kể của V. Kozhinov, M. Bakhtin vô cùng vui mừng trước  sự kiện này[57], vì nó chứng tỏ ông lại có được cái quyền từng bị tước bỏ trong suốt 30 năm, ấy là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản. Cuốn sách liên tiếp được tái bản vào các năm 1967 và 1979. Trên cơ sở luận án bảo vệ năm 1946, cuốn Sáng tác của Fraçois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng được hoàn thiện và ra mắt độc giả vào năm 1965. Năm 1975, Nhà xuất bản “Văn học nghệ thuật” Moskva cho xuất bản cuốn Những vấn đề văn học và mĩ học. Cuốn Mĩ học sáng tạo ngôn từ in ở Nhà xuất bản “Nghệ thuật” năm 1979, và tái bản năm 1986. Một cuốn sách khác của M. Bakhtin cũng được in vào năm 1986, cuốn Những bài báo phê bình văn học. Phải kể thêm, sau 60 năm chờ đợi, năm 1980, cuốn Triết học hành vi ra mắt công chúng. Từ năm 1967, nhiều công trình của M. Bakhtin lần lượt được dịch ra tiếng nước ngoài. Các tạp chí thi nhau đăng tải các bài viết của M. Bakhtin. Xung quanh những công trình của M. Bakhtin thường xuyên diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi. Danh tiếng của M. Bakhtin ngày càng vang dội, nhất là trong giảng đường các trường đại học, đội ngũ những người sùng mộ ông ngày càng đông đảo hơn. Tuy nhiên, phải đến cuối những năm 80, đầu những năm 90, “thời đại Bakhtin” mới thực sự được mở ra.

Giai đoạn thứ ba: Từ nửa sau những năm 80 đến nay. Trong bài viết in trên tạp chí “NLO”, số 79, năm 2006, V. Markovik nhận xét: “Vào giữa những năm 80 lại xuất hiện một làn sóng mới, làn sóng đam mê Bakhtin vô cùng mạnh mẽ, đến những năm 90, làn sóng ấy hoá thành cuộc “Bakhtin đại náo loạn” vô cùng ầm ỹ”[58]. Viện Văn học thế giới (IML) bắt đầu biên soạn Tuyển tác phẩm M. Bakhtin. Bộ “Tuyển” này gồm 6 tập, được biên soạn hết sức công phu, các tập được xuất bản không theo trình tự từ trước tới sau, mà tập 5 in trước (1997), sau đó là tập 2 (2000), tập 6 (2002) rồi mới đến tập 1 (2003). Và có lẽ  vì quá cẩn trọng, cho nên tập 3 cho đến giờ vẫn chưa ra mắt độc giả. Tính đến năm 1993, các công trình của M. Bakhtin đã được ấn hành lên tới gần nửa triệu bản in[59]. Nhờ thế, “giờ đây, dẫu là ở thủ đô hay tỉnh lẻ, chẳng có người nào biết suy nghĩ mà lại không biết chút ít về trước tác của Bakhtin”[60]. Vào những năm 60 và 70, M. Bakhtin chủ yếu là đối tượng của phê bình. Nay di sản của ông trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu. Chỉ trong vòng 5 năm, từ 1988 đến 1992, ở các nước Âu – Mĩ đã có trên 40 đầu sách viết về M. Bakhtin[61]. Khoa Bakhtin học (“Bakhtinologie”, “Bakhtinovedenia”, “Bakhtinistika”) chính thức ra đời. Nhiều “Trung tâm” nghiên cứu Bakhtin được thành lập tại Moscow, Peterburg, Saransk, Vitebsk… Tạp chí Dialogue. Carnival. Chronotope (do N.A. Pankov làm Tổng biên tập) dành riêng cho việc nghiên cứu Bakhtin chính thức ra mắt bạn đọc vào năm 1992, tại Vitebsk, nơi M. bakhtin từng sống thời trẻ.

Như đã nói, ba giai đoạn xuất bản, công bố di sản của M. Bakhtin gắn liền với ba lần phát hiện rất khác nhau về tác phẩm của ông[62].

Lần thứ nhất, M. Bakhtin được phát hiện chủ yếu qua cái nhìn tư tưởng hệ của guồng máy nhà nước Xô Viết. Từ góc độ ấy, M. Bakhtin bị xem là “tội đồ”, tác phẩm của ông là sản phẩm độc hại. Về phương diện này, số phận đầy bi kịch của M. Bakhtin không phải là hiện tượng cá biệt. Hàng loạt học giả lừng danh của Liên Xô từng trải qua số phận đầy bi kịch như thế.. Nhiều người trong số họ bắt đầu hoạt động khoa học từ trước Cách mạng tháng Mười. Về sau, họ là giáo sư, Viện sĩ Thông tấn, Viện Sĩ Hàn lâm, được Nhà nước tặng thưởng huân chương, huy chương và nhiều danh hiệu cao quý, tên tuổi và uy tín khoa học của họ vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Thế mà cũng như M. Bakhtin, có một thời, họ bị đàn áp, bị truy nã, tù đày. Xin kể tên một số học giả rất quen thuộc với giới khoa học Việt Nam. Năm 1930, nhà triết học A.F Losev (А.Ф. Лосев. 1893 – 1988) bị bắt, bị đày lao động khổ sai ở trại cải tạo 10 năm. Ngày 19 tháng 6 năm 1922, nhà triết học S.N. Durylin (С.Н.Дурылин. 1886 – 1954) bị bắt lần thứ nhất, đến mùa thu năm 1927, ông lại bị bắt lần thứ 2. Năm 1930, nhà lịch sử học S.V. Bakhrusin (С.В.Бахрущин. 1882 – 1950) bị kết án đày đi Xemipalatinski. Nhà sử học S.B. Veselovski (С.Б. Веселовский. 1876 – 1952) bị tước quyền xuất bản, trên 10 năm không được công bố tác phẩm của mình. Năm 1930, nhà sử học E.V. Tarle (Е.В.Тарле. 1874 – 1955) bị bắt và tháng 8 năm 1931 ông bị đày tới trại cải tạo tại Kazastan. Nhà sử học N.V. Pigulevskaja (Н.В.Пигулевская. 1894 – 1970) cùng bị bắt một lần với M. Bakhtin. Nhà ngữ văn học V.V.Vinogradov (B.В. Виноградов. 1895 – 1969) bị đày đi laođộng ở trại cải tạo từ năm 1934 đến năm 1936. Tuy được trả tự do, nhưng Vinogradov vẫn bị liệt vào “thành phần xã hội nguy hiểm”, nên năm 1941, chiến tranh vừa xẩy ra, ông lại bị bắt (ngày 7.8.1941) và bị giam giữ cho đến ngày 2 tháng 6 năm 1943.  Các nhà sử học Iu.V.Gotie (Ю.В. Готье. 1873 -1943), B.D. Grekov (Б.Д. Греков. 1882 – 1955),  nhà ngữ văn học V.L. Komarovis (В. Л. Комарович) và nhiều học giả tài ba khác cũng từng bị “tù”, mà chẳng có “tội” gì. “Tội” lớn nhất của họ là dám viết những công trình nghiên cứu khoa học thể hiện quan điểm cá nhân khác với quan điểm chính thống thời ấy. A.F. Losev bị  lưu đầy 10 năm vì ông là tác giả của 2 cuốn sách Triết học tên gọi (1927) và Phép biện chứng của huyền thoại (1930). Stepan Borisovis Veselovski bị buộc tội theo “chủ nghĩa khách quan tư sản”, và “nghiên cứu xã hội phong kiến hàng chục năm mà không sử dụng tác phẩm nổi tiếng của các tác gia kinh điển chủ nghĩa Marxisme – Leninisme, không chịu trích dẫn ý kiến của các vị ấy về chủ nghĩa phong kiến”[63]. Các học giả khác thường bị gán tội theo “chủ nghĩa dân tộc Nga”. Đây cũng chính là cái tội được gán cho M. Bakhtin. M. Bakhtin bị kết tội dính líu với “một tổ chức bí mật phản cách mạng” kích động “tình cảm tôn giáo và chủ nghĩa dân tộc”. Hết hạn lưu đày, M. Bakhtin vẫn bị xem là phần từ có tư tưởng nguy hiểm. Cho nên, năm 1946, M. Bakhtin bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ, chỉ mấy tháng sau, năm 1947, hệ thống “báo chí đảng” đăng tải một loạt bài công kích gay gắt việc bảo về luận án của  ông.

Dĩ nhiên, trước năm 1960, sự đánh giá di sản khoa học của M. Bakhtin không diễn ra theo kiểu một chiều, đơn giản như thế. Có đủ tư liệu để chứng minh, nhiều nhà nghiên cứu của nước Nga đã sớm nhận ra tài năng của ông và tầm cỡ của những tác phẩm do ông sáng tạo ra. V. Kozhinov, một chuyên gia về M. Bakhtin kể lại: “Hơn một phần ba thế kỉ trước đây, vào cuối những năm 1950, tôi nghiên cứu cuốn sách ra đời vào năm 1929 (sau khi tác giả bị bắt vì can tội “tuyên truyền chống Xô Viết”) của Bakhtin viết về Dostoevski. Cuốn sách mang lại cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ không gì có thể so sánh. Tôi bắt đầu bỏ công tìm kiếm tác giả cuốn sách, người đã biệt vô âm tín tính đến lúc đó đã được 30 năm…Cuối cùng, khi hay tin ông chỉ là một giảng viên “chẳng ai biết tiếng” của trường Đại học Sư phạm Saranski (Mordovski), tôi bèn thay mặt một số đồng nghiệp, nhưng, tất nhiên, trước hết là từ tình cảm chân thành của mình, viết cho ông (vào tháng 11 năm 1960), và, đặc biệt là, nói với ông về thế hệ của ông ấy, thế hệ Bakhtin: “Chúng tôi hiểu rõ, tư tưởng khoa học của thế hệ này có ý nghĩa văn hoá toàn nhân loại là điều hiển nhiên như thế nào”[64]. Nhưng thời ấy, những học giả có viễn kiến như V. Kozhinov chưa thể lànm gì ngõ hầu thay đổi được hoàn cảnh của M. Bakhtin.

Lần thứ hai, M. Bakhtin được phát hiện qua giác độ khoa học của giới nghiên cứu, chủ yếu là các nhà ngữ văn học. Từ giác độ ấy, ý kiến của giới khoa học vừa đồng thuận, lại vừa có sự phân rẽ, khác biệt, thậm chí đối lập, trái ngược nhau. Sau khi di sản của M. Bakhtin lần lượt được công bố, tác phẩm nào của ông cũng trở thành đối tượng khảo sát chuyên biệt. Các nhà nghiên cứu nhanh chóng khẳng định tài năng và vị trí quan trọng của ông đối với đời sống khoa học, nhất là các lĩnh vực của khoa học ngữ văn. Không thể kể hết tên tuổi những người ngưỡng mộ M. Bakhtin. Với nhữngc học giả như V. Kozhinov, S. Bosarov, hoặc G.D. Gasev, hầu như tác phẩm nào của M. Bakhtin cũng chứa đựng những phát hiện thiên tài. V. Kozhinov gọi M. Bakhtin là “người sáng tạo vĩ đại nền văn hoá thế kỉ XX”[65]. Cho nên, một loạt phạm trù do M. Bakhtin đề xướng, như “đối thoại”, “phức điệu”, “carnival” “chronotope”, “tác giả”, “nhân vật”… được nhiều học giả đào sâu nghiên cứu[66]. Chúng nhanh chóng trở thành những khái niệm khoa học thông dụng, được xem là nền tảng khoa học có thể vận dụng vào việc nghiên cứu sáng tác của những nhà văn cụ thể[67]. Nhưng, nếu như việc khẳng định vị trí khoa học của M. Bakhtin tìm được sự đồng thuận càng nhanh chóng bao nhiêu, thì sự bất đồng trong việc đánh giá và lí giải tư tưởng của ông càng về sau càng trở nên sâu sắc và quyết liệt bấy nhiêu. M. Bakhtin để lại một di sản đồ sộ. Nhưng Những vấn đề thi pháp DostoevskiSáng tác của Frangçois Rabelais và nền văn hoá dân gian Trung cổ và Phục hưng vẫn là hai cuốn sách quan trọng nhất của ông. Khi các cuốn sách ấy xuất bản, giới nghiên cứu có cơ sở để xem M. Bakhtin là chuyên gia về hai nhà văn nói trên. Tuy nhiên, vào cuối những năm 70, đầu những năm 80, nhiều nhà nghiên cứu, có cả những học giả rất nổi tiếng như A.F. Losev, M.L. Gasparov, V.B. Sklovski, V.P. Grigoriev, V.D. Dneprov…tỏ ý nghi ngờ các quan điểm lí thuyết, nhất là những khái quát lịch sử của M. Bakhtin. Họ viện dẫn nhiều lí lẽ và chứng cớ để chứng minh, lí luận về tiểu thuyết phức điệu không phù hợp với thi pháp tiểu thuyết của Dostoevski, trong nhiều trường hợp, Bakhtin không có sự phân biệt khái niệm “tác giả” với khái niệm “người kể chuyện”, hoặc ông đã sai lầm khi đối lập văn hoá chính thống với văn hoá carnval vốn là hai bình diện luôn luôn tồn tại trong não trạng của người châu Âu thời trung đại…

 Một trong số những học giả thể hiện thái độ quyết liệt nhất với những khái quát lịch sử của M. Bakhtin là M.L. Gasparov.  Trước sau như một, M. Gasparov không thừa nhận M. Bakhtin là nhà nghiên cứu văn học. Năm 1979, M.L. Gasparov viết bài M.M. Bakhtin và nền văn hoá Nga thế kỉ XX. Bài viết rất ngắn, chỉ vỏn vẹn chưa đầy một nghìn tiếng, nhưng câu nào, dòng nào cũng như đưa người đọc nhập thẳng vào tiến trình tư tưởng của M. Bakhtin.  Theo Gasparov, hệ thống quan điểm của M. Bakhtin về văn học và ngôn ngữ được hình thành vào những năm 20 của thế kỉ trước. Trong nền văn hoá Nga, những năm 20 đồng nghĩa với “cách mạng xã hội, cách mạng văn hoá”. Đó cũng là thời kì con người đầy kiêu hãnh, nếu không nói là kiêu ngạo: “giai cấp mới tự thấy mình là hiện thân của văn hoá”, thấy “chúng tôi chính là tất cả những gì thuộc chúng ta, chúng tôi sẽ xây dựng một thế giới mới”, “xây dựng từ đầu, không cần ngoái cổ nhìn lại phía sau”. Majakovski, Meierkhold, Eizensten, Marr, Bakhtin và cả các môn đệ của “trường phái hình thức” đều cảm thấy như thế. Trường phái hình thức cảm thấy “chính tôi có khả năng tác động đến người khác, chứ không phải chỉ những người khác tác động đến tôi”. Bakhtin cảm thấy “chính tôi cũng là đại diện của văn hoá”, “chính tôi có khả năng sáng tạo, chứ không đứng ở bên dưới ngửa cổ nhìn lên những kẻ sáng tạo ở bên trên”. Cho nên, bái vật của cánh hình thức chủ nghĩa là “thủ pháp kiến tạo ngôn từ”. Bái vật của Bakhtin là “tư tưởng tranh biện năng động”, Vì giống nhau ở cơ địa, sống chung một tằng hệ, mà Bakhtin và các môn đệ của Trường phái hình thức thường “hằm hè” với nhau.

Tham vọng sáng tạo một nền văn hóa theo nguyên tắc “làm mới từ đầu” là hạt nhân quan trọng nhất quy định lô gic tư tưởng của M. Bakhtin. Nó khiến M. Bakhtin luôn hứng thú với việc “trưng dụng lời nói lạ”. Ông xem sáng tạo là trình bày tư tưởng của mình từ những lời nói lạ được thừa kế. Nó cũng khiến M. Bakhtin thích đối thoại, thể hiện một thái độ tích cực, chủ động đối với di sản của các thế hệ trước. Với Bakhtin, tác phẩm văn học không phải là lời nói, mà là sự khắc phục lời nói. Tác phẩm được kiến tạo không phải bằng lời nói, mà từ sự phản ứng với lời nói. Toàn bộ văn hoá quá khứ chính là thứ “bán thành phẩm” dành cho việc xây dựng nền văn hoá của tương lai. Quan điểm này dẫn M. Bakhtin tới thái độ hư vô trong việc lựa chọn các giá trị. Nếu văn hoá đích thực chỉ có ở tương lai, thì chẳng có lí do gì để bắt trái tim phải hoà chung nhịp đập cùng văn hoá quá khứ. Cho nên, Puskin, Shakespeare, và cả L. Tolstoi đều không phải là những tác giả tâm đắc của M. Bakhtin. Từ văn hoá quá khứ, Bakhtin chỉ tiếp nhận truyền thống carnival, Rabelais và Dostoevski. Ông chỉ tâm đắc với trạng thái hỗn âm đầy bi kịch ở bên trên và sự rối loạn hài hước, trào tiếu ở bên dưới. Mọi kiểu cấu trúc ngôn từ được tổ chức cân đối và bên vững của văn hoá quá khứ đều xa lạ với Bakhtin, bởi vì chúng gợi dậy ở ông tâm trạng bất an: không khéo, tôi chẳng thể khuất phục được các cấu trúc ấy, mà ngộ nhỡ chúng lại điều khiển được tôi thì sao? Cho nên, M. Bakhtin mới đối lập “tiểu thuyết” với “thơ” và  “sử thi”. M. Bakhtin xem “thơ” như một thứ “cừu thù”, vì lời thơ là “lời của chúa”, là tiếng nói quền uy, tước đoạt quyền sáng tạo của người đọc. Với Bakhtin, “sử thi” và “tiểu thuyết” không phải là hai thể loại, mà là các giai đoạn phát triển khác nhau của thể loại. Bakhtin cũng không gọi tiểu thuyết cổ điển ở thế kỉ XIX là tiểu thuyết. Ông chỉ thừa nhận loại tiểu thuyết khi nó còn là sức mạnh tự phát hỗn loạn, sục sôi, chưa hoàn kết. Cho nên, “Bakhtin chính là sự nổi loạn của người đọc tự tín chống lại mọi sự sùng phục trói buộc anh ta”. Dĩ nhiên, “đó không phải là cuộc nổi loạn của chủ nghĩa hư vô”. Cuốn Thi pháp Dostoevski chứng tỏ, với Bakhtin, quan điểm đối thoại không chỉ là sự kiêu hãnh làm thay đổi tiếng nói lạ bằng ý đồ của mình, mà còn là thái độ lắng nghe khiêm nhường các tiếng nói lạ trước khi cải tạo nó”.

M.L. Gasparov gọi di sản của M. Bakhtin là “cương lĩnh sáng tạo”. Đó chính là cuốn “tiểu thuyết” được Bakhtin sáng tác trong cuộc “đối thoại với những năm 20”. Trớ trêu thay, khi di sản của M. Bakhtin được xuất bản, được đọc và được tôn sùng, thì những nhân vật mà Bakhtin muốn đối thoại đều đã rời bỏ sân khấu, để lại một mình ông giữa những con người xa lạ. Và thế là nhân vật chống lại mọi sự sùng phục bị biến thành đối tượng sùng phục. Những người kế thừa muộn mằn di sản của Bakhtin đã biến một  “cương lĩnh sáng tác thành lí luận nghiên cứu”, đập vụn thế giới quan toàn vẹn của ông thành những luận điểm rời rạc để khảo sát. Gasparov khuyên các nhà nghiên cứu: “Sáng tác của Bakhtin là tiểu thuyết, không cần phải biến cuốn tiểu thuyết ấy thành sử thi”[68]. Hai mươi lăm năm sau, trong bài báo Lịch sử văn học như là sự sáng tác và nghiên cứu…, M. Gasparov vẫn giữ quan điểm cơ bản là như thế về di sản của M. Bakhtin. Ông nói: “M.M. Bakhtin là nhà triết học. Nhưng Bakhtin còn được xem là nhà ngữ văn học (…). Trong văn hóa có lĩnh vực sáng tác và lĩnh vực nghiên cứu. Hoạt động sáng tác làm phức tạp hóa bức tranh thế giới bằng cách tạo ra những giá trị mới. Hoạt động nghiên cứu lại làm bức tranh thế giới trở nên đơn giản bằng cách sắp xếp, hệ thống hóa những giá trị cũ. Triết học là lĩnh vực sáng tác giống như văn học nghệ thuật. Còn ngữ văn học là lĩnh vực nghiên cứu. Cần phải đặt Bakhtin vào vị trí trang trọng của người sáng tác chứ không cần ghi cho ông công lao của một nhà nghiên cứu. Trong vai trò nhà ngữ văn học, nhà triết học Bakhtin vẫn giữ nguyên bản chất sáng tạo (…). Ông sáng tác ra một nền văn học mới giống như nhà hiền triết sáng tạo ra một hệ thống triết học mới”[69].

Ở nước Nga, ý kiến của những học giả lớn như  A.F. Losev, V.B. Sklovski, V.P. Grigoriev, V.D. Dneprov, M.L. Gasparov…có ảnh hưởng không nhỏ tới dư luận của giới nghiên cứu văn học.

Lần thứ ba, M. Bakhtin được phát hiện chủ yếu từ giác độ hình thế giới quan, di sản của ông được nghiên cứu trên cái nền của tiến trình lịch sử tư tưởng Nga bối cảnh văn hoá toàn nhân loại. Từ giác độ ấy, M. Bakhtin hiện lên trong hình ảnh một nhà tư tưởng, nhà triết học.

Có một chi tiết thú vị: bản thân Bakhtin cũng không tự nhận là nhà nghiên cứu văn học. V. Kozhinov kể lại: Năm 1946, Bakhtin “bảo vệ thành công luận án viết về nhà văn Pháp vĩ đại François Rabelais và trở thành Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, rồi cứ giữ nguyên học vị ấy cho đến khi bước xuống mồ, bởi vì sau này, ông kiên quyết từ chối học hàm Giáo sư mà người ta khẩn khoản muốn phong tặng cho ông. Một lần trò chuyện với tôi, ông mỉm cười, nhưng vẫn rất nghiêm túc giải thích việc mình từ chối như thế này: “Tôi là nhà triết học, mà đã là nhà triết học thì phải trở thành kẻ chẳng là ai, nếu không, anh ta sẽ gọt đẽo sao cho triết học thích ứng với địa vị xã hội của mình””[70].  Nhưng, như đã nói, ở những năm 60, 70 của thế kỉ trước, Bakhtin chủ yếu được xem là nhà ngữ văn học, vì hai cuốn sách ông viết đều lấy cứ liệu từ sáng tác của Dostoevski và Rabelais. Phải đến nửa sau của những năm 80, hình ảnh Bakhtin – nhà nghiên cứu văn học mới có sự thay đổi mạnh mẽ trong tâm thức của giới nghiên cứu. Theo dõi những công trình khoa học, nhất là những tham luận đọc tại các Hội thảo quốc tế về M. Bakhtin lần thứ V, VI và VII, ta dễ dàng nhận ra sự thay đổi ấy.

Theo thông lệ, Hội thảo được tổ chức hai năm một lần ở nhiều nước khác nhau như Mexiko, Anh, Mĩ… Năm 1995, Hội thảo quốc tế lần thứ VII về Bakhtin diễn ra tại Moscow với sự tham gia của 50 nhà nghiên cứu của Nga, Bạch Nga, Ukraina và 80 nhà khoa học nước ngoài đến từ Anh, Đức, Đan Mạch, Ý, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc. Hội thảo diễn ra vô cùng rầm rộ, vì đây là dịp kỉ niệm lần thứ 100 ngày sinh của M. Bakhtin[71]. Phát biểu ấn tượng chung về  Hội thảo, N.K. Boneskaja viết: “Nhìn từ khía cạnh nội dung, (…) hướng tiếp cận Bakhtin đã thấy phù hợp và sâu sắc hơn. Có cảm giác, trong tâm trí của giới nghiên cứu, Bakhtin – nhà triết học bây giờ có vị trí cao hơn hẳn so với Bakhtin – nhà nghiên cứu văn học”[72]. Một nhà nghiên cứu khác, bà A. Bolsakova đã đưa ra những nhận xét cụ thể hơn về không khí và nội dung toát lên từ các tham luận của cuộc Hội thảo như sau: “Cả một tuần nóng bức của mùa hè Moskva đã trôi qua rất nhanh trong những cuộc thảo luận lí thú làm lộ ra sự va chạm của những quan điểm khác nhau, cũng như sự đa dạng của các hướng tiếp cận mang tính chất lí luận – phương pháp và thực tiễn phân tích văn bản. Nhìn chung, từ ý kiến của những người tham gia hội thảo có thể nhận ra mấy khuynh hướng cơ bản của ngành Bakhtin học thế giới hiện đại:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lí luận phổ quát. Hướng này lại chia thành các nhánh đối lập, trái ngược nhau:
  2. Khảo sát lí tuyết của Bakhtin trong bối cảnh hệ vấn đề phổ quát của các khoa học nhân văn;
  3. Phân tích so sánh di sản của Bakhtin với “người khác” (cũng là nhà tư tưởng);
  4. “Đọc sâu” các văn bản của Bakhtin nhằm tìm ra cách phân tích văn bản học chính xác;
  5. Nghiên cứu những vấn đề phương pháp luận dựa trên cơ sở ứng dụng thực tiễn các luận điểm mang tính quan niệm của Bakhtin và nghiên cứu ý nghĩa vạn năng tiềm ẩn trong những luận điểm của ông và những quy luật mà ông đã khám phá”[73].

Qua nội dung một cuộc Hội thảo, N.K. Boneskaja và A. Bolsakova đã nhận ra xu hướng vận động của ngành Bakhtin học.  Và xu hướng vận động ấy lại phản ánh chính xác vị thế của M. Bakhtin trong đời sống văn hoá hiện đại nói chung, trong cấu trúc của hệ thống lí luận văn học Nga nói riêng.

Cần phải nhắc lại điều đã nói ở trên: Bakhtin bao giờ cũng là đề tài có nhiều vấn đề tranh luận và càng về sau sự bất đồng của giới nghiên cứu trong việc đánh giá và giải thích di sản của ông càng trở nên quyết liệt. Quyết liệt nhất vẫn là những bất đồng khi phải tìm lời giải đáp cho các câu hỏi: Ai có công phát hiện Bakhtin,  học giả phương Âu – Mĩ, hay trí thức Nga? Phương Tây hay nước Nga hiểu và cảm nhận di sản của Bakhtin chính xác hơn, tinh tế hơn? Rốt cuộc Bakhtin là nhà triết học phương Tây, hay triết học Nga, tư tưởng của Bakhtin có nguồn cội ở truyền thống dân tộc hay truyền thống Âu – Mĩ?.  Nhà triết học F.I. Girenok nhận xét: “Tôi đã nghiên cứu M.M. Bakhtin. Ông ấy có rất ít hơi hướm của một nhà triết học Nga (…). Vì sao bây giờ người ta quan tâm đến ông ấy? Bởi vì ông ấy được chú ý ở phương Tây. Tức là người ta quan tâm cái gì, thì hình như mình cũng máy móc chú ý tới cái ấy. Thực ra, ở ông ấy cũng có những cái thú vị. Ví như lí thuyết về cái Tôi, lí thuyết hành vi. Cần phải phân tích, nghiên cứu các lí thuyết ấy. Nhưng tôi không nghĩ các lí thuyết ấy hay hơn những gì tỉ như S.N. Bulgakov[74] đã viết trong Triết học tên gọi. Hoặc, ông ấy không thú vị hơn V.V. Rozanov[75].Hoặc nữa, ông ấy cũng chẳng có gì hay hơn N.Ja. Danilevski[76]. Họ khác nhau. Danilevski mới thật là tất cả! Đó là sự tự nhận thức của chúng ta. Không có  M.M. Bakhtin vẫn sống được, nhưng thiếu N.Ja. Danilevski thì không thể ”[77]. Tinh thần quyết liệt của những người tham gia tranh luận nhiều khi lộ ra ngay ở nhan đề của các công trình nghiên cứu, ví như Bakhtin và phương Tây (V.L. Makhlin), Bakhtin “của chúng tôi” chống lại Bakhtin “của các ngài”: Liệu có phải chiến tranh lạnh ngay trong nội quan (B. Kennedy),  Bakhtin mới ở nước Nga của các ngài và ở nước Mĩ của chúng tôi ( K. Emerson), hoặc Từ bến bờ khác: Lịch sử Bakhtin học của Nga trong sự thụ cảm và giải thích của một nhà Slavơ học người Mĩ (O.E. Osovski)…

Có điều, dẫu tranh luận gay gắt thế nào thì giờ đây không ai có thể phủ nhận được vai trò của Bakhtin trong việc đặt nền móng cho nhiều bộ môn khoa học, như lịch sử học[78], nghiên cứu văn học[79], nghệ thuật học[80], văn hoá học[81], thi pháp lí thuyết, thi pháp lịch sử[82], trần thuật học[83], từ chương học hiện đại[84], thông diễn học[85], kí hiệu học[86]. Một nhà nghiên cứu người Áo đã nêu thẳng vấn đề về mối quan hệ giữa kí hiệu học của M. Bakhtin với trường phái Moskva – Tartu[87].

  1. Kurilov, tác giả bài viết Di huấn khoa học của M.M.bakhtin và những vấn đề siêu ngữ văn học, đã nhận xét khái quát thế này: “M.M. Bakhtin đã tạo ra một mô hình phổ quát, một sơ đồ kiến tạo siêu khoa học dành cho bất kì một đối tượng khoa học nào”[88]. Chẳng những  thế , di sản của M. Bakhtin còn tác động trực tiếp tới sự hình thành và phát triển của nhiều trường phái triết học, tôn giáo[89], nhiều trào lưu, khuynh hướng tư tưởng hiện đại trên phạm vi toàn thế giới, như chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc[90], chủ nghĩa hiện sinh[91], chủ nghĩa hậu hiện đại[92]… Ta hiểu vì sao, từ nửa sau những năm 80 của thế kỉ trước, ngày càng xuất hiện nhiều những công trình nghiên cứu M. Bakhtin trong sự đối sánh Nga – Mĩ, Đông – Tây, ví như Bakhtin và phương Tây của V.L. Makhlin[93], M. M. Bakhtin và J.P. Sartre – hai dị bản của triết học nhân bản của A.P.Bondarev[94], Bakhtin “của chúng tôi” chống lại Bakhtin “của các ngài”: Liệu có phải chiến tranh lạnh ngay trong nội quan của B. Kennedy[95],  hoặc Bakhtin mới ở nước Nga của các ngài và ở nước Mĩ của chúng tôi của K. Emerson[96]

Những hướng nghiên cứu nói trên đã cung cấp dữ liệu dẫn các nhà khoa học đi tới kết luận về một hệ hình tư duy, hay hệ hình thế giới quan kiểu mới được mở ra từ di sản triết học, mĩ học và ngữ văn học của M. Bakhtin. Ví như nhà triết học D.A. Olsanski nhìn thấy ở “nguyên tắc đối thoại của M. Bakhtin “sự phản ánh hệ hình nhận thức luận của tư tưởng Nga”[97]. Năm 1998, V.L. Makhlin bảo về luận án Tiến sĩ khoa học với đề tài Cương lĩnh triết học của M.M. Bakhtin và sự thay đổi hệ hình trong nhận thức nhân văn học. Phát biểu Lời mở đầu lễ bảo vệ, Makhlin nhận xét: “Vì sao, nhìn từ góc độ triết học, di sản của Bakhtin không thể xếp vào chủ nghĩa duy tâm, mà cũng chẳng thể xếp vào chủ nghĩa duy vật. Vì sao,  nhìn từ góc độ lịch sử – tinh thần, xếp Bakhtin vào đâu, vào chủ nghĩa truyền thống, hay chủ nghĩa phản truyền thống, cũng đều sai. Vì sao, nhìn chung,  không thể “xếp gọn” Bakhtin vào thế kỉ XX, mặc dù, cả về mặt tiểu sử, lẫn thực chất, Bakhtin chính là hiện tượng thuộc tình huống văn hoá phổ quát và triết học hiện đại (theo nghĩa rộng nhất của từ ấy), ở phương Tây, thông thường vẫn được xác định là tình huống “hậu siêu hình”, hoặc (theo tên gọi một cuốn sách nổi tiếng của Romano Guardini[98])  là “điểm tận cùng của thời đại Mới”?”[99]. Trước đó, năm 1995, trong Hội thảo quốc tế về Bakhtin lần thứ VII (tại Moskva, từ 20 dến 30 tháng 6), V. Makhlin đã công bố bài viết Mặt đối mặt: Mikhail Bakhtin trong lịch sử chưa hoàn kết của một thế kỉ đang khép lại. Tại Hội thảo này, có ý kiến cho rằng,  M. Bakhtin là “nhà triết học của thiên niên kỉ thứ ba”[100]. Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau về nội dung của hệ hình tư duy được mở ra trong di sản của M. Bakhtin. Theo A.B. Grigoriev, có thể tìm thấy trong các công trình  của  M. Bakhtin “sự khởi đầu của một phép biện chứng ngoài Hegel”[101].  V.I. Chiupa lại cho rằng “Nền tảng phương pháp luận tạo nên hệ hình tư duy của M. Bakhtin là chủ nghĩa nhân vị (personnalisme)[102]. Không hẹn mà gặp, K. Thomson, nhà Bakhtin học người Mĩ, và V. Kozhinov, học giả người Nga, hoàn toàn thống nhất với nhau về nguyên tắc phương pháp luận trong việc nghiên cứu di sản của M. Bakhtin. Hai nhà nghiên cứu nhất trí cho rằng, phải đặt di sản của M. Bakhtin vào tình thế khủng hoảng triết học ở cuối thế kỉ XIX mới có thể nhận ra bản chất cách tân của hệ hình thế giới quan trong di sản của “người sáng tạo vĩ đại nền văn hoá thế kỉ XX”. K. Thomson tuyên bố, rằng “Sáng tạo củ Bakhtin, từ đầu đến cuối, xét theo chiều sâu và sức mạnh, là nguồn mạch hoàn toàn đặc biệt của những tư tưởng có khả năng soi sáng cuộc khủng hoảng hiện nay của nhận thức… Khuynh hướng tư tưởng của Bakhtin được tiếp nhận ở phương Tây giống như là sự tu chính tận gốc, đầy sáng tạo cuôc khủng hoảng ấy”[103].  V. Kozhinov viết: “…Ngay từ cuối thế kỉ XIX, triết học và văn hoá học đã bước vào thời kì, khi mà nổi trên bình diện thứ nhất là những hệ thống quan niệm thuộc loại “khủng hoảng”, phiến diện, tức là các quan niệm tuyệt đối hoá một mặt nào đấy của tồn tại nhân sinh, quy tất cả vào đấy, ví như chủ nghĩa Marxisme, chủ nghĩa Freudisme, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng…Trong khi đó, tuy không bỏ qua sự khủng hoảng, thậm chí có thể gọi là thảm hoạ của thời đại, tư tưởng của Bakhtin đã làm sống dậy và phục hưng cách thụ cảm và nhận thức toàn vẹn đối với tồn tại nhân sinh vốn là bản chất của triết học cổ điển từ Platon đến Kant”[104].

  1. Bkhtin đã sáng tạo ra một hệ thống thuật ngữ với nội hàm riêng để chuyển tải tư tưởng của ông. Di sản của Bakhtin đặt nền tảng cho nhiều bộ môn khoa học xã hội – nhân văn hiện đại. Nhiều trào lưu, trường phái nghiên cứu, phê bình hiện đại tìm thấy ở di sản của Bakhtin những nguyên tắc phương pháp luận cần phải vận dụng, phát triển để tìm kiếm chân lí. M. Bakhtin đã mở ra hệ hình tư duy của thời đại mới. Cho nên, M. Bakhtin được đặt ngang hang với những tác gia cổ điển lớn nhất của thế kỉ XX. Tác phẩm của ông thường xuyên được trích dẫn trong các công trình khoa học hiện đại. Các học thuyết do ông đề xướng được các nhà triết học, các nhà văn hoá học và giới nghiên cứu văn học chính thức thừa nhận. Các học thuyết ấy đã trở thành những đơn vị tri thức không thể thiếu trong nhiều từ điển bách khoa[105], trong các sách giáo khoa, giáo trình dành cho bậc đại học và cao đẳng[106]. Kozhinov hoàn toàn có cơ sở khi ông nhận xét: “Dù ở thành phố hay tỉnh lẻ, bây giờ chẳng có một ai biết suy nghĩ mà lại không biết ít nhiều về sáng tạo của Bakhtin”. Còn S. Averintsev khẳng định: “Thiếu vắng cái gì khác chứ thiếu đi di sản chủa Bakhtin thì dứt khoát không thể nhận chân văn hoá nước ta cũng như văn hoá toàn thế giới”.

Chương IV

Sự tái sinh của Trường phái hình thức Nga

“Chủ nghĩa hình thức”, “phương pháp hình thức”, hay “trường phái hình thức Nga” đều là những khái niệm đầy tính ước lệ, được sử dụng để chỉ một khuynh hướng lí luận văn học bắt đầu hình thành ở Peterburg và Moscow vào những năm 1915 – 1919 và chính thức tan rã vào năm 1930. Khuynh hướng này không chỉ ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành của lí luận văn học hiện đại, mà còn tác động trực tiếp tới sự phát triển của tất cả các bộ môn khoa học nhân văn và thực tiễn sáng tác nghệ thuật, từ nghệ thuật ngôn từ cho tới điện ảnh và sân khấu.

Gọi chủ nghĩa hình thức Nga là “trường phái” vì đó là một hiện tượng lịch sử, có quá trình hình thành và phát triển. Nó có những tổ chức nòng cốt như “câu lạc bộ”, “hiệp hội”, có chủ soái với số lượng hội viên được kết nạp, đăng kí hẳn hoi, có hội thảo, sinh hoạt học thuật, có tuyên ngôn khoa học với nhiều công trình chủ chốt thống nhất với nhau trong phương pháp luận nghiên cứu, có cơ sở vật chất để các thành viên in ấn, xuất bản công trình của mình…

Phải nói ngay, trong điều kiện như ở nước ta hiện nay, chắc chắn, mọi ý đồ nghiên cứu một cách thấu đáo trường phái hình thức Nga đều gặp muôn vàn khó khăn. Khó khăn không hẳn chỉ bởi thiếu nguồn tài liệu, mà chủ yếu là bởi, có những chuyện được ghi rành rành trong các pho từ điển đầy uy tín, tưởng như đã rõ, thế mà đến khi tìm hiểu, lại thấy mỗi tư liệu trình bày một phách, chẳng nguồn nào giống nguồn nào. Rất tiếc, một số công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam thường không chú ý điều đó.

Chẳng hạn, trường phái hình thức Nga bắt đầu hoạt động từ năm nào? Khó có thể trả lời một cách dứt khoát. Boris Victorovich Tomasevski, nhà hoạt động nổi tiếng của Trường phái hình thức viết: “Trường phái hình thức xuất phát từ đâu? Từ bài báo của Belyi[107], từ buổi seminaire của Vengerov[108], hay từ hội trường Tenhisevski mà cánh vị lại hò reo ầm ỹ dưới sự chủ toạ của Baudouin de Courtenav[109][110]. Tomaesevski đặt ra những câu hỏi như thế chứng tỏ, về cột mốc đánh dấu điểm khởi đầu lịch sử của Trường phái hình thứ Nga, ý kiến của giới nghiên cứu không phải lúc nào cũng thống nhất. Có người chọn năm 1913, vì ngày 23 tháng 12 năm 1913, tại Sait – Peterburg đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học về đề tài Vị trí của chủ nghĩa vị lai trong lịch sử. Tại đây V.B. Shklovski đọc bài phát biểu nổi tiếng: Sự phục sinh của lời và nó được xem là tuyên ngôn đầu tiên của Trường phái hình thức. Nhưng có người lại chọn năm 1914, vì phải sang năm 1914 bài phát biểu của Shklovski mới được xuất bản, tức là phải đến đây, chủ nghĩa hình thức Nga mới chính thức nhận được “giấy chứng sinh”.

Danh tiếng của Trường phái hình thức Nga gắn liền với hoạt động của “Câu lạc bộ ngôn ngữ học Moscow” (MLK) và “Hội nghiên cứu ngôn ngữ thơ” (OPOJAZ). Nhà ngữ văn học M.I. Sapir có lần nhận xét: “Theo tôi, câu lạc bộ ngôn ngữ Moscow là hiệp hội đáng kể nhất của các nhà ngữ văn học người Nga – xét cả ở sự toả sáng của các tài năng lỗi lạc, lẫn ảnh hưởng của nó (thường là trực tiếp và gián tiếp) tới sự phát triển của tư tưởng ngữ văn học (…). Đóng góp của Câu lạc bộ cho ngôn ngữ học và thi pháp học, cả ở đất nước ta, lẫn trên phạm vi toàn thế giới, không có bất kì một hiệp hội nào có thể so sánh được”[111]. Tất nhiên, danh tiếng của “OPOJAZ” còn lớn hơn nhiều. “OPOJAZ” thường được đồng nhất với Trường phái hình thức Nga. Nhưng hai hiệp hội này được tổ chức vào năm nào? Có thể dựng lại chính xác số phận lịch sử của các hiệp hội ấy hay không? Đây cũng là cả một câu chuyện rất dài. Đúng là Câu lạc bộ ngôn ngữ Moscow (“MLK” – Московский лингвистический кружок) được thành thành lập theo sáng kiến của một số sinh viên ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Moscow. Vào cuối năm năm 1914, Viện sĩ F.E.Kors đã đệ trình lên Ban II của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia bản điều lệ hoạt động của MLK. Nhưng phải đến ngày 16 tháng 2 năm 1915, Viện sĩ A.A. Sakhmatov mói kí quyết định về việc “tổ chức nhóm các nhà ngôn ngữ học trẻ tuổi hoạt động theo phương thức tự túc kinh phí nhằm nghiên cứu những vấn đề ngôn ngữ học, thi luận, thi pháp sáng tác ngôn từ dân gian”. Vậy thì, nên tính lịch sử hoạt động của MLK từ 1914, hay 1915?. Viết về Câu lạc bộ ngôn ngữ Moscow, người ta thường chỉ biết một vị Chủ tịch duy nhất là R.O. Jakobson. Nhưng trong 10 năm tồn tại, sau Jakobson, MLK còn có 5 vị Chủ tịch khác: M.N. Peterson (từ cuối tháng Giêng đến tháng 9 năm 1920), A. A. Buslaev (đến tháng 10 năm 1922), G.O.Vinokur (đến tháng 3 năm 1923) và N.F. Jakovlev (đến tháng 11 năm 1924)[112].

Nói về Trường phái hình thức Nga người ta nghĩ ngay tới “OPOJAZ” ở Peterburg. Nhưng chữ “OPOJAZ” là một kết hợp từ hi hữu, tiêu biểu cho thi pháp viết tắt của chủ nghĩa vị lại, chỉ thấy ở Nga vào những năm 20 của thế kỉ trước. Theo nguyên tắc viết tắt của chủ nghĩa vị lai, chữ viết tắt phải là một kết hợp từ có thể làm người ta quên đi cụm từ hoặc mệnh đề được nó thay thế, nhưng dứt khoát phải tạo được “cảm giác về âm thanh của lời nói”. Môn đệ của chủ nghĩa vị lại rất dị ứng với lối viết tắt theo kiểu lắp ghép giản đơn phụ âm đầu của các từ, ví như “MGU” (“МГУ” – Московский государственный университет – Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow), hoặc “SSSR” (СССР – Союз Советских Социалистических Республик – Liên bang các nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết). Thi pháp của chủ nghĩa vị lai đòi hỏi mỗi chữ viết tắt phải là một kết hợp từ ngân vang, thể hiện vẻ đẹp của “mĩ học âm thanh”, ví như “LEF”, (“ЛЕФ” – Левый фронт искусства – Nghệ thuật cánh tả), “Kubuch” (“КУБУЧ” – Комиссия по улучшению быта ученых – Uỷ ban cải thiện đời sống học giả), hoặc “AvtoDor” (“АвтоДор” – Общество содействия развитию автомобильного транспорта, тракторного и дорожного дела – Hội hỗ trợ phát triển giao thông cơ giới, ngành máy kéo và đường bộ)… Nếu không có từ điển tra cứu, nhìn vào chữ viết tắt, người ta khó đoán ra những cụm từ hoặc mệnh đề được thay thế. Cho nên, ngay cả những người trong cuộc, có quan hệ trực tiếp với Trường phái hình thức Nga cũng đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về chữ “OPOJAZ”. Iu.N. Tynhianov và L.Ghinzburg cho rằng, “OPOJAZ” là chữ viết tắt của “Oбщество изучения поэтичкского языка” -“Hội nghiên cứu ngôn ngữ thơ”[113]. Nhưng đến năm 1960, một sáng lập viên của “OPOJAZ” là V. Shklovski lại cho rằng, nó là chữ viết tắt của “Hội nghiên cứu lí luận ngôn ngữ thơ” (“Общество изучения теории поэтического языка”)[114]. Ngay cả thời điểm thành lập “OPOJAZ”, nếu đọc tài liệu của những người đương thời và các nhà nghiên cứu hiện nay, ta thấy, đó vẫn còn là câu chuyện rất mù mờ. Bách khoa Xô Viết Đại Từ điển cho rằng “OPOJAZ” thành lập vào quãng 1916 – 1919[115]. Từ điển Bách khoa văn học ghi thời gian thành lập “OPOJAZ” là 1916 – 1918[116]. Từ điển Bách khoa Ngôn ngữ học chỉ ra chính xác, thời điểm ấy là năm 1916[117]. Theo hồi ức của R. Jakobson thì “việc quyết định thành lập hiệp hội đã được thông qua trong một bữa ăn trưa tại căn hộ của O.M. Brik vào tháng 2 năm 1917[118]. Trong cuốn sách cuối  cùng  của  đời  mình, cuốn  Về lí thuyết văn xuôi, in năm 1984, V.B. Shoklovski lại đưa ra ý kiến khác: “Cần phải kể lại chuyện về một hiệp hội văn học không lớn, năm 1914 đã in một cuốn sách mỏng tại nhà in Sokolinski, một nhà in bé tí tẹo đặt ở số 33, phố Nadezdinski. Có lẽ, đó chính là điểm khởi đầu của OPOJAZ”[119].

Do từ năm 1920, R.O. Jakobson đã rời nước Nga, đến sống ở Estonia, sau đó qua Tiệp Khắc, nên trụ cột của của Trường phái hình thức Nga là bộ ba  Iu.N. Tynianov (1894 – 1943), B. Eikhenbaum (1886 – 1959), V.B. Shklovski (1893 – 1984). Quy tụ xung quanh bộ ba ấy là một đội ngũ học giả đầy tài năng, gồm những nhà lí luận văn học và văn học sử, phê bình văn xuôi và phê bình thơ, ngôn ngữ học và folklore học. Riêng Câu lạc bộ ngôn ngữ  Moscow đã có đến 51 thành viên chính thức, 3 thành viên danh dự và 12 thành viên – cộng tác viên[120]. Trong số đó có nhiều tên tuổi lớn, như F.N. Afremov, P.G. Bogatyrev, А. А. Buslaev, S.S. Rogozin, P.P. Svesnhicov, R.O. Jakobson, N.F. Jakovlev, V.K. Porzezinski, D.N. Usakov, N.N. Durnovo, S.I. Bernstein, M. Bondi, O.M. Brik, N.N. Volkov, N.I. Zinkin, V.M. Jirmunski, S.O. Karsevski, M.M. Kenhigsberg, A.M. Peskovski, E.D. Polivanov, A.I. Romm, Iu.M. Sokolov, B.V. Tomasevski, R.O. Sor, B.I. Jarkho… Theo danh sách đăng kí tại Uỷ ban Xô Viết Petrograd năm 1921, “OPOJAX” có 14 thành viên, do V.B. Shklovski làm Chủ tịch, B.M. Eikhenbaum – đồng Chủ tịch, Iu.N. Tynhianov – Thư kí, sau đó là V.M. Zirmunski, L.V. Serba, S.I. Bernstein, B.V. Kazanski, L.P. Jakubinski, A.L. Veksler, A.L. Slonhimski, Vl.B. Shklovski, E.G. Polonskaja, V.P. Chovin, V.G. Kordi[121].

Ngoài hoạt động nghiên cứu, nhiều thành viên của Trường phái hình thức Nga còn hoạt động sư phạm, giảng dạy trong các học viện, các trường đại học và tham gia sáng tác văn học, ví như V. Shklovski và Iu. Tynianov viết tiểu thuyết, O. Brik là tác giả sân khấu và kịch bản. Thông qua giảng dạy và lãnh đạo sinh hoạt séminaire, các vị chủ soái như V.B.Shklovski và B. Eikhenbaum, Iu. Tynhianov đã đào tạo cả một đội ngũ kế cận làm thành thế hệ được gọi là “phái hình thức trẻ”. Nhiều người trong số họ đã thành danh, ví như L. Ghinburg, V. Hofman, N. Stepanov, B. Bukhstav. Nhật kí đề ngày 26 tháng 12 năm 1924 của B. Eikhenbaum có đoạn ghi: “Rất vui vì buổi sémineire ở nhà. Nhóm này rất khá. Tham luận của Barmin về nghệ thuật chơi chữ chẳng xoàng chút nào. Stepanov, Skipina, Bukhstav, Gurevnin, Ghinburg – bọn họ là một lực lượng rất mạnh”[122].

Khoảng trên dưới 10 năm, giai đoạn 1916 – 1928, là thời kì hoàng kim của Trường phái hình thức Nga. Hầu hết những công trình xuất sắc nhất của họ được hoàn thiện và xuất bản ở giai đoạn này. Xin kể một số công trình của của các nhân vật chủ chốt:

– B.M. Eikhenbaum: Karamzin (1916), Những bài thơ mới của N.G. Gumilev (1916),  Balmont: Thơ như là pháp thuật thần thông (1916), Tâm hồn Moscow (1917), Giai điệu câu thơ trữ tình Nga (1922), Tolstoi thời trẻ (1922), Anna Akhmatova.- Kinh nghiệm phân tích (1923), Lermontov: Kinh nghiệm đánh giá lịch sử – văn học (1924), Xuyên qua văn học (1924),  Văn học: Lí luận. Phê bình. Tranh luận (1927), “Áo choàng” của Gogol được làm như thế nào (1919), Số phận Blok (1921), Tiểu thuyết trữ tình (1921), Nhekrasov (1921), Đường đến với văn xuôi của Puskin (1923), Những khuynh hướng phong cách cơ bản trong ngôn ngữ của Lenin (1924), O. Henri và lí luận tiểu thuyết (1925), Lí thuyết của phương pháp hình thức (1925), Văn học: Lí luận. Phê bình. Tranh luận (1927), Nhà thơ – nhà báo (1928)…

– Iu.N.Tynhianov: Dostoievski và Gogol ( Về  lí thuyết giễu nhại)  (1921), Các dạng thức câu thơ của Nhekrasov (1921), Blok (1921), Về kết cấu Evgeni Onegin (1921), Oda như một thể loại (1922), Vấn đề về Tchiutsev (1923), Vấn đề ngôn ngữ thơ (1924), Sự thật văn học (1924), Điện ảnh – lời – âm nhạc (1924), Cái hôm nay của văn học (1924), Về dàn dựng sân khấu (1926), Về cốt truyện và tình tiết trong điện ảnh (1926), Về các nguyên lí điện ảnh (1927), Về sự tiến hoá của văn học (1927), Những vấn đề về nghiên cứu văn học (1928), Về giễu nhại (1929), Tuyển tập Cánh nệ cổ và các nhà cách tân (1929  –  tập hợp các công trình: Puskin và Heine (1922), Puskin và Tchiutsev (1923), Những kẻ lỗi thời và Puskin (1926), Puskin (1928))…

 – V.B. Shklovski: Sự phục sinh của lời (1914), Potebnhja (1916), Về thơ và ngôn ngữ bí hiểm (1916), Nghệ thuật như là thủ pháp (1917), Triển khai cốt truyện (1921), “Tristram Shandy” của Sterne và lí luận tiểu thuyết (1921), Văn học và điện ảnh (1923 – Tuyển tập),  Về lí luận văn xuôi (1925 – Tuyển tập, trong đó có những bài nổi tiếng, như Văn học ngoài cốt truyện, Cấu tạo truyện ngắn và tiểu thuyết ), Kĩ thuật của nghề văn (1927)…

– V.V. Vinogradov: Những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực ngữ âm thổ ngữ bắc – Nga (1919), Phương pháp nghiên cứu bản thảo như là dữ liệu xây dựng khoa học ngữ âm lịch sử tiếng Nga trong các công trình của Viện sĩ A.A. Sakhmatov (1920), Cốt truyện và kết cấu truyện “Cái mũi”, “Khởi đầu” (1921), Phong cách trường ca Peterburg “Người giống như lột” (1922), Về các nhiệm vụ của phong cách học (1923), Thơ Anna Akhmatova: Phác thảo phong cách (1925), Gogol và trường phái tự nhiên (1925), Jules Janin và Gogol (1925), Vấn đê kể chuyện trong phong cách học (1926), Phác hoạ phong cách Gogol (1926), Lịch sử ngữ âm tiếng Nga văn học (1927), Tiến hoá của chủ nghĩa tự nhiên. Gogol và Dostoevski (1929), Về văn xuôi nghệ thuật (1930).

Như đã nói, những năm 20 của thế kỉ trước là thời đại cách mạng. Thời ấy, mọi khuynh hướng, trào lưu, trường phái, từ văn nghệ cho đến khoa học, triết học, tư tưởng, đều có tham vọng sáng tạo ra cái mới, làm nên cuộc cách mạng thực sự trong mỗi lĩnh vực hoạt động. Các trường phái, trào lưu, khuynh hướng luôn tìm cách tự khẳng định bản chất cách tân của mình một cách quyết liệt. Nó tự khẳng định bằng những tuyên ngôn và những cuộc tranh luận nảy lửa với các đối thủ của mình. Lúc đầu, người ta xem các văn bản như Sự phục sinh của lời, Nghệ thuật như là thủ pháp (V. Shklovski), “Áo choàng” của Gogol được làm như thế nào (B.M. Eikhenbaum) là những tuyên ngôn của Trường phái hình thức Nga. Những văn bản ấy tuyên ngôn cho tư tưởng lí thuyết, quan niệm về đặc trưng của văn nghệ, về bản chất, chứ năng của khoa học ngữ văn, về phương pháp nghiên cứu khoa học. Các nhà hình thức luận không chỉ tuyên ngôn lí thuyết, mà còn vận dụng lí thuyết một cách tài ba vào thực nghiên cứu, tạo ra một hệ thống thao tác tiếp cận các hiện tượng nghệ thuật mang tính khoa học cao, đưa ngữ văn học ngày càng xích lại gần với các khoa học chính xác. Và như thế, Trường phái hình thức Nga không phải là hiện tượng nhất thành bất biến, mà luôn luôn vận động, tiến hoá, dù chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn. Nó không chỉ tuyên ngôn cho sự khởi đầu của một trường phái, mà còn có những tuyên ngôn giống như sự tổng kết độc đáo phần tinh hoa và sự tiến hóa của các tư tưởng khoa học cốt lõi. Cho nên, danh sách các văn bản được xem là tuyên ngôn của Trường phái hình thức Nga, càng về sau càng được mở rộng thêm. Có thể tìm thấy trên một Website bằng tiếng Nga danh sách những công trình như sau được xem là tuyên ngôn của các nhà hình thức luận:

+ V. Shklovski:  1. Nghệ thuật như là thủ pháp; 2. Quan hệ giữa các thủ pháp xây dựng cốt truyện với các thủ pháp chung của phong cách;

+ E.D. Polivanov: Nhân bàn về “các động tác âm thanh” của tiếng Nhật;

+ L.P. Jakubinski: 1. Sự tích tụ của các âm trơn cùng loại, 2. Về các âm thanh của ngôn ngữ thơ;

+ O.M. Brik: 1. Điệp âm, tiết tấu và cú pháp;

+ B.M. Eikhenbaum: “Áo choàng” của Gogol được làm như thế nào

+ R. Jakobson: 1. Về câu thơ Tiệp nhất là trong sự đối sánh với câu thơ Nga, 2. Thơ hiện đại. Phác thảo đầu tiên: Tiếp cận Khlevnhikov;

+ Iu.N. Tynhianov: 1. Sự thật văn học, 2. Về sự tiến hoá của văn học;

+ Iu.N. Tynhianov, R. Jakobson: Những vấn đề nghiên cứu văn học và ngôn ngữ[123].

Những tuyên ngôn nói trên đã trở thành “danh thiếp”, thành “carte de visite” làm nên danh tiếng của Trường phái hình thức. Tuy nhiên, ngay từ những năm 20, Trường phái này đã chịu sự phê phán rất nặng nề. Nó bị phê phán bởi nhiều đối thủ và địch thủ. Cánh khoa học hàn lâm “già nua”, các nhà xã hội học hiện đại, kể cả M. Bakhtin… đã phê phán Trường phái hình thức như là phê phán một “đối thủ” đáng nể trọng. Các nhà lí luận Mác xít nhìn thấy thấy ở Trường phái hình thứ một “địch thủ” nguy hiểm cần phải tiêu diệt. Cho nên, sự phê phán dành cho trường phái hình thức từ phía các nhà lí luận Mác xít, đứng đầu là L. Troski, N. Bukharin, A.V. Lunatsarski, G.E. Gorbatzev, N.S. Derzavin, M.A. Jakovlev, càng về sau càng trở nên gắt, quyết liệt.

Vào đầu những năm 20, đòn phê phán của phái Mác xít được tung ra dưới hình thức luận chiến. Trường phái hình thức của thi ca và chủ nghĩa Mác của L. Troski được xem là bài luận chiến “mềm mỏng” nhất của cácnh Mác xit thời ấy. Lần đầu tiên bài báo được công bố trên tờ “Pravda” (“Правда” – “Sự thật”), số 166, ra ngày 26 tháng 7 năm 1923. Về sau nó được in lại trong tập Văn học và cách mạng, xuất bản năm 1924. Nói đó là bài viết “mền mỏng” vì ở đây L. Troski thừa nhận giá trị khoa học trong các công trình nghiên cứu riêng lẻ của Trường phái hình thức. Ông viết: “Trường phái hình thức là cái gì? Cứ như Shklovski, Zirmunski, Jakobson và một số người khác trình bày thì (…) trường phái này xem nhiệm vụ của mình chỉ gói gọn trong việc phân tích (thực chất là miêu tả và nửa thống kê) những đặc điểm từ nguyên và cú pháp của các tác phẩm thi ca, tính đếm các nguyên âm, phụ âm, âm tiết, các hình dung từ được lặp đi lặp lại. Công việc mang tính cục bộ được các nhà hình thức luận, chẳng “theo hàm đố nào cả”, gọi là khoa học của thi ca hoặc thi pháp luận ấy hiển nhiên là cần thiết và có ích nếu như hiểu được đặc điểm bộ phận, có tính chất bản nháp, tính chất hỗ trợ – trù bị của nó”. Tuy giọng điệu “mềm mỏng” như thế, nhưng bài viết của Troski vẫn là bản tuyên chiến, lên tiếng thách đấu. Các nhà hình thức luận tuyên ngôn cho một quan niệm về khoa học văn học. Troski lại quyết đấu với họ trên trận địa giai cấp luận, tư tưởng hệ. Từ trận địa ấy, mở đầu bài viết, Troski xếp ngay Trường phái hình thức vào loại địch thủ nguy hiểm nhất để ra đòn theo kiểu “đánh một cú chết tươi”: “Nếu không tính những âm vang héo hắt của các hệ thống tư tưởng thời tiền cách mạng, thì có thể nói, lí thuyết duy nhất chống lại chủ nghĩa Mác trên đất nước Xô Viết trong những năm gần đây chính là lí thuyết hình thức của nghệ thuật. Điều thậm nghịch lí là ở chỗ, chủ nghĩa hình thức Nga gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa vị lai Nga, trong khi chủ nghĩa vị lai ít nhiều đã hàng phục chủ nghĩa cộng sản về mặt chính trị, thì chủ nghĩa hình thức lại tung hết sức lực để chống chủ nghĩa Mác về phượng diện lí luận”. Trong suốt bài viết, cũng như các nhà lí luận Mác xít khác, Troski dành cho Trường phái hình thức lối diễn đạt bằng những từ ngữ có tính chất hạ nhục. Ông gọi Trường phái hình thức là “đứa trẻ đẻ non cực kì vênh váo”, “đứa trẻ đẻ non đem mổ ra để nhồi sách làm tiêu bản của chủ nghĩa duy tâm đem ứng dụng vào các vấn đề nghệ thuật”. Ông khép lại bài viết bằng kết luận: “Tất cả các nhà hình thức đều mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa sùng đạo chín vội. Họ là môn đồ của thánh Gioan: với họ, “khởi thuỷ là lời của chúa”. Còn với chúng ta, khởi thuỷ là hành động. Lời chỉ hiện ra sau nó giống như cái bóng âm thanh của nó mà thôi”.

 Vào những năm 20, khi những cuộc luận chiến về “phương pháp hình thức” bước vào hồi cao trào, Victor Shklovski đã hỏi thẳng cánh Mác xit như thế này: “Các vị có quân đội và tàu chiến, chúng tôi thì chỉ vỏn vẹn có bốn người. Vậy chẳng hiểu quý vị còn lo lắng nỗi gì?”[124]. Theo I. Sironhin, có cơ sở để khẳng định, khi nói “quân đội và tàu chiến”, cái mà Shklovski muốn nhắm tới không phải là nhà nước Xô viết nói chung, mà là cái chiến dịch được triển khai rất rầm rộ nhằm chống lại Trường phái hình thức, đồng thời, ông cũng “muốn ám chỉ một vị đại biểu của cánh Mác xít trong những năm ấy là L.D. Troski”[125]. Đúng là Troski và cánh Mác xit không thể không “lo lắng” trước ảnh ngày càng mạnh mẽ của Trường phái hình thức. Cho nên, từ bài báo của L. Troski, người đọc ngửi thấy mùi khói lửa, súng đạn của một cuộc chiến tranh lãnh thổ nhằm giành quyền kiểm soát đời sống xã hội ở nước Cộng hoà Xô viết. Không thể hạ gục ngay địch thủ chỉ bằng một bài báo, Trotzki kêu gọi khống chế tầm ảnh hưởng của nó: “Hệ thống phương pháp của chủ nghĩa hình thức nếu được giới hạn trong những khuôn khổ hợp lí sẽ giúp ích cho việc giải thích những đặc điểm nghệ thuật và tâm lí của hình thức văn học”[126]. Nói trắng ra, chủ nghĩa hình thức chỉ đắc dụng khi cần giải thích một số bình diện của hình thức nghệ thuật, nhưng nó tuyệt nhiên không được xâm phạm tới các lĩnh vực khác, nhất là lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng xã hội.

Chỉ mấy năm sau, tất cả đều thay đổi. Năm 1927, L.Troski bị khai trừ đảng, năm 1929 bị trục xuất khỏi Liên Xô, năm 1932 bị tước quyền công dân Xô viết và đến 1934, từ điển Bách khoa văn học xếp ông vào khuynh hướng “nghiên cứu văn học melsevik ”[127] và Trường phái hình thức thì bị tước sạch mọi quyền tồn tại. Ngày 6 tháng 3 năm 1927, suốt 4 tiếng đồng hồ, từ 10 giờ tối đến 2 giờ sáng, tại Lễ đường Tenhisevski ở Leningrad đã diễn ra một cuộc tranh luận sôi nổi giữa cánh Mác xit và Trường phái hình thức. B.V. Tomasevski, G.E. Gorbatzev, V.B. Shklovski, N.S.Derzavin, B.M. Eikhenbaum, M.A. Jakovlev, Iu.N. Tynhianov và nữ nhà văn L.N. Seifullina đọc tham luận trong tiếng vỗ tay, nhiều khi có cả tiếng hò reo, la hét huyên náo. Cuộc tranh luận được xem là một trong những sự kiện thuộc loại quan trọng nhất của thời ấy. B. Eikhenbau gọi đó là “buổi tối lịch sử mà sau này người ta sẽ còn nhớ mãi”. Nhưng đây cũng là lần cuối cùng, Trường phái hình thức được tranh luận công khai với các lí luận gia Mác xít theo kiểu mặt đối mặt, ăn miếng trả miếng, ai cũng được quyền tự do trình bày quan điểm cá nhân. B.M. Eikhenbaum tuyên bố: “Các vị Mác xit muốn hạ bệ chúng tôi. Nhưng thật khó làm được điều ấy chỉ trong một buổi tối, huống hồ sau lưng chúng tôi còn có cả 10 năm nghiên cứu khoa học”. Nhưng cũng ngay tại cuộc hội thảo này, B.V. Tomasevski đã đưa ra nhận xét: “Cần phải nói, chủ nghĩa hình thức như một trường phái, bây giờ không còn tồn tại nữa”[128]. Sau đó, các thành viên chủ chốt của Trường phái hình thức, như Shklovski, Eikhenbaum, thường xuyên bị theo dõi, truy bức. Nhật kí đề ngày 22 tháng 3 năm 1927 của Eikhenbaum có đoạn: “ Vụ Dreyfus[129] đang được giăng ra. Người ta đổ về Moscow mang theo cáo trạng và yêu cầu trấn áp”. Tuy trấn áp cá nhân không xẩy ra, nhưng chính quyền đã tìm đủ mọi cách đưa môn văn học ra khỏi chương trình đào tạo cảu Đại học Tổng hợp Peteburg, buộc những nhân vật chủ chốt như Tynhianov, Eikhenbaum thôi việc khiến Trường phái Hình thức phải tan rã. Ngày 8 và 9 tháng 5 năm 1927, Eikhenbaum ghi vào nhật kí: “Đại học Tổng hợp buộc phải giải tán Ban văn học – việc giảng dạy môn văn sẽ tập trung vào Moscow,  chỗ chúng ta chỉ còn lại ngôn ngữ học thôi. Rõ ràng, công việc của tôi ở Đại học Tổng hợp thế là đã chấm hết”. “Mình đã chán ngấy tất cả những chuyện đó. Chỉ muốn sốnúâo cho ra con người… Cuộc họp của Hội đồng Đại học Tổng hợp vừa kết thúc – đã có quyết định: thủ tiêu Ban văn. Đó chính là kết quả của cuộc tranh luận”[130].

   Việc B.M. Eikhenbaum và Iu.N. Tynhianov bị đình chỉ công tác giảng dạy đại học vào năm 1927 không chỉ là “tai nạn nghề nghiệp” mang tính chất cá nhân, mà còn là sự kiện quan trọng liên quan đến số phận của Trường phái hình thức Nga. Từ năm 1928, các nhà hình thức luận không mấy khi dám công khai bảo vệ xác tín, họ chấp nhận phương pháp xã hội học, thậm chí, Shklovski còn nói tới khả năng tiến dần tới mĩ học Mác xit. Tháng Giêng năm 1930, V.B. Shkolovski cho đăng trên tờ Báo văn học bài Tượng đài kỉ niệm một sai lầm khoa học. Bài báo không chỉ là bước đi đầu tiên của V. Sklovski trong quá trình thoả hiệp với những luật lệ chính thống đã được thiết lập trong đời sống văn học Xô viết, mà còn đánh dấu sự tan rã hoàn toàn của Trường phái hình thức Nga.

Suốt 30 năm, kể từ khi Shklovski công bố bài Tượng đài kỉ niệm một sai lầm khoa học cho tới đầu những năm 60 của thế kỉ trước, Trường phái hình thức bị bỏ quên ngay tại quê hương mình. Ở trên chúng tôi đã nhắc tới việc B.V.Tomasevski bị đuổi khỏi Đại học Tổng hợp Leningrad vào năm 1931 và mãi 29 năm sau, năm 1959, giới nghiên cứu lại mới được nhìn thấy cuốn Lí luận văn học… của ông. Dĩ nhiên, cuốn sách của Tomasevski không phải là trường hợp ngoại lệ. Trước những năm 60, hầu như người ta không mấy khi nhắc tới các nhà hình thức luận. Nếu có ai đó còn nhắc tới hệ thống quan niệm văn học, hệ thống khái niệm, phạm trù và cả hệ thống phương pháp, thao tác phân tích văn bản nghệ thuật của họ, thì chủ yếu chỉ là để nhằm mục đích phê phán.

Nhưng lịch sử thường có những bước đi đầy bất ngờ. Trước khi Đảng Cộng sản Liên Xô ra Nghị quyết thủ tiêu tất cả các nhóm phái, hiệp hội văn học (1932), thì “Câu lạc bộ ngôn ngữ Prague” thành lập (tháng 10 năm 1926) do Vilem Mathesius (1882 -1945) đứng đầu với nòng cốt là các nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc như B. Havranek, I. Vachek, B. Trika, J. Mukarovski, V. Skalitzka, I. Korzinek, P.Trost… và các học giả Nga như N.S. Troubetyzkoi, R.O. Jakobson. Câu lạc bộ ngôn ngữ Prague còn nhận được sự cộng tác thường xuyên và đầy hiệu quả của hàng loạt nhà nghiên cứu Xô viết vốn là thành viên của Trường phái hình thức Nga, như P.G. Bogatyrev, G.O. Vinokure, E.D. Polivanov, B.V. Tomasevski, Iu.N. Tynhianov…Vào năm 1928, Tynhianov và Jakobson còn viết chung công trình: Những vấn đề nghiên cứu văn học và ngôn ngữ. R. Jakobson, N. Troubetzkoi và các học giả Xô viết nói trên đã làm thành nhịp cầu nối giữa Câu lạc bộ ngôn ngữ Prague và Trường phái hình thức Nga, tạo nên mảnh đất tốt lành cho việc ươm giữ và tiếp tục phát triển những tư tưởng khoa học hiện đại mà chính họ là những người dày công gieo trồng.

Những bước đi bất ngờ của lịch sử nhiều khi rất trớ trêu. Vào những năm 60 của thế kỉ trước, khi V. Shklovski thường quay trở lại phê phán quan niệm thời trẻ của mình, thì Trường phái hình thức Nga lại tìm được sự thừa nhận rộng rãi ở các nước Âu – Mĩ. Hàng loạt học giả lừng danh như Tzvetan Todorov, Roman Jakobson, Victor Erlich, Nicolas Riwet, Jean-Yves Tadié, Michel Aucouturier,  Kristyna Pomorska… đã dày công sưu tập, phiên dịch, nghiên cứu, giới thiệu trước tác của Trường phái hình thức Nga. Nhờ thế, tư tưởng khoa học của các nhà hình thức luận Nga được tái sinh trong nhiều trường phái, khuynh hướng nghiên cứu, phê bình văn học Âu – Mĩ, như ngôn ngữ học cấu trúc, cấu trúc – chức năng, giải cấu trúc, tiếp nhận văn học, phê bình mới, trần thuật học, cấu trúc – kí hiệu học văn hóa…

Đến những năm 70, Trường phái hình thức Nga mới thực sự được hồi sinh trên đất nước Xô Viết. Có thể nhận ra sự hồi sinh ấy qua việc tập hợp, tái bản trước tác của các nhà hình thức luận. Giờ đây, các cơ quan ấn loát không chỉ tái bản các chuyên luận mà còn tập hợp gần như toàn bộ tiểu luận của những nhân vật chủ chốt để xuất bản dưới hình thức các tập tuyển. Xin dẫn một vài trường hợp tiêu biểu:

+ Các Tập tuyển của Iu.N. Tynhianov:

Puskin và những người đương thời.- “Nauka”, M., 1969 – Tập hợp những bài viết từ 1926 đến 1941 về Puskin và các nhân vật đương thời, như: Puskin và Chiutzev (1923), Cánh nệ cổ và Puskin (1926), Puskin (1928), Cốt truyện “Khổ vì trí tuệ” (1941)…

– Thi pháp. Lịch sử văn học. Điện ảnh.- “Nauka”, M., 1977 – Tập hợp những bài nghiên cứu thi pháp, lịch sử văn học và điện ảnh từ 1921 đến 1930, như: Các dạng thức câu thơ của Nhekrasov (1921), Blok (1921), Ghi chép về văn học phương Tây (1921), Dostoevski và Gogol (Bàn về lí thuyết giễu nhại (1921), Về kết cấu Evgeni Onegin (1922), Chiutzev và Heine (1922), Georgi Maslov (1922), Oda như một thể hùng biện (1922), Vấn đề về Chiutzev (1923), Lời tựa sách “Vấn đề ngữ nghĩa câu thơ” (1923), Tạp chí, nhà phê bình, người đọc và nhà văn (1924), Cái hôm nay của văn học (1924), Sự thật văn học (1924), Điện ảnh – Lời – Âm nhạc (1924),  Về cố truyện và tình tiết trong điện ảnh (1926), Về sự tiến hoá của văn học (1927), Những vấn đề nghiên cứu văn học và Ngôn ngữ (1928, đồng tác giả với R.Jakobson), Majakovski. Những kiệt tác của nhà thơ (1930)…

Lịch sử văn học. Phê bình văn học.- SPb, “Azbuka-Klassika”, 2001 – Tập hợp những bài viết từ 1921 đến 1930, như: Valeri Briusov (1924), Puskin và Kiukhenberker (1934)… và mhiều công rình đã in trong 2 tuyển tập nói trên.

Sự tiến hoá của văn học.- Tác phẩm lựa chọn.- M., “Agraf”, 2002 – Tuyển lựa, tái bản những công trình xuất sắc nhất của Tynhianov.

+ Các tuyển tập của B.M. Eikhenbaum:

Về thơ.- “Sovietski Pisatel”, L., 1969; M.; 1987 – Tập hợp chuyên luận: Giọng điệu câu thơ trữ tình Nga (1922) và các tiểu luận: Nhekrasov (1921), Những vấn đề thi pháp Puskin (1924), Về ngâm thơ thu thanh (1927), Nhà thơ – Nhà báo//Nhekrasov: Kỉ niệm 50 năm ngày mất. Bài báo và hồi ức (1928), Những vấn đề cơ bản của việc nghiên cứu sáng tạoc ảu Lermontov (1935), Những vấn đề nghệ thuật của Lermontov (1940)…

   – Về văn xuôi.- L., 1969 – Tập hợp các tiểu luận: Karamzin (1916), “Áo choàng” của Gogol được làm như thế nào (1919), Anh hùng thời đại chúng ta, Con đường đến với văn xuôi của Puskin (1923)…

   – Về văn học:Công trình của nhiều năm khác nhau.- M., 1987 – Tập hợp chuyên luận: Lermontov: Kinh nghiệm đánh giá lịch sử – văn học(1924) và các tiểu luận: Balmon: Thơ như là pháp thuật thần thông (1916), Về văn xuôi M. Kuzmin (1920), Số phận Blok (1921), Tiểu thuyết – trữ tình (1921), Lí luận của “phương pháp hình thức” (1927)…

   Những ai theo dõi số phận lịch sử của Trường phái hình thức Nga đều nhận ra, mấy chục năm trở lại đây, trước tác của V.B. Shklovski, B.V. Tomasevski, R. Jakobson, O.M. Brik, E.D. Polivanov, L.P. Jakubinski…được tái bản nhiều lần. Và chỉ cần qua hai ví dụ dẫn ra ở trên cũng đủ để ta hình dung Trường phái hình thức Nga đã hồi sinh thế nào ngay trên quê hương của nó trong những năm 70, 80 của thế kỉ trước. Song song với việc sưu tập, chỉnh lí, tái bản những công trình từng một thời bị quên lãng, di sản lí luận của Trường phái hình thức Nga bắt đầu được khảo sát toàn diện, sâu sắc. Lịch sử Trường phái hình thứ Nga, mối quan hệ giữa nó với các trào lưu tư tưởng,  triết học, mĩ học cổ đại (mĩ học Aristotel chẳng hạn) và  hiện  đại (như triết học và mĩ học Kant, Hegel), nhất là với các khunh hướng triết học, nghiên cứu văn học hồi đầu và cuối thế kỉ XX như chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa tiên phong, phân tâm học, chủ nghĩa Mác, thực chứng luận, hiện tượng luận, cấu trúc luận, giải cấu trúc, tiếp nhận văn học, phê bình mới, kí hiệu học, cấu trúc – kí hiệu học văn hoá… đã trở thành đối tượng nghiên cứu trung tâm của hàng loạt học giả Nga – Xô viết, như L. Ghinburg, M.O. Tzudakova, G. Bjaly, V. Eidinov, V. Linheski, R.S. Korotkova, B. Paramonov, D. Ustinov, Ja.S. Levtzenko, O.A. Lekmanov, I. Japolski, G.A. Gukovski, L. Uspenski, Iu.M. Lotman, I.M. Djakonov, N.D. Tamartzenko… Vẫn còn nhiều vấn đề đang được tiếp tục được bàn luận, tranh cãi. Quan hệ giữa M. Bakhtin và các nhà hình thức luận là thế nào?[131] Trường phái hình thức và chủ nghĩa Mác là “đối thủ”, hay “địch thủ”?[132] Chủ nghĩa hình thức là “phương pháp” hay “thế giới quan”?[133] Trường phái hình thức có vị trí thế nào trong viễn cảnh của lí luận khoa học[134]…. Những vấn đề như thế vẫn chưa tìm được sự đồng thuận trong tiếng nói của các nhà khoa học.

Những vấn đề đang tiếp tục tranh luận dẫu có bề bộn thế nào thì trong bức tranh chung của nền lí luận văn học Nga hậu Xô Viết, Trường phái hình thức vẫn có một chỗ đứng trang trọng. Ngày nay, tên tuổi của nhiều nhà hình thức luận trở thành những mục “từ – khái niệm” trong các pho từ điển lớn bằng tiếng Nga, ví như Bách khoa Xô viết đại từ điển, Bách khoa văn học, Văn hoá học thế kỉ XX… Trước tác của họ được các nhà nghiên cứu trích dẫn như những tác phẩm cổ điển và được sử dụng như những tài liệu tham khảo không thể thiếu trong các chương trình đào tạo ngành ngữ văn ở các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu…Trên mạng Internet có những website bằng tiếng Nga dành riêng cho “OPOJAZ”[135] và một số nhân vật chủ chốt của Trường phái hình thức để tất cả những ai quan tâm đều có thể tra cứu[136].

Chương V

Trường phái Tartu – Moscow

 và sự lên ngôi của các hệ thống lí luận phi chính thống

Như đã nói, nền lí luận văn học Xô viết chưa bao giờ là một hệ thống thuần nhất. Ngay cả ở thời kì hoàng kim nhất của nền lí luận toàn trị, người ta vẫn nghe thấy những tiếng nói khác lạ. Chẳng hạn, năm 1934, Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội nhà văn Liên Xô đã quyết định lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp tốt nhất của sáng tác và nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Chủ nghĩa Mác đề cao thuyết tiến hoá. Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhà văn phái miêu tả hiện thực “trong xu thế phát triển cách mạng”. Thế mà trong luận án Tiến sĩ Thi pháp cốt truyện và thể loại, bảo về năm 1935, O.M. Freidenberg (1890 – 1955) lại chủ trương tiếp cận các hiện tượng văn hoá từ quan điểm “nòi giống”, “nguồn cội”, lấy thuyết “nòi giống”, “nguồn cội” để chống lại thuyết “tiến hoá”. Bà cho rằng, ở những giai đoạn phát triển khác nhau, dù hình thức biểu hiện có khác nhau thế nào, thì mọi hiện tượng văn hoá vẫn tồn tại trên nền tảng của một cái “gène” bất biết. Cho nên, khám phá quan hệ bất biến giữa hai “sự  thực”  – “sự thực” như là hạt nhân tiềm ẩn của mọi hình thức văn hoá, và “sự thực” như là sự biểu hiện của hạt nhân tiềm ẩn ấy trong hình thức cụ thể của các hiện tượng văn hoá – là nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà nghiên cứu[137]. Là Giáo sư, Chủ nhiệm Bộ môn Ngữ văn học cổ điển của Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Leningrad, năm 1950, O.M. Freidenberg từ chức chỉ vì không tán thành những phát biểu của Stalin chống lại quan điểm lịch sử của N.Ja. Marr (1864 – 1934)[138].

Từ những năm 60 – sau cái chết của Stalin, tệ sùng bái cá nhân bị lên án, tầng lớp trí thức không còn bị đàn áp khốc liệt, nhiều người bị tù đày trước kia nay được minh oan, chiêu tuyết – trong nghiên cứu văn học ngày càng thấy xuất hiện nhiều hơn những hệ thống lí thuyết độc đáo. Có những hệ thống lí thuyết của cá nhân các học giả. Nhưng cũng có những hệ thống lí thuyết tập hợp nhiều học giả làm thành một trường phái  có uy tín quốc tế.

Có thể kể tên một loạt học giả Xô Viết, tuy không thuộc trường phái nào, nhưng từ lâu đã trở nên quen thuộc với các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Chắc chắn, nhiều học giả Việt Nam, có thể từng là sinh viên, nghiên cứu sinh, đã đọc trực tiếp bản tiếng Nga, hoặc bản dịch sang tiếng Việt những công trình nghiên cứu tuyệt vời của S.S. Averinsev, M.L. Andreev, Iu. Bore, M.L. Gasparov,  P.A. Grinser, D.S. Likhasev  I. Ilin E.M. Meletinski, G.N. Pospelov… Các học giả ấy mỗi người theo đuổi một lĩnh vực nghiên cứu riêng, không ai giống ai. Xin dẫn một vài trường hợp cụ thể:

– M.L. Gasparov (1935 – 2005): Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga, là nhà ngữ văn học cổ điển lỗi lạc, là dịch giả uyên thâm chuyên dịch các văn bản cổ đại và trung đại, thơ và văn xuôi hiện đại. Tuy không phải là thành viên, nhưng ông từng cộng tác chặt chẽ với Trường phái kí hiệu học Tartu – Moscow, viết nhiều tiểu luận sâu sắc, đầy trang trọng về ý nghĩa phương pháp luận trong các công trình của Iu.M. Lotman, như Iu.M. Lotman: Khoa học và tư tưởng hệ, Lotman và chủ nghĩa Mác (1995). Ông là tác giả của trên 200 công trình lớn nhỏ, trong đó có nhiều chuyên luận, tiểu luận mẫu mực, có giá trị khoa học cao. Theo trình tự biên niên, có thể liệt kê một số công trình cơ bản như sau: Ngụ ngôn văn học cổ đại (1971), Câu thơ Nga hiện đại: âm luật và tiết tấu (1974), Lược khảo lịch sử câu thơ Nga: âm luật, tiết tấu, vần luật, phân khổ (1984), Lược khảo câu thơ châu Âu (1989), Chủ nghĩa tiên phong hàn lâm: bản chất và văn hoá ơ Briusov giai đoạn cuối (1995), Hy Lạp lí thú: Những câu chuyện về văn hoá cổ đại Hy Lạp (1995-1998), Tuyển tập công trình 3 tập: Tập 1: Về các nhà thơ, Tập 2: Về các bài thơ, Tập 3: Về câu thơ: âm luật, vần điệu, phân khổ, mô hình xác suất của câu thơ. Blok, Pasternak, Majakovski (1987), Niêm luật và ý nghĩa: Về mộ loại cơ chế máy móc của kí ức văn hoá (1999). Ngày nay, để tưởng nhớ M.L. Gasparov, hàng năm, Viện nhân văn học cao cấp tổ chứ Hội thảo Đọc Gasparov, đề tài hội thảo phù hợp với các hướng nghiên cứu của ông: Ngữ văn học cổ điển, lí luận dịch thuật, văn học Nga thế kỉ XIX, văn học Nga đầu thế kỉ XX, lí luận thơ.

– D.S. Likhasev (1906-1999) là nhà nghiên cứu văn học và lịch sử văn hoá, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (từ 1953: Viện sĩ thông tấn. Từ 1970: Viện sĩ chính thức). Ông để lại một di sản đồ sộ. Công trình đầu tiên của ông được đăng báo vào năm 1930. Ông bảo vệ luận án Phó Tiến vào năm 1941, đề tài luận án: Bộ luật biên niên sử của Novgorod thế kỉ XII.  Năm 1942, ông in chuyên luận đầu tiên: Phòng tuyến của các thành phố Nga cổ. Những năm sau đó ông cho xuất bản hàng loạt công trình có giá trị: Sự tự nhận thức dân tộc của nước Nga (1945), Văn hoá Nga ở thời đại giáo dục tinh thần quốc gia dân tộc Nga (từ cuối thế kỉ XIV đến thế kỉ XVI) (1946, tái bản 1967), Lược khảo các dạng thức văn học của sử biên niên từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVI. (1947, Luận án Tiến sĩ), Bài ca binh đoàn Igor (1950, dịch, giới thiệu và chú giải), Lịch sử văn học Nga (1952, giáo trình viết chung, Giải thưởng Quốc gia), Sự xuất hiện của văn học Nga (1954), Con người trong văn học Nga cổ (1958, tái bản vào các năm 1970, 1987), Thi pháp văn học cổ Nga (1967, Giải thưởng Quốc gia, tái bản vào các năm 1971, 1979, 1987), Di sản nghệ thuật của nước Nga cổ đại (1971)…Sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ di sản đồ sộ của D.S. Likhasev là nhiệt tình chứng minh vẻ đẹp thẩm mĩ độc đáo của nền văn hoá cổ đại Nga.

– G.N. Pospelov (1899 – 1992) là tác giả của gần 200 công trình lớn mhỏ[139].  Tiểu luận đầu tay Bàn về vấn đề hình thức và nội dung của ông được đăng báo vào năm 1825. Năm 1929, ông viết xong luận án Phó Tiến sĩ về I.S.Turgheniev, nhưng không bảo vệ. Năm 1940, ống xuất bản chuyên luận Lí luận văn học, đặt nền tảng cho quan niệm xem nghệ thuật là một dạng tư tưởng hệ phi lí thuyết. Năm 1945, ông bảo vệ luận án Tiến sĩ với đề tài Từ lịch sử văn học Nga thế kỉ XVII – XIX (Về sự phân định các khái niệm phong cách, phương pháp, khuynh hướng). Rõ ràng, hoạt động nghiên cứu của G.N. Pospelov ngay từ đầu đã có thiên hướng nghiêng về phía lí luận văn học. Cho nên, năm 1960, khi Bộ môn Lí luận văn học đầu tiên ở Liên Xô được thành lập tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov (MGU), Pospelov được làm Chủ nhiệm Bộ môn, và ông giữ chức vụ đó cho đến năm 1977. Suốt ba chục năm, từ những năm 60 đến hết những năm 80, mối quan tâm chủ yếu của G.N.Pospelov là những vấn đề lí luận văn học. Cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học xuất bản năm 1976 (tái bản vào các năm 1983, 1988) do ông làm chủ biên đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Đức, Bulgari và cả tiếng Việt. Ông có 7 chuyên luận và một tập tiểu luận dành riêng cho các vấn đề lí luận văn học và nghệ thuật học: Về bản chất nghệ thuật (1960), Cái thẩm mĩ và cái nghệ thuật (1965), Những vấn đề phong cách văn học (1970), Những vấn đề phát triển lịch sử văn học (1972 – Bộ môn Lí luận văn học, Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội đã dịch chuyên luận này làm tài liệu tham khảo nội bộ), Trữ tình giữa các thể loại văn học (1976), Những vấn đề phương pháp luận và thi pháp học (1983 – tuyển tập tiểu luận), Nghệ thuật và mĩ học (1984), Sự phát triển theo giai đoạn của các nền văn học châu Âu (1988).

Qua những dẫn chứng trên có thể thấy, giới nghiên cứu văn học Liên Xô (cũng giống như ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước Xã hội chủ nghĩa trước đây) được chia thành hai phái rõ rệt: phái Lí luận và phái Lịch sử văn học. Iu. Borev, G.N. Pospelov, I. Ilin…thuộc phái lí luận. D.S. Likhasex, G.N.Gasparov, S.S. Averinsev, M.L. Andreev, P.A. Grinser thuộc phái văn học sử. Tuy đối tượng quan tâm có thể gần nhau, nhưng công trình khoa học của họ bao giờ cũng để lại dấu ấn của một tư tưởng khoa học tầm cỡ, một hướng tiếp cận cách tân và một hệ thống phương pháp, thao tác nghiên cứu độc đáo. Những nhân tố đó làm nên tính lí luận trong những công trình nghiên cứu của học. Cho nên, ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định, ở Liên Xô trước kia, bên cạnh hệ thống lí luận chính thống, còn có rất nhiều hệ thống lí thuyết của cá nhân các học giả. Rất tiếc là trước kia, khi Việt Nam bắt tay xây dựng nền lí luận văn học hiện đại, chúng ta chưa nhìn thấy hết giá trị của những hệ thống lí thuyết này.

Ngoài những hệ thống lí thuyết của cá nhân các học giả, trong nền lí luận văn học Xô viết còn tồn tại cả hệ thống lí thuyết của một trường phái mang tầm cỡ quốc tế, không thua kém bất kì một trường phái nào ở các nước Âu – Mĩ: Trường phái kí hiệu học Tartu – Moscow. Ở thế kỉ trước, từ sau những năm 60, trong lĩnh vực xã hội – nhân văn, đây là trường phái khoa học duy nhất của Liên Xô. Hoạt động của nó bao trùm những lĩnh vực vô cùng rộng lớn: ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học và chủ yếu là kí hiệu học văn hoá học. Thực tiễn hoạt động của trường phái này chứng tỏ, nó không có tham vọng nghiên cứu lí thuyết để trở thành triết thuyết, mà chỉ có chủ trương ứng dụng hệ thống phương pháp của chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học vào việc phân tích các ngôn ngữ văn hoá và các văn bản văn hoá. Cho nên, người ta còn gọi nó bằng cái tên đầy đủ hơn: Trường phái cấu trúc – kí hiệu học Tartu – Moscow. Phải nói ngay: trường phái này có cả một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Trong quá trình phát triển, nó thu hút được sự tham gia của rất nhiều học giả, tư tưởng khoa học của nó vì thế cũng rất phức tạp và không ngừng tiến hoá. Ngày nay, danh mục các công trình nghiên cứu, bao gồm tiểu luận, chuyên luận, ghi chép, hồi kí… viết về nó nhiều không kể xiết. Cho nên, bàn về hệ thống lí thuyết, số phận lịch sử và vị trí của Trường phái Tartu – Moscow trong cấu trúc chỉnh thể của nền lí luận văn học Nga hậu Xô viết chắc chắn không phải là việc dễ dàng và đơn giản.

Tên gọi trường phái tự nó đã cho thấy, đó là sự hợp nhất của hai nhóm học giả ở hai địa phương khác nhau: nhóm Tartunhóm Moscow. Nhóm Tartu là một tập thể giảng viên và sinh viên Khoa văn học Nga thuộc Đại học Tổng hợp Tartu (Estonia), hạt nhân là B.F. Egorov, Iu.M. Lotman, Z.G. Mintz, A.I. Tzernov…Nhóm Moscow gồm các nhà ngôn ngữ học, ngữ văn học, tiêu biểu nhất là B.A. Uspenski, V.N. Toporov, V.Vs. Ivanov, Iu.K. Lekomsev (Iu.K. Lekomsev là chuyên gia tiếng Việt). Thời gian tồn tại của Trường phái Tartu-Moscow thường được tính từ đầu những năm 60 cho đến cuối những năm 70. Nếu nói thật chính xác, có thể khẳng định, từ đầu năm 1986, trên thực tế, trường phái này hoàn toàn chấm dứt sự tồn tại của mình[140].

Phải đặt hoạt động của Trường phái Tartu-Moscow vào bối cảnh của đời sống khoa học ở Liên Xô vào những năm 60 của thế kỉ trước, ta mới thấy sự ra đời của nó là tất yếu. Các nhà khoa học đến với “Tartu – Moscow” bằng những con đường khác nhau, rồi khi rời bỏ nó, người ta cũng ra đi bằng những con đường khác nhau. Nhưng vẫn có một điểm chung gắn kết họ lại để làm thành sức mạnh của một trường phái. Điểm chung ấy là sự bất mãn với chủ nghĩa thủ cựu, thói tuỳ thời của giới hàn lâm Xô viết, là sự thất vọng với hệ thống phương pháp luận khoa học hiện có (chủ yếu là phương pháp luận Mác xít trong cách vận dụng thô thiển của đội ngũ học giả đã hoá thành cán bộ, thành công chức nhà nước) và niềm khát khao mở ra những con đường mới, những lối đi mới để đến với chân lí. Trường phái Tartu-Moscow không chỉ là một khuynh hướng khoa học có công đem đến cho công chúng một ngôn ngữ mới, mà nó còn là hình mẫu của một phương thức hoạt động và tồn tại kiểu mới. Nó biến “trường phái” thành một kiểu “trường học chưa từng có ở đâu”, “mật khẩu” riêng của nó là “tinh thần tự do nội tại” và ngôn ngữ miêu tả kí hiệu học. Bàn về ngôi trường ấy không thể quên Iu.M. Lotman, người sáng lập ra nó và là linh hồn của nó.

Iu.M Lotman (1922 – 1993) vốn là sinh viên Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Leningrad. Ông từng là học trò của những danh sư lỗi lạc, như M.K. Azadovski, V.Ja. Propp, G.A. Gukovski, V.M. Zirmusnki, B.M. Eikhenbaum. Mùa thu năm 1940, vừa kết thúc năm thứ I, ông bị gọi vào lính. Năm 1946, ông giải ngũ và lại tiếp tục học đại học. Lotman đã tham gia nghiên cứu khoa học ngay từ khi còn là sinh viên. Trong hai năm 1949, 1950, ông công bố nhiều nhiều bài nghiên cứu viết về tư tưởng xã hội và tư tưởng văn học Nga giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Năm 1950,  Lotman tốt nghiệp đại học loại xuất sắc. Đây là lúc ở Liên Xô, nhất là ở các cơ quan khoa học xã hội – nhân văn, đang ráo riết tiến hành chiến dịch bài Do Thái, chống lại những kẻ theo cái gọi là “chủ nghĩa thế giới”.  Với Lotman, một người Do Thái, cánh cửa nghiên cứu sinh và mọi nẻo đường dẫn tới bục giảng ở những thành phố lớn như Leningrad đều bị đóng chặt. Thế là số phận đã run rủi, đưa Lotman đến với Estonia. Bình luận về sự kiện này, B.F. Egorov viết: “Có những cơ quan nào đó – về lí, chẳng dính dáng gì tới khoa học và giáo dục, nhưng trong thực tế lại nắm giữ tất cả, quản lí tất cả – đã đẩy Iuri Mikhailovich vào chỗ “cùng đường tuyệt lộ”, rào kín mọi lối đi của ông ấy- thế mà những công trình nghiên cứu của học giả ấy đã vượt qua mọi biên giới, được dịch ra hàng chục thứ tiếng, làm cho tên tuổi của tác giả được cả thế giới biết tới và Tartu, một thành phố Estonia vốn lặng lẽ, nơi mà chẳng phải người nước ngoài nào cũng dễ dàng tới được, trở thành địa điểm hành hương của giới nhân văn, cả già lẫn trẻ”[141]. Phải có tài năng lớn và nghị lực phi thường, Lotman mới làm được những điều kì diệu như vậy. Ở Estonia, Iu.M. Lotman làm giảng viên, sau đó giữ chức vụ Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ và Văn học Nga của Đại học Tổng hợp Tartu. Năm 1952, Lotman bảo về luận án Phó Tiến sĩ với đề tài: A.N. Radisev trong cuộc đấu tranh với những quan điểm chính trị – xã hội và mĩ hị quý tộc của N.M. Karamzin. Luấn án Tiến sĩ với đề tài Những con đường phát triển của văn học Nga giai đoạn tiền tháng Chạp được ông bảo về thành công vào những năm 1961. Vào những năm 50 đối tượng quan tâm của Lotman đã bao trùm một phạm vi rất rộng, gồm lịch sử báo chí và phê bình, lịch sử văn học Nga ở những thời đại khác nhau. Thông qua hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, Lotman đã tập hợp được một nguồn tư liệu khổng lồ. Nhưng ông ngày càng ý tức rõ không thể hệ thống hoá nguồn tư liệu ấy bằng những phương pháp văn hoá – lịch sử truyền thống. Từ cuối những năm 50, niềm đam mê của Lotman chuyển dần qua các vấn đề phương pháp luận, trước hết là phương pháp ngôn ngữ học, kí hiệu học và chủ nghĩa cấu trúc. Năm 1958, lần đầu tiên ở Đại học Tổng hợp Tartu, Lotman chính thức giảng dạy  giáo  trình “Thi pháp cấu trúc và sự vận dụng phương pháp cấu trúc – kí hiệu học vào viêc phân tích văn học và văn hóa”. Về sau, Lotman đã trình bày những tư tưởng mới mẻ của mình trong chuyên luận Những bài giảng về thi pháp cấu trúc, xuất bản lần đầu vào năm 1964. Đó chính là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của Trường phái Tartu – Moscow.

Quá trình đến với phương pháp cấu trúc – kí hiệu học của nhóm Tartu và nhóm Moscow diễn ra gần như đồng thời, nhưng hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào nhau. Năm 1962, dưới sự chủ trì của Viện nghiên cứu Slavơ và Ban nghiên cứu điều khiển học, nhóm Moscow đã tổ chức một hội nghị khoa học chuyên đề về về nghiên cứu các hệ thống kí hiệu từ gíac độ cấu trúc. Hội nghị nghe các tham luận về kí hiệu học ngôn ngữ, kí hiệu học lô gíc, việc dịch thuật thực hiện trên máy, kí hiệu học nghệ thuật, huyền thoại học, miêu tả ngôn ngữ của các hệ thống giao tiếp ngoài lời, kí hiệu học giao tiếp của người câm điếc, kí hiệu học lễ nghi…Tham gia hội nghị là những nhà khoa học có uy tín, như P.G. Bagatyrev, V.Vs. Ivanov, V.N. Toporov, L.F. Zegin, A.A. Zaliznjak…Sau khi được đọc đề cương của các bản tham luận của hội nghị khoa học nói trên, Iu.M. Lotman đã đề nghị nhóm Moscow hợp tác nghiên cứu trên cơ sở của Đại học Tổng hợp Tartu. Năm 1964, hai nhóm Moscow và Tartu hợp nhất lại với nhau làm thành Trường phái Tartu – Moscow. Lịch sử của nó được khởi đầu bằng hoạt động của “Trường kí hiệu học mùa hè lần thứ nhất”. Từ đây, nói tới Trường phái này, bao giờ người ta cũng nghĩ ngay tới 3 loại hình hoạt động hoạt động sau đây:

+ Thứ nhất: Hội thảo khoa học. Hội thảo thường được tổ chức 2 năm một lần. Có 5 cuộc hội thảo lớn: 3 lần (1964, 1966, 1968) họp tại Kjaerika, 2 lần (1970, 1974) họp ở Tartu. B.A. Uspenski đánh giá rất cao vai trò của những cuộc hội thảo này. Ông viết: “Không khí trong các cuộc hội thảo rất thoải mái. Hội thảo có vai trò vô cùng lớn lao trong việc tạo ra những quan niệm chung, một cương lĩnh thống nhất, làm cho những tư tưởng khác nhau xích lại gần nhau theo cùng một hướng. Giữa các tham luận tất nhiên là có tranh luận, nhưng không phải hình thức độc thoại, mà chính là đối thoại mới giữ vai trò chủ đạo trong tranh luận.  Điểm khác biệt nổi bật của những cuộc hội thảo này là hoàn toàn vắng bóng bất kì một sự tổ chức nào đó”[142].

+ Thứ hai: Trường kí hiệu học Tartu – Moscow. Tất cả có 5 khoá:

– 1964 – Trường kí hiệu học mùa hè lần thứ nhất,

– 1966 – Trường kí hiệu học mùa hè lần thứ hai,

– 1968 – Trường kí hiệu học mùa hè lần thứ ba,

– 1970 – Trường kí hiệu học mùa hè lần thứ tư,

– 1974 – Trường kí hiệu học “mùa đông” lần thứ năm (Hội thảo về các hệ thống mô hình hoá thứ cấp toàn Liên Xô).

+ Thứ ba: Xuất bản ấn phẩm định kì: Những công trình về các hệ thống kí hiệu.

Trong vòng trên dưới 20 năm tồn tại, các thành viên của Trường phái Tartu – Moscow đã để lại một số lượng công trình khổng lồ. Chỉ cần liệt kê số lượng công trình của riêng Iu.M. Lotman, người sáng lập ra trường phái, và công trình được công bố trên ấn phẩm chính thức của trường phái ấy, ta đã có một danh mục rất dài. Từ 1964 đến 1992 (sinh thời Iu.M. Lotman), Trường phái Tartu – Moscow đã cho ra mắt độc giả  25 “quyển” dưới dạng tuyển tập Những công trình về các hệ thống kí hiệu. Quyển số 1 in trọn vẹn Những bài giảng về thi pháp cấu trúc của Iu.M. Lotman. Thống kê bài vở của cả 25 “quyển”, ta sẽ thấy có 278 công trình lớn nhỏ, trong đó,  nhiều công trình rất có giá trị[143]. Như đã nói, từ 1964, Iu.M. Lotman bắt đầu công bố các chuyên luận, tiểu luận nghiên cứu cấu trúc – kí hiệu học. Nhìn vào danh mục công trình của Iu.M. Lotman từ 1964 đến 1992, ta  sẽ thấy, ông có tới 722 công trình đã được công bố[144].

Những đóng góp to lớn của Trường phái Tartu – Moscow, của cá nhân Iu. Lotman cho nghiên cứu văn học và văn hoá học – ở nước Nga, nói riêng, và trên phạm vi toàn thế giới, nói chung – là có thực. Hoặc chỉ cần đọc những chuyên luận, ví như Lược khảo các dạng thức văn học của sử biên niên từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVI, Thi pháp văn học cổ Nga của D.S. Likhasev, Câu thơ Nga hiện đại: âm luật và tiết tấu, Lược khảo lịch sử câu thơ Nga: âm luật, tiết tấu, vần luật, phân khổ, Lược khảo câu thơ châu Âu của M.L. Gasparov, Trữ tình giữa các loại thể văn học, những vấn đề phát triển lịch sử của văn học của G.N. Pospelov, hay một vài tiểu luận, ví như Các phạm trù thi pháp trong sự thay đổi của các thời đại văn học của S.S. Averinsev, M.L. Andreev, M.L. Gasparov, P.A. Grinser, A.B. Mikhailov, ta sẽ tin, sự tồn tại của những hệ thống lí thuyết thể hiện tư tưởng của cá nhân các học giả trong nền lí luận văn học của Liên Xô trước kia cũng là có thật. Nhưng vẫn còn một sự thực khác: trước cải tổ, khi khoa học bị nhà nước hoá, bị đồng nhất với quan điểm tư tưởng và lập trường giai cấp, các hệ thống lí thuyết mang dấu ấn tư tưởng cá nhân và hướng nghiên cứu cấu trúc – kí hiệu học chỉ là những hệ thống lí thuyết phi chính thống. Chúng không bao giờ nhận được sự khuyến khích của cá nhà chứ trách.  Người ta thấy cần phải hạn chế tầm ảnh hưởng của chúng. Chẳng những thế, tác giả của những hệ thống lí thuyết ấy đã nhiều phen bị đấu tố, thậm chí, bị tù tội. Chẳng hạn, D.S. Likhasev từng bị tù tội, còn G.N. Pospelov có đến ba lần bị đấu tố. Năm 1928, D.S.Likhasev bị bắt vì tham gia câu lạc bộ sinh viên “Viện Hàn lâm vũ trụ khoa học”. Ông bị quy tội “phản cách mạng” vì đã đọc ở đó một tham luận nói về luật chính tả cũ của tiếng Nga “đã bị kẻ thù của nhân dân Nga và chính thống giáo sửa chữa và xuyên tạc”. Vì tội ấy, ông lĩnh án 5 năm cấm cố trong trại giam đặc biệt dành cho các tù nhân chính trị (từ 1928 đến 1931). Năm 1929, Pospelov bị đấu tố lần thứ nhất trên các báo “Ấn loát và cách mạng”, “Trên vọng gác văn học”. Ông bị đấu tố chỉ vì đã “phát triển đến giới hạn lô gíc cuối cùng” các luận điểm của V.F. Pereverzev[145] – những luận điểm mà lúc ấy đang bị giới phê bình chính thống xem là “biến tướng của chủ nghĩa Melsevich trong nghiên cứu văn học”.  Kết quả của cuộc đấu tố này là Pospelov buộc phải thôi việc ở Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow[146]. Cuộc đấu tố lần thứ hai diễn ra vào năm 1947 trên tờ “Báo văn học” sau một bài phát biểu của Pospelov tại hội thảo khoa học về A.N.Veselovski. Lần này Pospelov bị buộc tội vì  “không thừa nhận quan điểm của Veselovski là một bước lùi so với những nguyên tắc mĩ học của các nhà dân chủ cách mạng”. V. Novikov phê phán: “Ý kiến đặc biệt của GS G. Pospelov chẳng phải là gì khác, mà chính là sự phát triển một quan niệm cũ mèm, từ lâu đã bị phê phán về sự sung khắc giữa khoa học và chính trị, về sự độc lập của khoa học “chân chính” với đời sống xã hội và đấu tranh chính trị”[147] .  Năm 1949, sau khi đăng bài Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn, Pospelov lại bị E. Kovalsik  đấu vì tội “tách rời văn học với chính trị”. Theo dõi những ý kiến đấu tố nhắm vào tiểu luận Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn, ngày 3 tháng 10 năm 1949, thân phụ Pospelov đã viết thư cho ông: “Cha đã đọc bài phê bình chống lại tiểu luận của con về chủ nghĩa lãng mạn trên “Báo văn học”. Cha chỉ muốn biết, hiện con đang phải lo lắng thế nào trước lời buộc tội ấy và con sẽ phản ứng ra sao. Tiểu luận của con chỉ có một sai lầm, ấy là con đã nẩy ra ý định thực hiện quyền nghiên cứu tự do trong một bối cảnh không thích hợp”[148].  Có một thời, hướng nghiên cứu cấu trúc – kí hiệu học của trường phái Tartu – Moscow từng bị xem là một thứ “tà thuyết”. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự tan rã của nó. Trong bài Trường phái Tartu – Moscow. Lịch sử giản yếu, nhà nghiên cứu I. Vasiliev nhận xét: “Thời kì cao trào của kí hiệu học ở Liên Xô, thời kì “bão táp và cách mạng” đã kết thúc phần lớn không hẳn là do sự phân rẽ thực tế là có thật trong nội bộ của những thành viên tham gia quá trình ấy, mà chủ yếu là do áp lực từ bên ngoài đè nặng lên trường phái. Một bộ phận các thành viên của Trường phái Tartu – Moscow đã buộc phải di tản ra nước ngoài, ấn phẩm Những công trình về các hệ thống kí hiệu nhiều lần bị giữ lại, bài vở của các thành viên Trường phái Tartu – Moscow đều bị kiểm duyệt”[149]. B.F. Egorov, thành viên chủ chốt của trường phái Tartu – Moscow, cũng kể về thái độ của chính quyền Xô viết và các nhà chức trách đối với Iu. Lotman, với Bộ môn Văn học Nga do ông làm Chủ nhiệm: “Vào đầu những năm 70, các tổ chức có nhiệm vụ theo dõi cuối cùng rồi cũng để lộ ra, đối với hệ tư tưởng Xô viết, Lotman và bộ môn của ông nguy hiểm chẳng kém gì so với cánh giáo sư “tư sản” Estonia”. Để loại bỏ mối nguy hiểm ấy, người ta đã tìm mọi cách để giải thể Bộ môn Văn học Nga, miễn nhiệm chức vụ quản lí của ông và đến năm 1980 ông còn bị điều chuyển sang Bộ môn Văn học nước ngoài[150]. Năm 1995, trong bài phát biểu mở đầu cho một cuốn sách của Iu.Lotman về Puskin, nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của một học giả từng là người sáng lập ra cả một trường phái trong niềm phấn khích và tự hào, B.F. Egorov vẫn không sao nén nổi một tiếng thở dài: “Vào mấy năm thoát khỏi mọi sự cấm đoán và hạn chế, Iuri  Mikhailovich đã đi gần khắp trời Tây, từ Ý đến Venezuela, ông đọc tham luận ở những cuộc hội thảo khác nhau, giảng bài ở nhiều trường đại học. Giá mà trước kia cũng được như thế!”[151].

Niềm hoài cổ của B.F. Egorov dẫu da diết đến đâu thì thời gian vẫn không thể quay ngược bánh xe lịch sử. Sự thực là từ năm 1986, Trường phái Tartu – Moscow không còn tồn tại như một tổ chức khoa học hiện hữu. Ngoài nguyên nhân khách quan, sự tan rã của nó còn có những lí do nội tại. Ví như, vào cuối những năm 70, Trường phái Tartu – Moscow không thể đứng ngoài cuộc khủng hoảng chung của chủ nghĩa cấu trúc trên phạm vi toàn châu Âu. Đã thế, ngay ở thời kì hoàng kim của trường phái này, nhiều nhà nghiên cứu đã tỉnh táo nhận ra quan niệm giản đơn, có phần ảo tưởng của nó về kí hiệu học như là bộ môn khoa học có khả năng sáng tạo ra một thứ từ điển thuật ngữ văn hoá toàn thế giới. Nhưng rời Trường phái Tartu – Moscow mà ra đi, các nhà khoa học chân chính không quên mang theo vũ khí ngôn ngữ kí hiệu học đã vận dụng và mài giũa ở đó để chuyển qua một giai đoạn mới trong cách hiểu về văn hoá. Ngày nay, với ngôn ngữ kí hiệu học, người ta không dừng lại ở việc nghiên cứu văn hoá trên  bình diện cơ học, mà đi sâu cắt nghĩa nó trong một cơ cấu hữu cơ phức tạp hơn. Cho nên tuy không còn tồn tại như một trường phái, nhưng tư tưởng khoa học của Trường phái Tartu – Moscow vẫn tiếp tục đơm hoa, kết trái, mang lại mật ngọt cho đời. Ngày nay, “Trường phái Tartu – Moscow” trở thành một mục thuật ngữ trang trọng trong Bách khoa từ điển Văn hoá học thế kỉ XX[152]. Có rất nhiều chuyên luận, tiểu luận, luận văn, luận án viết về Trường phái Tartu – Moscow với những khám phá, phát hiện đầy thú vị. Những thông tin về trường phái này được đăng tải đầy ắp trên các trang mạng bằng tiếng Nga. Lần đầu tiên trong hệ thống sách giáo khoa học đường ở Nga, bộ giáo trình Lí luận văn học mới xuất bản năm 2004 do N.D. Tamarchenko làm chủ biên đã dành hẳn chương đầu để viết về “Bản chất kí hiệu của văn học”[153].

Với ý nghĩa như thế, chúng tôi nói về sự lên ngôi của những hệ thống lí thuyết từng một thời bị xem là “phi chính thống”.

Chương VI

Sự tiếp thu các học phái Âu – Mĩ

và sự “hồi hương” của lí luận văn học hải ngoại

Có  một mối quan hệ mật thiết giữa Trường phái hình thức nga với các học phái lí luận hiện đại và hậu hiện đại ở Tây Âu. Ví như chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn học là một trào lưu học thuật hiện đại phát triển rầm rộ ở Pháp vào những năm 60, 70 của thế kỉ trước với những đại biểu xuất sắ như L. Althusser, A. Greimas, Foucault, C. Lévi – Strauss, Tz. Todorov, Gérard Genette, C. Bremond…Thế mà Trường phái hình thức Nga lại là một trong những nguồn mạch đầu tiên của chủ nghĩa cấu trúc. Bách khoa Xô Viết đại từ điển ghi rõ: “Chủ nghĩa cấu trúc trong khoa học về văn học chủ trương nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ như một hệ thống của các yếu tố có khả năng liên kết và biến đổi, nó xuất hiện dưới ảnh hưởng của hàng loạt bộ môn khoa học trung gian (trước hết là ngôn ngữ học, kí hiệu học,  lôgic học, nhân chủng học) và là kết quả nhận thức, nhào nặn lại di sản của OPOJAZ Nga, của mĩ học hiện tượng luận và các môn phái khác”[154]. Nhưng Trường phái hinh thức Nga không chỉ là thuỷ tổ của chủ nghĩa cấu trúc. V. Rudnhev cho rằng, Trường phái hình thức đã làm cho nghiên cứu văn học thành một khoa học mang ý nghĩa thế giới, bởi những nguyên tắc phương pháp luận của nó đã đặt nền tảng cho “sự ra đời của ngôn ngữ cấu trúc Prague, của mĩ học cấu trúc Tartu – Moscow và toàn bộ chủ nghĩa cấu trúc của châu Âu nói chung”[155] . Cho nên, khi Trường phái hình thức Nga hồi sinh thì dĩ nhiên, chủ nghĩa cấu trúc và các học phái hiện đại Tây Âu cũng tìm được chỗ đứng chính thức trong hệ thống lí luận văn học Nga hậu Xô Viết. Có thể nhận ra điều đó qua việc nghiên cứu, dịch thuật và biên soạn các loại từ điển công cụ của các học giả Nga.

Thực ra, với giới nghiên cứu văn học Xô Viết thời trước cải tổ, lí luận văn học Tây Âu cũng không phải là cái gì quá xa lạ. Thực tế chứng tỏ, từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỉ trước, ở Liên Xô, lúc nào cũng có nhiều mũi nhọn nghiên cứu văn học đi trước hoặc phát triển song hành với các trường phái lí thuyết của Tây Âu. Trong giáo trình Đại cương trần thuật học hiện đại, V.I. Tiupa cho rằng, vào cuối những năm 50, khi viết công trình Vấn đề các thể loại lời nói (1953), M.M. Bakhtin đã là người “đặt nền móng tạo nên sự phát triển vũ bão của “tân từ chương học” ở các nước Tây Âu”. Theo Tiupa, thuật ngữ “siêu ngôn ngữ học” (“металингвистика”) chính là một trong số các tên gọi của bộ môn “tân từ chương học hiện đại”. Ông đưa hàng loạt ví dụ để chứng minh, có thể tìm thấy trong những công trình mẫu mực về trần thuật học của L. Dolezal, G. Genette, D. Prince, W. Schmidt nhiều ý kiến rất gần gũi với những gì M. Bakhtin đã phát biểu trong những năm 70[156].  Viện sĩ B. Gasparov lại chỉ ra sự gặp gỡ của phương Đông – trước hết là những tìm kiếm của trường phái Tartu-Moscow – với phương Tây trong lĩnh vực cấu trúc – kí hiệu học văn hoá[157]. Tuy nhiên, trước cải tổ, nền lí luận văn học chính thống của Liên Xô không và các học phái lí thuyết của Tây Âu vẫn thuộc về những vương quốc khác nhau: bên này là mĩ học và lí luận văn học Mác xít, bên kia là mĩ học và lí luận văn học tư sản. Từ những năm 70 đổ về trước, các sách giáo khoa, giáo trình, những công trình khoa học mang tính hàn lâm, về cơ bản, đều trình bày bức tranh tổng thể về mĩ học va lí luận văn học như thế. Ví dụ tiêu biểu nhất có thể dẫn ra ở đây là những cuốn “Từ điển bách khoa” viết về các trường phái nghiên cứu văn học của Âu – Mĩ và hệ thống khái niệm, phạm trù của các trường phái ấy. Đây là công trình biên soạn tập thể của Viện thông tin khoa học về các khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, được xuất bản năm 1974. Các trường phái nghiên cứu văn học được phân tích, giới thiệu trong từ điển này gồm có: “Phê bình mới”, “chủ nghĩa cấu trúc”, “mĩ học tiếp nhận”, “trần thuật học”, “thông diễn học”, “hiện tượng luận”, “hậu hiện đại”. Điều đáng lưu ý ở đây là: tất cả những trường phái nghiên cứu ấy đã được gói vào cái tiêu đề chung: “Bức tranh toàn cảnh của nghiên cứu văn học và phê bình văn học tư sản hiện đại”[158]. Mà đã là của tư sản, thì không thể quảng bá rộng rãi cho công chúng. Cho nên, trước cải tổ, các cơ quan khoa học của Liên Xô chưa bao giờ tổ chức dịch thuật để giới thiệu rộng rãi với đông đảo người đọc về các học phái lí luận văn học Âu – Mĩ. Hệ thống nhà xuất bản của Bộ Giáo dục Liên Xô chỉ đưa vào các trường đại học và cao đẳng có đào tạo ngành văn những cuốn mĩ học văn tuyển phản ánh méo mó lịch sử tư tưởng mĩ học và nghiên cứu văn học của nhân loại. Nội dung của những cuốn văn tuyển như thế thường được chia thành 2 phần: “Mĩ học tiền Mác” và “mĩ học Mác – Lênin”[159]. Cũng có những nhà khoa học được phép nghiên cứu mĩ học và lí luận văn học Tây Âu. Nhưng khi nghiên cứu như thế, nhà khoa học phải biết “gạn đục khơi trong”, cảnh giác với những ảnh hưởng độc hại. Cho nên, nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Xô viết chính thống,  mĩ học và lí luận văn học Âu – Mĩ bao giờ cũng được phân tích như những đối tượng cần phê phán.

Phải đến những năm cuối cùng của thế kỉ XX, tình hình trên mới thực sự có sự thay đổi. Từ giữa những năm 80, việc dịch ra tiếng Nga trước tác của các học phái lí luận văn học Âu – Mĩ được tổ chức rầm rộ. Tên tuổi nhiều dịch giả chuyên nghiệp ngày càng trở nên quen thuộc với tất cả những ai quan tâm tới sự phát triển của khoa học xã hội – nhân văn ở Tây Âu. Chỉ cần làm quen với một Website cá nhân của G.K. Kosikov cũng đủ để ta hình dung việc dịch thuật diễn ra sôi nổi như thế nào. G.K. Kosikov là Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, chuyên gia về văn học Pháp và lí luận văn học, hiện là Chủ nhiêm bộ môn văn học nước Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow (“МГУ”). Chỉ trong vòng mấy năm,  Kosikov đã dịch hàng loạt công trình của R. Barthes (S/Z (1994[160]), Kịch – trường ca –  tiểu thuyết (2000), Cơ sở kí hiệu học (2000), Dẫn luận phân tích cấu trúc các văn bản trần thuật (1987), Những bài giảng (1989), Khoái cảm từ văn bản (1989), Phê bình và chân lí (1989), Tu từ học hình tượng (1989), Độ không của lối viết (1983)…), Julia Kristeva (Bàn về kí hiệu học chơi chữ (2000), Huỷ hoại thi pháp luận (1998), Bakhtin, lời, đối thoại và tiểu thuyết (1993), Lautréamont hay là không thể sống đến thời công xã (1998), Kí hiệu học: khoa học phê bình và/ hay là phê bình khoa học (1997)…), Tz. Todorov (Khái niệm văn hoc (1983), Kí hiệu học văn học (1983), Đọc thế nào? (1998), A. Greimas (Trong những cuộc tìm kiếm các mô hình biến thái (2000), Suy nghĩ về các mô hình tham thể (1996)…), C. Bremond (Nghiên cứu cấu trúc các văn bản trần thuật sau V. Propp (1983)), J. Derrida (Cấu trúc, kí hiệu và trò chơi trong diễn ngôn của các khoa học nhân văn (1995), Freud và cảnh viết (2000), Nhà hát của sự bạo liệt và sự kết thúc trình diễn (2000)…), C. Lévi-Strauss (Cấu trúc và hình thức (1983), Suy nghĩ về một công trình của Vladimir Propp (1983)…), Jean-Paul Sartre (Baudelaire (1993), Viết để làm gì (1995))[161]

Có thể lập một bảng danh sách rất dài tên tuổi những dịch giả lớn, đồng thời cũng là những nhà nghiên cứu có uy tín như G. K. Kosikov. Nhờ có đội ngũ dịch giả như thế, mà những công trình quan trọng nhất của các học phái Âu – Mĩ nhanh chóng được xuất bản ở Nga[162].  Đây là cơ sở tư liệu giúp các trường đại học và cao đẳng có đào tạo các bộ môn khoa học xã hội – nhân văn soạn thảo chương trình, biên soạn giáo trình về lịch sử tư tưởng mĩ học và lí luận văn học ở các nước Âu – Mĩ để giảng dạy chính thức. Rất dễ tìm thấy những cuốn giáo trình hoặc những bộ chương trình có giá trị, như Lịch sử phê bình và nghiên cứu văn học nước ngoài của N.T. Nhefedov[163], Lịch sử các học thuyết nghiên cứu văn học của D.F. Zaghidullina[164], hoặc Lịch sử phê bình và nghiên cứu văn hcọ nước ngoài của G.K. Losikov[165]. Thực tế cho thấy, tình hình giảng dạy trong học đường thường phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu khoa học của một quốc gia. Đúng là, cùng với hoạt động dịch thuật và xuất bản, việc nghiên cứu các học phái lí luận văn học Âu – Mĩ một cách toàn diện cũng được đẩy mạnh. Có thể xem I.P. Ilin, G.K. Kosikov, E.A. Tzurganova, A.V. Dranov, A.S. Kozlov, T.N. Krasavchenko, V. L. Makhlin, Iu.V.Palievskja, V.M. Tolmatzev…là những học giả có uy tín, những người có công đầu trong lĩnh vực này. I.P. Ilin là tác giả của những công trình rất nổi tiếng, như Chủ nghĩa hậu hiện đại từ nguồn cội đến cuối thiên niên kỉ: Sự tiến hoá của huyền thoại khoa học[166], hoặc Hậu cấu trúc. Giải cấu trúc. Hậu hiện đại. Trong chuyên luận Hậu cấu trúc, Giải cấu trúc. Hậu hiện đại, I.P. Ilin đã phân tích một mảng tư liệu vô cùng rộng lớn, bao gồm những công trình triết học, mĩ học, nghiên cứu, phê bình văn học của các học giả Mĩ, Pháp và Anh để từ đó vẽ ra bức tranh toàn cảnh quá trình hình thành (những năm 1960) và phát triển (từ những năm 1970 đến những năm 1990) của chủ nghĩa hậu cấu trúc, giải cấu trúc và hậu hiện đại. Nội dung bao trùm được tác giả phân tích, chứng minh, làm nổi bất trong suốt chuyên luận là ý tưởng xem chủ nghĩa hậu cấu trúc như một hệ thống quan niệm thẩm mĩ, chủ nghĩa giải cấu trúc là phương pháp phân tích văn bản nghệ thuật, và chủ nghĩa hậu hiện đại là tâm thức đặc thù xuất hiện từ thực tiễn thẩm mĩ của chủ nghĩa hậu cấu trúc và giải cấu trúc[167]. Ngoài những chuyên luận như thế, trong những năm gần đây, các cá nhân và tập thể các nhà khoa học còn biên soạn nhiều cuốn “Bách khoa từ điển” rất bề thế. Về công trình cá nhân, Chủ nghĩa hậu hiện đại – Từ điển các thuật ngữ của Ilia Ilin là công trình rất bề thế. Nội dung của bộ từ điển là 150 bài phân tích, giải thích các thuật ngữ cơ bản của triết học, tâm lí học, xã hội học, của lí luận nghệ thuật và lí luận văn học hậu hiện đại[168]. Về công trình tập thể, sau cuốn Bức tranh toàn cảnh của nghiên cứu văn học và phê bình văn học tư sản hiện đại đã nhắc tới ở trên, phải kể đến bộ Nghiên cứu văn học nước ngoài hiện đại (Các nước Tây Âu và Mĩ): quan niệm, trường phái, thuật ngữ, xuất bản năm 1996. Đây là loại từ điển bách khoa tra cứu các thuật ngữ và khái niệm cơ bản của nghiên cứu văn học Âu – Mĩ hiện đại. Nó cũng được biên soạn bởi tập thể tác giả của Viện thông tin khoa học về các khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga. Nội dung cuốn từ điển được chia thành hai phần. Phần đầu trình bày hệ thống các thuật ngữ của “Phê bình mới”, “Cấu trúc luận”, “Mĩ học tiếp nhận”, “Trần thuật học”, “Chủ nghĩa giải cấu trúc”. Phần hai là hệ thống thuật ngữ của “Thông diễn học”, các trường phái “Hiện tượng luận”, “Phê bình huyền thoại” và “Hậu hiện đại”. Trong Lời dẫn,  E.A. Tzurganova khẳng định, rằng cuốn từ điển này là: “Công trình đầu tiên trên đất nước chúng ta có ý đồ tạo ra một ý niệm ứng dụng và mang tính hệ thống về bức tranh toàn cảnh vô cùng phức tạp của các trường phái nghiên cứu – phê bình ở Tây Âu và Mĩ”. Nhiện vụ được dặt ra cho cuốn từ điển là: “Giúp khoa học về văn học của nước nhà làm quen và biết cách sử dụng bộ máy khái niệm và thuật ngữ của các khuynh hướng nghiên cứu văn học có ảnh hưởng lớn nhất ở thế kỉ XX”[169]. Tám năm sau, cơ quan khoa học nói trên lại xuất bản một từ điển mới còn bề thế hơn nhiều: Nghiên cứu văn học phương Tây thế kỉ XX. Bách khoa từ điển. Bộ từ điển là công trình nghiên cứu đầu tiên ở nước Nga tập hợp giới thiệu một cách hệ thống những trường phái dẫn đầu, những quan điểm lí luận có tính nguyên tắc và thành tựu cá nhân của các học giả lớn. Từ điển có tới 177 bài viết dưới dạng phân tích nhằm khám phá đặc trưng nổi bật về phương pháp luận của từng trường phái nghiên cứu văn học và xác định hệ hình của các khái niệm, thuật ngữ tạo nên trường phái ấy. Cùng với 177 bài ấy là 613 bài tra cứu nhân vật, cung cấp tài liệu về tiểu sử và nội dung quan điểm trong hoạt động khoa học của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở 18 nước: Áo, Bỉ, Anh, Đức, Đan Mạch, Ai Len, Băng đảo, Tây Ban Nha, Ý, Canada, Hà Lan, Na Uy, Thổ Nhĩ Kì, Mĩ, Phần Lan, Pháp, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ. Những nhân vật được giới thiều trong 613 bài này là các học giả thuộc những lĩnh vực chuyên môn rất rộng: lí luận văn học, ngữ văn học cổ điển, văn bản học, văn học so sánh, lịch sử văn học dân tộc, các nhà Nga học, Slavơ học, có cả những nhà nghiên cứ, phê bình vốn là nhà văn[170].

Phải thừa nhận, vẫn có sự khac biệt giữa phương Đông và phương Tây, giữa lí luận văn học của nước Nga và của các nước Âu – Mĩ. Trong một cuộc toạ đàm gần đây giữa Tz. Todorov và G.K. Kosikov, nhà nghiên cứu người Nga đã nhắc lại “thói quen” của các học giả thường đối lập “bản thể luận phương Tây” với “bản thể luận Nga”[171]. Tuy nhiên, những gì đã nói ở trên chứng tỏ, từ cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XX, tuy vẫn giữ bản sắc riêng, nhưng lí luận văn học Nga đã mở rộng cánh cửa để đón nhận những thành tựu lớn lao của lí luận văn học Âu – Mĩ. Quá trình tiếp nhận các học phái Âu – Mĩ diễn ra song song với sự “hồi hương” của lí luận văn học Nga ở hải ngoại.

Cũng như văn học hải ngoại, lí luận văn học hải ngoại là một bộ phận của lí luận văn học Nga, bắt đầu hình thành và phát triển từ sau năm 1917, được in ấn, xuất bản bên ngoài lãnh thổ của Liên Xô và nước Nga.

Sau Cách mạng tháng mười, do bất đồng chính kiến, nhiều trí thức văn nghệ sĩ người Nga đã tìm cách di tản ra nước ngoài. Bộ phận nghệ thuật và lí luận văn học hải ngoại bắt đầu hình thành từ đấy. Trong thời kì chiến tranh lạnh, lí luận văn học hải ngoại và nền lí luận văn học chính thống ở Liên Xô về cơ bản rất khác biệt, thậm chí đối lập với nhau. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, quan hệ giữa phương Đông và phương Tây, nước Nga và các nước Âu – Mĩ được bình thường hoá, tư tưởng khoa học của các học giả ở trong nước và hải ngoại cũng xích lại gần nhau. Quan trọng hơn, đã có sự thay đổi đáng kể trong cách hiểu các khái niệm như “khoa học  Nga”, “văn hoá Nga”, “văn học Nga”…. Người ta không còn dựng lên hàng rào tư tưởng hệ trong nội hàm các khái niệm ấy. Kể từ đây, mọi thành tựu nghệ thuật và khoa học do người Nga tạo ra ở hải ngoại, nhất là những trước tác viết bằng tiếng Nga, trực tiếp nghiên cứu và phản ánh đời sống tự nhiên và xã hội của nước Nga…đều được xem là một bộ phận hợp thành hữu cơ của lịch sử văn hoá Nga. Các giáo trình lịch sử văn học Nga thế kỉ XX thường nói tới sự “hồi hương” của nghệ thuật và lí luận văn học hải ngoại với ý nghĩa như thế[172].

Trong quá trình tồn tại và phát triển, lí luận văn học Nga ở hải ngoại có nhiều thuận lợi và cũng gặp lắm khó khăn. Thuận lợi ở chỗ, nó được tự do bộc lộ chính kiến vì không chịu áp lực chính trị giống như lí luận văn học trong nước. Nó có quan hệ trực tiếp với với nền văn hoá Âu – Mĩ hiện đại và cử toạ của nó tuy không lớn, nhưng đó là một công chúng có trình độ học vấn cao. Nhưng khó khăn trước hết là ở chỗ, nó không có những học giả lớn. Trong suốt thời gian tồn tại của nhà nước Xô Viết kể từ sau Cách mạng tháng Mười, đội ngũ các nhà nghiên cứu văn học người Nga ở nước ngoài có thể chia thành mấy thế hệ, càng về sau càng thiếu vắng tài năng.  Ngay ở thế hệ di tản đầu tiên cũng chỉ lác đác vài ba học giả, chẳng có mấy tên tuổi. Cho đến tận những năm 60 của thế kỉ trước, ngoài R. Jakobson, hầu như chỉ còn lại một vài nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học tương đối nổi tiếng và có uy tín nhất, ví như G. Struve (1898 – 1985).

Glev Struve là nhà thơ, dịch giả, là nhà phê bình và nghiên cứu văn học. Ông là con trai nhà triết học và nhà hoạt động xã hội danh tiếng P.B. Struve. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Oxford năm 1921, từng sống ở Prague, Berlin (1922 – 1924), ở Paris (1924 – 1932), sau đó ở Anh. Trước 1947, ông dạy học ở Đại học Tổng hợp London, từ 1947 định cư ở Mĩ và dạy Đại học Tổng hợp California (Berkeley). G. Struve làm thơ từ năm 12 tuổi. Giai đoạn 1918 – 1930, ông viết cho các tạp chí “Tư tưởng Nga”, “Thiện ý”, “Thế giới mới”, “Bút kí thời đại” và nhiều tờ báo tiếng Nga ở hải ngoại. Sau Thế chiến thứ hai, ông thường xuyên xuất hiện trên các tạp chí “Tạp chí mới”, “Thử nghiệm”, “Đường hàng không”,  “Tư tưởng Nga”, “Tiếng Nga mới”…Struve có nhiều công trình về lịch sử văn học, như Lịch sử văn học Nga Xô Viết (1935 – về sau được tái bản nhiều lần), Văn học Nga nơi phát vãng (in lần đầu ở New-York, 1956, lần 2 ở Paris, 1984). Ông có tuyển tập Về bốn nhà thơ (Blok, Sologub, Gumilev, Pasternak, 1981). Ông cùng với Filipov biên soạn và xuất bản tuyển tập các tác giả B. Pasternak, О. Mandelstam, А. Аkhmatova, N. Zabolotzki, N. Gumilev, N. Kliuev.

   Do thiếu vắng những nhà khoa học chuyên nghiệp  tầm cỡ, công việc nghiên cứu lí luận, phê bình văn học chủ yếu rơi vào tay giới sáng tác, vào tay các nhà văn, nhà thơ. Ở thế hệ di tản đầu tiên, hai cây bút hải ngoại có uy tín và nổi tiếng nhất là V. Chodasevich (1886 – 1939) và G.V. Adamovich (1892 – 1972).  V. Chodasevich là nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu văn học. Ông có thơ đăng báo từ năm 1925. Năm 1922, ông chạy ra nước ngoài, từ 1925, viết báo chống lại nhà nước Xô viết. Ba công trình nghiên cứu văn học có giá trị nhất của ông là Tài sản thơ của Puskin (1924), Derzavin (1931), Về Puskin (1937). G.V. Adamovich làm thơ từ năm 1914, là thành viên của nhóm “Cực đỉnh”. Năm 1923, ông qua Berlin, sau đó định cư ở Pháp, được xem là nhà phê bình Nga – hải ngoại “số một”. Công trình nghiên cứu, phê bình văn học có giá trị nhất của ông là tuyển tập Bình chú, xuất bản lần đầu ở Mĩ (1967), tái bản ở Nga (2000).

Thiếu phương tiện vật chất để tổ chức in ấn xuất bản cũng là điểm hạn chế của hoạt động nghiên cứu lí luận văn học hải ngoại. Đã ít học giả, không có nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, lại thiếu phương tiện in ấn, xuất bản, công trình lí luận văn học được công bố ở hải ngoại chủ yếu là “bài báo” dưới hình thức “tiểu luận” thiếu tính hàn lâm. Trong nghiên cứu văn học của người Nga ở hải ngoại không thấy có những cuộc tranh luận về lí luận văn học, về phương pháp luận giống như ở Liên Xô, nhưng giữa các nhà phê bình, nghiên cứu lại luôn luôn có sự phân rẽ, đối lập về thế giới quan, lập trường tư tưởng, nhất là về thái độ chính trị. Họ thường xuyên đối lập văn học Xô Viết với văn học hải ngoại, ra sức chứng minh mảng này ưu việt và có triển vọng hơn bộ phận kia.

I.A. Bunhin (1870-1953 – nhà văn, Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Peterburg), Anton Kraini (Z.N. Gippius), V. Nabokob là những người kiên quyết phủ định nền văn học Xô Viết.  Họ cho rằng sứ mệnh đặc biệt của văn học hải ngoại là gìn giữ nền văn hoá dân tộc Nga. Trong bài Món ăn đẫm máu, V. Chodasevich thể hiện những suy ngẫm đầy cay đắng về số phận của văn học Nga nói chung, văn học Nga thế kỉ XX nói riêng. Trong các bài 1917 – 1927, Văn học nơi phát vãng (1933), ông cho rằng, phải bỏ thật nhiều thời gian và công sức mới có thể khắc phục được hậu qủa nặng nề của tình trạng phân chia văn học Nga thành hai nhánh trong nước và hải ngoại để khôi phục lại sự toàn vẹn của nền văn hoá Nga sau hàng chục năm tồn tại dưới chính quyền Bolsevik. Trên kia, chúng tôi đã nhắc tới cuốn Văn học Nga nơi phát vãng của G. Struve. Đặc điểm dễ nhận biết nhất của cuốn sách là nhiệt tình khẳng định tính ưu việt của văn học hải ngoại so với văn học Xô Viết và niềm tin của tác giả về tương lai tươi sáng của bộ phận văn học ấy. F. Stepun (trong bài B.L. Pasternak, 1959) và R. Jakobson (trong bài Về thế hệ đánh mất các nhà thơ của mình, 1931) bàn về số phận bi kịch của S. Esenhin, V. Majakovski, A. Belyi, M. Tzvetaeva, B. Pasternak trong mối quan hệ với số phận đầy bi kịch của nước Nga và văn học Nga. N. Struve thì rút ra kết luận, cùng với cái chết của A. Akhmatova, nền văn học Nga vĩ đại cũng đã cáo chung sau 150 năm tồn tại, kể từ thời Puskin.

M.L. Slonhim lên tiếng tranh luận, thể hiện một quan điểm hoàn toàn đối lập với A. Kraini. Ông viết bài Văn học sống động và phê bình xơ cứng (1924) đề cao văn học Xô Viết. Ông tuyên bố “Paris không phải là thủ đô, mà chỉ là huyện lị của nền văn học Nga”. Trong bài Mười năm văn học Nga, ông nhấn mạnh tính kế thừa của văn học dân tộc ở hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Mười.  Năm 1933, M.L. Slonhim cho xuất bản ở Paris cuốn Chân dung nhà văn Xô Viết nghiên cứu sáng tác của S. Esenhin, V. Majakovski, B. Pasternak, E. Zamiatin, Vs. Ivanov, P. Romanov, A. Tolstoi, M. Zosenko, I. Erenburg, K. Fedin, B. Pilnjak, I. Babel, L. Leonov, trong đó, B. Pasternak được ông dành cho vị trí trang trọng nhất.

Vào những năm 40 của thế kỉ trước, trong giới lưu vong Nga, người ta thấy xuất hiện tư tưởng “Đại lục Á – Âu” làm nảy sinh “chủ nghĩa ái quốc Xô Viết”. Một trong số những tín đồ trung thành của nó là Bá tước D. Svjatopolk-Mirski. Trong nhiều bài viết, ông thể hiện thái độ đầy thiện cảm với nhà nước Liên Xô và văn học Xô Viết. Năm 1932, ông hồi hương và trở thành nhà phê bình Xô Viết với bút danh D. Mirski. Ông viết nhiều bài phê bình thơ, tham gia tranh luận về tiểu thuyết lịch sử (1934). Về sau, ông có nhiều bài phê bình thể hiện sự thất vọng sâu sắc đối với tương lai của văn học Xô Viết[173]. Trong đại chiến thế giới lần thứ II, giới nghiên cứu văn học hải ngoại hướng về đất nước Xô Viết với sự cảm thông chân thành. I. Bunhin, nhà văn giải thưởng Nobel, đánh giá rất cao trường ca Vasilii Terkin của A. Tvardovski.

Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu văn học của người Nga ở hải ngoại  có xu hướng nghiêng hẳn về phía phê bình. Nhưng ở một mức độ nhất định, lớp học giả có tên tuổi vẫn không thể bỏ qua những vấn đề văn hoá học và lí luận văn học. V. Chodasevich đã dành nhiều giấy mực để  bàn về chủ nghĩa tượng trưng, về mối quan hệ không thể chia tách giữa đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của trường phái này. Ông bàn về điện ảnh như là sự biểu hiện của khuynh hướng phản văn hoá. Ông khái quát đặc điểm Adamovich kêu gọi từ bỏ “tính ước lệ nghệ thuật” và kĩ xảo hình thức để mang lại độc đáo của hồi kí, của tiểu thuyết lịch sử, của văn học triết học – nghệ thuật, của thơ “dớ dẩn”…Trong tập Bình chú (xuất bản ở Mĩ, 1967, tái bản ở Nga, 2000), G. cho nghệ thuật sự chân thật và giản dị. Ông khẳng định sức sống của câu thơ được viết bằng vẻ đẹp của hình thức nhật lí – tâm tình. Ông phê phán các khuynh hướng tân cổ điển trong thơ của những cây bút trẻ. Vào cuối những năm 50, đầu những năm 60, người ta còn thấy trên diễn đàn Tây Âu, Andrei  Sinhjaski – nhà nghiên cứu văn học, đồng thời là nhà hoạt động của phong trào li khai nhà nước Xô Viết – bàn về phương pháp “hiện thực xã hội chủ nghĩa”.

Trong 70 năm tồn tại, nhà nước Xô Viết từng chứng kiến ba đợt – còn  gọi  là  ba “làn sóng” – di tản ồ ạt của nhiều tầng lớp công dân. Làn sóng thứ nhất diễn ra từ năm 1918 cho đến khi nổ ra đại chiến thế giới lần thứ hai. Thế chiến thứ II kết thúc cũng là lúc diễn ra làn sóng thứ hai. Đây là làn sóng không chịu hồi hương của những người Nga đang sinh sống ở nhiều quốc gia châu Âu. Làn sóng thứ ba bắt đầu từ những năm 60, rầm rộ nhất là vào những năm 70, 80. Năm 1971 mới có 15 nghìn, sang năm 1972 đã có tới 35 nghìn công dân Xô Viết rời bỏ Liên Xô[174]. Làn sóng di tản thứ ba này có 2 đặc điểm quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới văn học và lí luận văn học Nga – hải ngoại. Thứ nhất: Đối tượng ra đi đợt này chủ yếu thuộc thế hệ được gọi là “người của những năm sáu mươi”. Thứ hai: Khác với những đợt di tản trước kia, đội ngũ đông đảo nhất trong làn sóng di tản lần này là tầng lớp trí thức lao động sáng tạo, chủ yếu là văn nghệ sĩ. B. Pasternak gọi thế hệ “người của những năm sáu mươi” là “những đứa con của chiến tranh”. Với họ, chiến tranh là “bão tố tẩy rửa”, là “luồng khí trong lành”, là “ngọn gió mát mẻ”, là “miền quê đi về của bao nỗi buồn vui trong đời sống tình cảm”. Hoà bình lập lại, “những đứa con chiến tranh” thành tâm kì vọng một cuộc sống đầy “nắng ấm” (“оттепель”) dưới sự chèo lái của N.Khrusev, để rồi sau đó ngày càng thất vọng ê chề bởi sự trì trệ kéo dài liền liền 20 năm ròng trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Năm 1963 được ghi nhận như cột mốc đánh dâu thời điểm chấm dứt cuộc sống tự do ở Liên Xô, sau khi N.S. Khrusev tham quan cuộc triển lãm của các nghệ sĩ – tiên phong chủ nghĩa ở cung Manege. Một chiến dịch đàn áp mới đối với giới trí thức sáng tạo, nhất là với các văn nghệ sĩ, được phát động từ giữa những năm 60. Sách của A. Solzenitzin bị cấm xuất bản. Iu. Daniel và A. Sinhjaski bị khởi tố, sau đó A. Sinhjaski bị bắt. I. Brodski bị khép vào loại du thủ du thực rồi bị đày tới Norenskaja. S. sokolov bị tước quyền công bố tác phẩm. Nhà báo, nhà thơp N. Gorbanevskaja bị nhốt vào nhà thương điên…Đây chính là lí do giải thích vì sao trí thức hoạt động sáng tạo và văn nghệ sĩ trở thành bộ phận đông đảo nhất trong làn sóng di tản của công dân Xô Viết vào những năm 70. Có thể kể tên một loạt nhà văn, nhà thơ, nhà lí luận, phê bình văn học đã ra đi trong thời điểm này, như V. Aksenov, Iu. Aleskovski, I. Brodski, G. Vladimov, V. Voinovich, F. Gorenstein, I. Guberman, S.Dovlatov, A. Galitz, L. Kopelov, N. Korzavin, Iu. Kublanovski, E. Limonov, V. Maksimov, Iu. Mamleev, V. Nhekrasov, A. Sinhjanski, A. Solzenitzin, D. Rubin…

Đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ ở làn sóng di tản thứ ba này dường như chẳng có liên hệ gì và tỏ ra rất xa lạ với lớp người ở hai đợt di tản trước kia như G. Struve, G.V. Adamovich, M. Aldanov, M. Tzetlin, Iu. Terapiano…Họ xây dựng các cơ sở in ấn, xuất bản, tổ chức các tờ báo và tạp chí mới, như “Syntaxis” của M. Rozanov và A. Sinjaski,  “Continent” của V. Maksimov (Paris), “Người Mĩ hiện đại”, “Panorama”, Kaleidoskop”, “Tiếng Nga hiện đại” (Mĩ)… Qua những cơ quan ngôn luận ấy, họ thể hiện một cấch nhìn cuộc đời và văn học bằng kinh nghiệm mới, một cảm quan mới, thậm chí, viết văn và bàn về văn học bằng ngôn ngữ mới. Họ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ ngôn ngữ văn học trong sáng tác của các nhà văn Âu – Mĩ, Mĩ -Latinh, trong thơ M. Tzvetaeva, B. Pasternak, văn xuôi A. Platonov. Cho nên, Họ không đặt ra cho mình nhiệm vụ “giữ gìn truyền thống văn hoá”. Trong sáng tác và trong tuyên ngôn lí thuyết, họ có khuynh hướng ngả về phía chủ nghĩa tiên phong và chủ nghĩa hậu hiện đại. Đây chính nhân tố thuận lợi mở ra khả năng “hồi hương” cho văn học và lí luận văn học hải ngoại khi nhà nước Xô Viết tan rã.

Vào năm 1987, người ta thấy lần đầu tiên có những nhà nghiên cứu, phê bình văn học lên tiếng yêu cầu sáp nhập hàng loạt tác phẩm của các nhà văn lưu vong ở làn sóng thứ ba vào văn học Xô Viết. Năm 1988, tạp chí “Văn học nước ngoài” gần như dành toàn bộ “Số 1” cho văn học Nga – hải ngoại. Liền sau đó, ranh giới giữa văn học hải ngoại và văn học Xô Viết cũng nhanh chóng bị thủ tiêu. Nhiều tác phẩm của nhà văn hải ngoại trở thành đối tượng tranh luận sôi nổi của giới cầm bút cả ở trong và ngoài nước. Sôi nổi nhất là cuộc tranh luận xung quanh cuốn Cuộc dạo chơi với Puskin của A. Sinhjaski với sự tham gia của A. Solzenitzin. Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90, ở Nga, người ta tổ chức xuất bản với một khối lượng rất lớn tác phẩm của A. Solzenitzin và hàng loạt tác giả Nga kiều, ví như A. Latinina, P. Palamartzuk, V. Tzalmaev, hoặc nhà văn Thuỵ Georges Nivat, cháu của N. Struve. Từ sau 1991, việc in ấn, xuất bản, công bố tác phẩm của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nga và Nga kiều cũng không còn có sự phân biệt rạch ròi ở trong nước hay ở hải ngoại. Báo và tạp chí bằng tiếng Nga ở Tây Âu thường xuyên công bố bài vở của các nhà nghiên cứu Nga. Ngược lại, trên các cơ quan ngôn luận Nga thường xuyên xuất hiện tên tuổi và công trình nghiên cứu của các học giả Nga kiều. Năm 1992, cuốn Chính thống giáo và văn hoá của N. Struve được xuất bản ở Nga[175]. Kể từ đây diện mạo của các tạp chí Nga lưu vong hoàn toàn bị mờ nhoè, vì nước Nga không còn là thành trì bảo vệ kẻ thù tư tưởng của Nga kiều. Điều thú vị là ngay cả giới “Xô Viết học” ở phương Tây cũng trải qua quá trình “cải tổ” giống như công cuộc “cải tổ” của nền lí luận văn học Xô Viết chính thống. Rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Nga kiều tham gia tích cực vào đời sống văn học của nước Nga “trong cải tổ” và “sau cải tổ”, ví như P. Vaile, B. Hroise, G. Pomeratz, B. Paramonov…Các nhà “Nga học” thuộc đủ mọi thành phần – có cả người gốc Nga lẫn những học giả là người nước ngoài – thường xuyên xuất hiện trên báo chí Nga, trở thành tác giả quen thuộc của độc giả Nga.

 

  1. Nhìn lại sự vận động của các khuynh hướng lí thuyết

trong nghiên cứu văn học Nga Xô Viết thế kỉ XX

Chương VII

Từ thi pháp học lí thuyết đến thi pháp học lịch sử

Như đã nói  ở trên, trong thời kì cải tổ, nhất là khi Liên Xô tan rã, nền lí luận văn học Xô Viết có những biểu hiện của sự hỗn loạn. Đằng sau sự hỗn loạn ấy là quá trình “giải cấu trúc” của một hệ thống khoa học đã trở nên xơ cứng,  theo sau đó là quá trình “tái cấu trúc” nhằm tạo ra một hệ hình lí thuyết của thời đại mới giàu sức sống hơn. Nhờ thế, nền lí luận văn học Nga hậu Xô Viết trở thành một hệ thống chỉnh thể hội tụ gần như toàn bộ tinh hoa lí luận văn học của thế kỉ XX. Nhưng “chỉnh thế ” không chỉ là sự thống nhất của cái đa dạng mà còn là sự thống nhất của các mặt đối lập. Chính sự thống nhất của các mặt đối lập tạo nên xu hướng vận động và tính năng động của cả hệ thống.  Vậy đâu là các mặt đối lập mang tính hệ thống của nền lí luận văn học Nga hiện nay? Nền lí luận ấy đang vận động theo xu hướng thế nào? Đó là những câu hỏi cực kì phức tạp, không dễ trả lời, nhưng cũng không thể không tìm lời giải đáp.

Có thể miêu tả các mặt đối lập của một hệ thống khoa học từ nhiều góc độ và những cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào quan niệm của nhà nghiên cứu. Chẳng hạn, trong ví dụ mà chúng tôi vừa dẫn ở trên kia, khi nói về Iu.M. Lotman và trường phái Tartu – Moscow, B.F. Egorov đã nhìn thấy xung đột giữa nhu cầu tự do sáng tạo của nhà nghiên cứu chuyên nghiệp với sự bóp nghẹt tự do từ phía các nhà quản lí chẳng hiểu gì công việc của họ như là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của khoa học về văn học. Dĩ nhiên, tự do sáng tạo chỉ là điều kiện khách quan đảm bảo sự thành công của  khoa học, chứ không phải là nguyên nhân nội tại làm nên sự vận động của các hệ thống lí thuyết. Theo dõi lịch sử 100 năm phát triển của nền văn minh hiện đại châu Âu với toàn bộ sự phong phú và phức tạp của nó, ta thấy sự vận động của các trào lưu, trường phái lí thuyết thường dao động giữa hai cực đối lập được tạo thành bởi hai mô hình khoa học: mô hình toán học và mô hình sinh học. Dĩ nhiên, khoa học xã hội – nhân văn có đặc thù riêng. Nhưng thực tiễn chứng tỏ, trong nghiên cứu văn học, các hệ thống lí thuyết cũng thường có sự phân chia cành nhánh theo hai mô hình kiến tạo: mô hình khoa học và mô hình nhân học. Ở Tây Âu, cấu trúc luận, “phê bình mới” và một số trường phái xã hội học là những hệ thống lí thuyết được kiến tạo theo mô hình các khoa học chính xác, thực chứng.  Mĩ học tiếp nhận, phê bình hiện sinh, phê bình huyền thoại, hiện tượng luận, thông diễn học là những hệ thống lí thuyết được xây dựng trên tinh thần của mô hình nhân học.

Sự phát triển của nền lí luận văn học Nga – Xô viết trong vòng một trăm năm qua cũng không vượt ra ngoài sự dao động của hai mô hình ấy. Từ đầu thế kỉ XX, những khái quát lí thuyết trong nghiên cứu văn học Xô Viết đã có sự phân chia thành hai xu hướng rõ rệt, ấy là thi pháp họcxã hội học. Hướng thi pháp học có nguồn cội từ cuối thế kỉ XIX, khởi đầu là thi pháp học lịch sử của A.N. Veselovski (1839 – 1906), rồi rẽ sang thi pháp học lí thuyết ở những năm 20 của thế kỉ XX cùng với sự phát triển rầm rộ của Trường phái hình thức, và sau đó lại trở về với thi pháp học lịch sử trong những công trình nghiên cứu của hàng loạt học giả Xô viết. Hướng xã hội học có nhiều cành nhánh lớn bé không giống nhau, vươn theo nhiều nẻo khác nhau, thậm chí đối lập loại trừ nhau. Mỗi hướng như thế có cách thức khái quát lí thuyết theo kiểu riêng. Nếu hướng xã hội học kiến tạọ các hệ thống lí thuyết chủ yếu theo mô hình nhân học, thì hướng thi pháp học lại đưa nghiên cứu văn học xích gần với các khoa học chính xác. Ở nửa đầu thế kỉ XX, hướng thi pháp học và hướng xã hội học – một bên là trong các công trình nghiên cứu của Trường phái hình thức, bên kia là các công trình của V.M. Fritse, P.S.Kogan, V.F. Pereverzev, sau đó là G.N.Pospelov, L.I.Timofeev, V.E. Khalizev – gần như đối lập, loại trừ nhau. Từ nửa sau của thế kỉ, khi di sản của M.Bakhtin được công bố, vị trí của Bakhtin được khẳng định và lớp học giả “những năm sáu mươi” trở thành lực lượng chủ công trong nghiên cứu văn học, cả hai hướng xã hội họcthi pháp học đều không ngừng mở rộng biên độ để hoà nhập vào văn hoá học trong hệ hình lí luận văn học của thời đại mới. Đây là nội dung chính sẽ được tập trung làm nổi bật ở chương này.

Những năm đầu thế kỉ XX đánh dấu một bước ngoặt hết sức quyết liệt trong nghiên cứu văn học trên phàm vi toàn thế giới. Những gì được gọi là tinh hoa của nghiên cứu văn học ở nửa sau thế kỉ XIX mà ngày nay không ai có thể quên chủ yếu là  những công trình về lịch sử văn học, ví như: Lịch sử văn học Anh (1864) của I. Taine, Lịch sử văn học Pháp (1890) của G. Lanson, Sự tiến hoá của các thể loại trong lịch sử văn học (1890) cảu F. Brunetiere, Lược khảo lịch sử văn học dân gian và nghệ thuật Nga (1861) của F.I.Buslaev, Lịch sử văn học Nga (1898) của A.N.Pylin, Về phương pháp và nhiệm vụ của lịch sử văn học như một khoa học (1872), Rabelais và tiểu thuyết của ông. Kinh nghiệm giải thích nguồn gốc (1878), Từ lịch sử tiểu thuyết và thi pháp học 1886), Từ lịch sử hình dung từ (1895) của A.N. Veselovski… Từ đầu thế kỉ XX, ở Nga, Potebnhja và sau đó, các nhà hình thức luận ngả hẳn sang phía thi pháp học lí thuyết. Năm 1905, Potebnhja xuất bản cuốn Từ những ghi chép về lí luận nghệ thuật ngôn từ. Năm 1925, B.V. Tomasevski in cuốn giáo trình Lí luận văn học. Thi pháp. Nội dung của cuốn sách giống như là sự tổng kết một số kinh nghiệm của Trường phái hình thức. Có thể nói, công lao lớn nhất của Trường phái này là đã biến nghiên cứu văn học thành một lĩnh vực khoa học độc lập, có hệ thống thao tác và phương pháp nghiên cứu riêng, chẳng dính líu gì với mĩ học, triết học, xã hội học, lịch sử học, tâm lí học…Với ý nghĩa như thế, Halin Tikhanov cho rằng, phải đến khi Trường phái hình thức Nga xuất hiện, môn lí luận văn học mới thực sự ra đời[176]. Mọi cách tân của Trường phái hình thức có nguồn cội trước hết từ những quan niệm thuần tuý khoa học về phạm vi khảo sát và đối tượng nhận thức của nghiên cứu văn học. Các nhà hình thức luận thành thật tin rằng, có thể tìm thấy ở văn học nghệ thuật một đối tượng nghiên cứu đặc thù, tồn tại độc lập với ý thức của người sáng tạo và người tiếp nhận, vận hành theo những quy luật khách quan, nằm ngoài tầm ảnh hưởng, không chịu sự kiểm soát của luân lí, tôn giáo, chính trị và cũng chẳng bao giờ đồng nhất với các lĩnh vực ấy. Theo B.V. Tomasevski, đối tượng ấy không phải là tiến trình lịch sử, mà là “những phương thức tổ chức các tác phẩm văn học”, là “những hiện tượng văn học được (…) nghiên cứu giống như là kết quả vận dụng những quy luật phổ quát của việc tổ chức tác phẩm văn học. Mỗi một tác phẩm bao giờ cũng bao gồm nhiều bộ phận hợp thành, trong việc kiếu tạo tác phẩm, luôn luôn có sự chia tách các thủ pháp tổ chức, tức là các phương thức liên kết chất liệu ngôn từ thành một chỉnh thể nghệ thuật”[177]. Trong quan niệm của các nhà hình thức luận, ngôn từ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Họ xem lời nói là một đơn vị nghệ thuật độc lập, thậm chí, nó chính là nghệ thuật. Cho nên, các môn đệ của trường phái hình thức đã đổ nhiều công sức và giấy mực vào việc nghiên cứu lịch sử ngôn từ thi ca, thi pháp lịch sử, khảo sát hình thái tồn tại của văn bản và cấu trúc nó để qua đó có thể tìm lời giải đáp cho các câu hỏi: hình thức là gì? Nó được tạo thành bởi những yếu tố nào của ngôn từ? Và rốt cuộc, tác phẩm văn học đã được “làm” ra sao?

Nghệ thuật “chế tạo” ra lời nói mới và các hình thức mới của lời nói. Khoa học đích thực có chứ năng khám phá cái hình thức mới ấy diễn ra như thế nào. Cho nên, đối tượng nhận thức khoa học thực sự của các nhà hình thức luận là công đoạn “làm” ra tác phẩm. Don Kihote” đã được chế tác như thế nào ? Áo choàng” của Gogol được làm như thế nào? Chỉ các môn đệ của Trường phái hình thức Nga mới đặt ra những câu hỏi như thế. Bởi vì họ có cách hiểu rất riêng, thuần tuý mang tính khoa học về dấu hiệu của nghệ thuật. Tác phẩm với tư cách là “sản phẩm” của quá trình sáng tạo đã xong xuôi, hoàn tất chỉ có thể xem là một “vật phẩm”. Nó không phải là nghệ thuật. Nghệ thuật biểu hiện ở hình thức. Mà quá trình tổ chức hình thức lại diễn ra trên nền tảng của công đoạn “làm” ra tác phẩm. Tức là “nghệ thuật” chỉ có thể được hiện thực hoá một cách trọn vẹn trong quá trình nhào nặn, tổ chức các hiện tượng ngôn ngữ để biến chúng thành chỉnh thể cấu trúc mang tính thi ca. Ta hiểu vì sao các nhà hình thức luận không quan tâm tới tác phẩm như là một vật phẩm đã được làm xong. Anh ta chỉ chú ý nghiên cứu quá trình làm ra tác phẩm khi nó chưa có một hình hài hoàn chỉnh.

Có thể tìm thấy trong di sản của các nhà hình thức luận một quan niệm vô cùng mới mẻ về tác phẩm văn học, về dấu hiệu nghệ thuật của nó, về đối tượng nghiên cứu của khoa học văn học. Tác phẩm nghệ thuật không phải là một vật phẩm được chế tạo xong xuôi, càng không phải là một văn bản chết. Đó là một phạm trù bao hàm ở bên trong quá trình không ngừng nhào nặn chất liệu ngôn từ, kiến tạo hình thức để biến chúng thành một cấu trúc chỉnh thể mang tính hệ thống của lời nói thi ca. Dấu hiệu nghệ thuật của tác phẩm văn học nằm ngay ở quá trình ấy. Nếu quá trình kiến tạo hình thức chưa được khám phá, tác phẩm văn học chỉ là một vật phẩm trừu tượng. Quan niệm này dẫn tới một cuộc cách mạng trong nghiên cứu văn học.  Khi phân tích tác phẩm, Trường phái hình thức không bận tâm vào việc phát hiện thêm những lớp nghĩa mới, những mối quan hệ bên ngoài tận đẩu đầu đâu, ví như ý nghĩa và quan hệ giữa nó với lịch sử và xã hội, với triết học hay thế giới thần bí. Nó chỉ tập trung khám phá ý nghĩa riêng biệt vốn có ở bên trong, được nảy sinh từ mối quan hệ giữa các yếu tố của tác phẩm, cái ý nghĩa làm hiển lộ chức năng cùng mục đích kiến tạo của tác phẩm ấy.

Các nhà hình thức luận đã vận dụng triệt để hệ thống phương pháp luận của ngôn ngữ học và của toán học vào việc phân tích văn học. Chẳng hạn, họ vận dụng toán học vào việc thống kê, phân loại các hình thức “điệp”, nhịp điệu, tiết tấu, vần điệu trong thơ, hoặc vạch ra sơ đồ về sự lặp của hệ thống hình tượng, chức năng nhân vật trong tác phẩm truyện. Công cụ được các nhà hình thức luận sử dụng khi phân tích văn học còn là một hệ thống khái niệm, bao gồm: chất liệu (chất liệu của nghệ thuật), thủ pháp (thủ pháp kiến tạo hình thức) và lí do (lí do vận dụng thủ pháp). Sử dụng hệ thống khái niệm ấy để phân tích tác phẩm, các nhà hình thức luận giúp người sáng tạo và người tiếp nhận hiểu ra: bí mật lớn nhất của nghệ thuật ấy là nghệ thuật chẳng có bí mật nào cả. Osip Brik quả quyết, giả dụ không có Puskin, “Evnhegi Onhegin” vẫn cứ được “làm ra” như thường. Nghĩa là, nghệ thuật chỉ có những quy luật khách quan của một dạng hoạt động văn hoá. Chiếm lĩnh được những quy luật ấy, thì kết qủa của mọi hoạt động văn hoá dẫu phong phú, đa dạng và phức tạp đến đâu, người ta vẫn có thể tiên lượng, đoán định được. Ví như Shklovski đã chỉ ra “lạ hoá” như một nguyên tắ phổ quát,nó tồn tại trong văn xuôi L.Tolstol. Gogol, trong câu đố dân gian, trong truện cổ tích, truyền thuyết, nghĩa là ở khắp mọi nơi, “ở đâu có hình tượng là có sự tồn tại của nó”[178]. Eikhenbaum phát hiện quy luật tổ chức điệu giọng của thơ trữ tình[179]. Tynhianov khái quát quy luật về “sự  thống  nhất  của  dòng  thơ” và  sự “nén chặt của thơ”. Ông giúp người đọc nhận ra nguyên tắc cấu trúc của thơ và văn xuôi bằng một định thức: “dùng vai trò của nghĩa làm sai lệch âm thanh, ấy là nguyên tắc cấu trúc của văn xuôi. Làm thay đổi âm thanh bằng vai trò của ngữ nghĩa, lại là nguyên tắc cấu trúc cảu thơ. Sự thay đổi có tính chất cục bộ giữa hai yếu tố ấy là chứng cứ vận động của cả văn xuôi lẫn thơ”[180].

Vào những năm 80 của thế kỉ trước, khi chủ nghĩa giải cấu trúc xuất hiện, người ta nhận ra, mọi trường phái khoa học trước đó đều xây dựng hệ thống lí thuyết theo mô hình duy lí triệt để nhất. Có lẽ ai cũng biết Jacques Derrida đã phê phán chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học như thế nào. J. Derrida cho rằng chủ nghĩa cấu trúc của F. Saussure là điểm phát triển tận cùng của thuyết “logos trung tâm luận” (“logocentrismr”) nằm trong truyền thống tư duy siêu hình của phương Tây, khởi nguồn từ Platon và Aristotle kéo dài mãi cho tới Heidegger và Lévi-Strauss.  Rất dễ nhận ra những mâu thuẫn và tinh thần duy lí cực đoan trong quan điểm lí thuyết của Trường phái hình thức. Iu.N. Tynhianov kể rằng, Shklovski muốn nghiên cứu tác phẩm văn học giống như đó là một cỗ máy, có thể tháo ra rồi lắp lại. Thực tế là, V.B. Shklovsi từng phân tích cấu trúc của một văn bản nghệ thuật giống như tổ chức của một ván cờ, trong đó tất cả các nhân vật, từ con tốt cho đến tướng, sĩ, tượng, quân nào cũng có chức năng riêng[181]. Đó chính là một biểu hiện cực đoan. Hoặc mở rộng ra, hàng loạt luận điểm của trường phái hình thức, ví như luận điểm về sự ưu thắng tuyệt đối của hình thức đối với nội dung, của thanh âm đối với ngữ nghĩa, luận điểm về bản chất tự túc, tự mãn về phương diện nghệ thuật của lời nói, về sự tồn tại mang tính quy luật của những đơn vị cấu trúc lời nói giống như một thứ trực giác ngôn ngữ hay kí ức lịch sử của người sáng tác trao giúp anh ta khả năng “xuất khẩu thành chương”… đều là những luận điểm thấm nhuần ý thức “lô gíc trung tâm luận”. Có điều, Trong quan niệm của Trường phái hình thức, lô gíc cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật nằm ở chức năng của các thành tố, chứ không phải ở vị trí của thành tố trung tâm. Cho nên, nhiều trào lưu nghiên cứu văn học có vẻ như đối lập với nhau, ví như cấu trúc luận và giải cấu trúc, “phê bình mới” và mĩ học tiếp nhận đều tìm thấy ở Trường phái hình thức Nga những tiền đê lí thuyết của mình. Nghĩa là, ngay ở những biểu hiện cực đoan nhất, các luận điểm của Trường phái hình thức vẫn ngầm chứa nhiều gợi ý cho tương lai.

Thế hệ các nhà ngữ văn ở thời đại mới, như S.S. Averinsev, M.L. Andreev, M.L.Gasparov, P.A. Grinser, A.V. Mikhailov, M.M. Meletinski, A.B.Kudelin, B.l. Riftin…vừa kế thừa những tư tưởng khoa học của Trường phái hình thức, vừa tìm cách khắc phục những mặt hạn chế của nó. Bằng cách ấy, họ vừa hoàn thiện phương pháp nghiên cứu cấu trúc văn bản nghệ thuật, vừa mở rộng hệ thống lí thuyết theo hướng thi pháp lịch sử. Xin dẫn hai trường hợp sau đây làm ví dụ.

  Năm 2001, M.L. Gasparov tập hợp nhiều bài viết ở những thời điểm khác nhau làm thành tập tuyển: Về thơ Nga. Phân tích. Giải thích. Nhận xét. Trong tập tuyển có một bài viết rất lí thú. Nhan đề của nó là: “Trên đầu tôi lại những đám mây bay…”. Phương pháp phân tích.  Bài viết có hai nội dung rõ rệt. Thứ nhất: phân tích thi phẩm Linh cảm của Puskin.“Trên đầu tôi lại những đám mây bay…” là câu thơ được rút từ thi phẩm này. Thứ hai: nêu vấn đề về phương pháp phân tích văn bản thơ. Vấn đề “phương pháp phân tích” chính  là nội dung có quan hệ trực tiếp tới luận điểm chúng tôi đang trình bày ở đây.

Trong bài viết,  M.L. Gasparov tỏ ra không mấy mặn mà với cách đọc tiểu sử của thế kỉ XIX và cách đọc “văn bản ngầm”, “liên văn bản” của thế kỉ XX. Ông khẳng định giá trị khoa học của nguyên tắc phân tích “nội tại”, tức là sự phân tích không vượt ra ngoài giới hạn của những gì được nói trực tiếp trong văn bản. Ông xem văn bản là một cấu trúc chỉnh thể có thể bóc tách theo tầng lớp, cấp độ. Quan trọng hơn, ông tuyên bố sẽ bóc tách văn bản bài thơ thành 3 cấp độ theo cách mà nhà hình thức luận B.I Jarkho đã đề xướng vào năm 1925: cấp độ thứ nhất, tầng trên – tư tưởng – hình tượng; cấp độ thứ hai, tầng giữa – phong cách; cấp độ thứ ba, tầng dưới – ngữ âm, âm thanh. Ông khẳng định tính hợp lí của cách bóc tách ấy, vì mỗi cấp độ ứng với một phương diện lĩnh hội của ý thức trước các hiện tượng hữu quan. Cấp độ ngữ âm ứng với sự lĩnh hội các hiện tượng bằng thích giác. Cấp độ phong cách được lĩnh hội bằng cảm giác ngôn ngữ. Cấp độ tư tưởng – hình tượng được lĩnh hội bằng trí óctưởng tượng. Gasparov cho rằng phân tích văn bản ở cấp độ tư tưởng – hình tượng là khó nhất, vì mĩ học truyền thống chưa cung cấp lí thuyết phân tích. Nhưng ngay ở đây, ông đã đề xuất được một cách đọc mà dẫu “đần độn đến đâu” người ta vẫn có thể sử dụng để phân tích mọi loại văn bản. Ông gọi đó là cách đọc cơ giới: đọc theo từ loại. Bằng cách này, ta chỉ cần đọc kĩ bài thơ rồi chép ra giấy theo thứ tự từ trái sang phải các danh từ, tiếp theo là các tính từ, sau nữa là các động từ. Những từ ngữ như thế sẽ mở ra trước mắt ta thế giới nghệ thuật của tác phẩm: từ các danh từ, ta có bộ phận vật thể cảm tính ( và các khái niệm); từ các tính từ – bộ phận sắc điệu cảm xúc (và cả tình cảm); từ các động từ – bộ phận các hoạt động và các trạng thái đang diễn ra trong thế giới ấy

Thoạt nhìn, đúng là những nguyên tắc phân tích cấu trúc văn của Gasparov đã đưa nghiên cứu văn học xích lại gần với các khoa học chính xác, vốn là xu hướng lí thuyết có truyền thống từ trong di sản của Trường phái hình thức. Nhưng nếu khảo sát kĩ, ta sẽ nhận ra, trong bài viết của Gasparov, việc phân tích cấu trúc không nhằm tuyệt đối hoá vai trò của bình diện hình thức. Đằng sau lớp từ ngữ, nhất là nhìn vào cách thức tổ chức không gian và thời gian của bài thơ, Gasparov nhận ra “một thế giới không có thiên nhiên, không có cuộc sống thường nhật và ở đó thời quá khứ thông qua thời hiện tại và thể mệnh lệnh của động từ đang nhịp nhàng xích lại gần tương lai”. Ở đây, việc tập trung phân tích bình diện kĩ thuật bao giò cũng nhắm tới cái đích làm nổi bật nội dung tư tưởng – tình cảm của bài thơ[182].

Từ cuối những năm 60, đầu những năm 70, người ta thấy trong nghiên cứu văn học Xô viết xuất hiện ngày càng nhiều hơn những công trình nghiên cứu thi pháp, nhiều nhất là những công trình nghiên cứu thi pháp lịch sử, ví như Thi pháp Tsekhov của A. P.Tsudakov[183], Thi pháp Puskin của S.G.Bosarov[184], Thi pháp Lion Tolstoi của Vl.A.Kovalev[185], Thi pháp chủ nghĩa hiện thực Nga của G.M.Fridlender[186], Thi pháp văn học Nga cổ của D.S.Likhasev[187]…Ở những công trình như thế,  thi pháp lịch sử không chỉ là đối tượng của nhận thức khoa học, mà còn là một hướng tiếp cận văn bản[188], là nguyên tắc phương pháp phân kì tiến trình lịch sử văn học. Năm 1994, Viện Văn học thế giới (IMLI) thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga cho xuất bản tuyển tập: Thi pháp lịch sử. Tuyển tập có phụ đề: Các thời đại văn học và các loại hình nhận thức thức nghệ thuật. Chỉ cần nhìn vào cái phụ đề ấy, ta đã thấy mối quan hệ biện chứng giữa quan điểm loại hình và quan điểm lịch sử trong tư duy nghiên cứu của các nhà ngữ văn học hiện đại. Trong quan niệm của họ, thi pháp chủ yếu là hình thức thế giới quan, là loại hình tư duy nghệ thuật thấm đẫm ý thức lịch sử, chứ không chỉ là “thao tác”, “thủ pháp” kĩ thuật. Tư tưởng khoa học này là nền tảng được dựa vào để phân kì tiến trình lịch sử văn học trong một công trình nghiên cứu tập thể: Các phạm trù thi pháp trong sự thay đổi của các thời đại văn học. Dựa vào sự vận động của các hệ thống thi pháp như là các loại hình nhận thức nghệ thuật, các tác giả của công rình này đã chia tiến trình văn học toàn nhân loại – từ nguồn cội cho đến nay – thành 3 thời đại lịch sử: cổ đại, trung đạihiện đại. Văn học cổ đại vận động trên nền tảng của hệ thống thi pháp chưa có thi pháp (“поэтика без поэтики”) ứng với loại hình ý thức nghệ thuật huyền thoại thi ca. Văn học trung đại được gọi là thời đại của thi pháp phong cách và thể loại ứng với loại hình ý thức nghệ thuật truyền thống, hướng tới cái “điển mẫu”. Thời hiện đại là thời đại của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn. Đó là thời đại của thi pháp tác giả và loại hình ý thức nghệ thuật mang tinh thần sáng tạo – cá nhân.[189]

Người ta có thể chưa đồng tình với cách phân kì lịch sử như thế, nhưng không ai có thể phủ nhận, hướng nghiên cứu thi pháp lịch sử của các nhà ngữ văn học tự nó đã mở rộng biên độ để đưa khoa học và nhân học, nghiên cứu văn học và văn hoá học xích lại gần nhau. Đọc các tiểu luận Tác giả và uy tín của S.S. Averinsev, Thơ và văn xuôi của M.L. Gasparov, Phong cách như một phạm trù giá trị của P.A. Grinser, Thi pháp barocco: sự cáo chung của thời đại từ chương tao nhã của A.V. Mikhailov trong tập tuyển nói trên, hoặc các chuyên luận Thi pháp văn học Nga cổ của D.S. Likhasev, Thi pháp chủ nghĩa hiện thực của G.M. Fridlender nhiều khi rất khó nhận ra biên giới rạch ròi giữa các mô hình thí thuyết “khoa học” và “nhân học”, giữa nghiên cứu văn học với văn hoá học. Tuy không phải là thành viên, nhưng M.L, Gasparov thường xuyên cộng tác chặt chẽ với Trường phái Tartu – Moscow. Ông viết Lotman và chủ nghĩa Mác[190], Iu.M. Lotman: Khoa học và tư tưởng hệ [191] thể hiện sự tâm đắc, gần gũi trong quan niệm khoa học giữa cá nhân mình với vị chủ soái của trường phái cấu trúc – kí hiệu học văn hoá.  D.S.Likhasev là tác giả của các chuyên luận Lịch sử văn học Nga, Thi pháp văn học Nga cổ, Sự xuất hiện của văn học Nga. Nhưng ông cũng là tác giả của những công trình: Bộ luật biên niên sử của Novgorod thế kỉ XII, Phòng tuyến của các thành phố Nga cổ,  Sự tự nhận thức dân tộc của nước Nga , Văn hoá Nga ở thời đại giáo dục tinh thần quốc gia dân tộc Nga (từ cuối thế kỉ XIV đến thế kỉ XVI), Con người trong văn học Nga cổ, Di sản nghệ thuật của nước Nga cổ đại. Kể ra như thế để thấy, các hướng tiếp cận “nhân học” và “khoa học”, giữa nhà nghiên cứu văn học và nhà văn hoá học không hề có sự đối lập nào trong tư duy và hoạt động của các tác giả ấy.

Chư ơng III

Từ giai cấp luận đến nhân vị luận

Như đã nói, từ những năm 20 của thế kỉ trước, trong nghiên cứu văn học Xô Việt, có nhiều hệ thống lí thuyết được triển khai trên nền tảng của mô hình “nhân học”. Nhưng nếu đối sánh giữa chúng với nhau, ta sẽ nhận ra hai hệ thống đã để lại dấu ấn đậm nét và vẫn tiếp tục có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khoa nghiên cứu văn học trên một phạm vi vô cùng rộng lớn.

Trước hết, phải kể đến số phận lịch sử của hệ thống lí thuyết được các nhà xã hội học Mác xít triển khai một cách quyết liệt ngay từ sau Cách mạng thánh Mười cho đến hết những năm 20. Thời ấy, V.M. Fritse, P.S.Kogan, V.F. Pereverzev là những học giả tiêu biểu nhất của khuynh hướng này. Từ năm 1895, P.S. Kogan đã tham gia viết báo chống lại xu hướng phê bình duy tâm, tuyên truyền những tư tưởng Mác xít trong nghiên cứu văn học. Ông tham gia biên soạn nhiều bộ lịch sử văn học, ví như Lịch sử văn học Tây Âu (1903), Lịch sử các nền văn học cổ đại (1907), Lịch sử văn học Nga hiện đại (1908). V.M.Fritse (1870 -1929) là tác giả của những công trình Lược khảo lịch sử văn học Tây Âu (1908), Chủ nghĩa Freud và nghệ thuật (1925), Xã hội học nghệ thuật (1926), Những vấn đề nghệ thuật học (1930). V.F. Pereverzev (1882-1968) từng tham gia nhóm Chủ biên bộ Từ điển Bách khoa văn học (1929-1930). Ông là tác giả của một loạt công trình viết về 3 nhà văn lớn: Gogol, Dostoevski và Gonsarov. Năm 1928, Pereverzev chọn lựa nhiều bài viết của bản thân và của các môn đệ in thành tuyển tập Nghiên cứu văn học. Sự kiện này làm nổ ra một cuộc tranh luận sôi nổi về “trường phái Pereverzev” kéo dài suốt 2 năm, 1929 – 1930.

Pereverzev, Kogan, Fritse vận dụng triệt để vào nghiên cứu văn học luận điểm của K.Marx xem văn học nghệ thuật là hiện tượng tư tưởng hệ thuộc thượng tầng kiến trúc chịu sự quy định của nền tảng kinh tế xã hội. Nội dung chính toát lên từ các công trình nghiên cứu của họ là nhiệt tình khám phá cho bằng được cái “đương cực xã hội” (chữ của G.V.Plekhanov) của hiện tượng văn học – có thể là một tác phẩm, cũng có thể là toàn bộ sáng tác của một nhà văn, một trường phái nào đó – mà họ đem ra phân tích.

Trong cuốn Sáng tạo của Gogol (1914),  Pereverzev dành hẳn một chương, có tiêu đề là “Phong cách” để phân tích cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm. Nếu so sánh với bài “Áo choàng” của Gogol được làm thế nào, ta thấy, Pereverzev cũng miêu tả các thủ pháp nghệ thuật một cách tỉ mẩn giống hệt Eikhenbau. Thế mà chính ở đây, Pereverzev tuyên bố: “Sẽ rất chán, nếu nghiên cứu phong cách chỉ là để hiểu phong cách. Phong cách chỉ trở nên lí thú, khi nhìn vào đó, bạn có thể đoán được đặc điểm của môi trường sống đã làm nẩy sinh ra phong cách ấy”[192]. Cho nên, sau khi miêu tả cấu trúc của tác phẩm, ông đặt ra nhiệm vụ: “nghiên cứu mối liên hệ giữa sáng tác của Gogol với hoàn cảnh xã hội, miêu tả sáng tác của ông như là sản phẩm của một nhóm xã hội xác định, như là sự phản ánh rõ rệt đời sống của một cái ổ xã hội nào đó”[193]. Sáng tác của Dostoevski và Gonsarov cũng được Pereverzev phân tích theo kiểu như thế. Pereverzev thấy sáng tác của Gogol vừa phản ánh hoàn cảnh lịch sử của người Kazak, lại vừa phản ánh hoàn cảnh xã hội của tầng lớp lãnh chúa. Do hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng tới sáng tác của Gogol mạnh hơn hoàn cảnh lịch sử, nên có thể gọi nhà văn là “nghệ sĩ của môi trường tiểu chủ”. Ông cho rằng nhân vật lưỡng diện của Gogol nói lên “địa vị có mâu thuẫn, mang tính hai mặt của tầng lớp tiểu tư sản”[194], còn  “những kẻ không thành đạt trong sáng tác của Gonsarov đều là sản phẩm của môi trường đại tư bản”[195].

Pareverzev đưa ra lí lẽ thế này. Nhân vật văn học nào cũng có đời sống tâm lí và tính cách. Trong đời sống thực, người nào cũng có tính cách. Vậy tính cách chính là mắt xích quan trọng nhất nối liền nghệ thuật với cuộc sống. Ông xem tính cách không chỉ là “nội dung” của hình tượng, mà còn là “yếu tố cấu trúc cơ bản nhất của tác phẩm nghệ thuật”[196] . Cho nên, ông rất coi trọng việc phân tích tính cách của các nhân vật văn học. Có điều khi phân tích tính cách, bao giờ ông cũng quy thành phần giai cấp cho nhân vật, ví như “tiểu tư sản”, “tiểu điền chủ”, hay “đaị tư bản”. Có thể nói, giai cấp luận chính là hạt nhân cơ bản làm nên quan niệm văn học của Pereverzev. Vào những năm 20, P.S.Kogan, V.M.Fritse, V.F.Pereverzev và nhiều môn đệ của ông đã chống lại Trường phái hình thức một cách quyết liệt nhất. Họ là những người đầu tiên đưa giai cấp luận và xã hội học dung tục vào nghiên cứu văn học. Tuy nhiên, trong di sản lí luận của học vẫn có một phần chứa đựng giá trị khoa học đích thực. Chẳng hạn, V.F.Pereverzev dung tục khi ông chụp cho các hiện tượng văn học những thành phần giai cấp cụ thể, nhưng ông tỏ ra vô cùng tinh tế khi phân tích bình diện cấu trúc của tác phẩm.

Năm 1938, V.F.Pereverzev bị quy vào thành phần melsevik và bị các cơ quan công quyền trấn áp. Mãi đến năm 1936, ông mới được minh oan. P.A.Nhikolaev nhận xét: “Thời đại thống trị của xã hội học dung tục đã vĩnh viễn trở thành quá khứ. Nhưng người ta vẫn tiếp tục đọc Pereverzev trước hết là nhờ có phần phân tích tác phẩm từ góc độ kí hiệu học, nhờ những phát hiện về sự thống nhất trong sự đa dạng của các bộ phận, các thành phần, các thủ pháp. Cách phân tích như thế, ở một mức độ nhất định, tỏ ra ưu việt hơn so với nhiều công trình nghiên cứu văn học từ quan điểm hệ thống sau này”[197]. Nhận xét ấy góp phần lí giải, vì sao ở những năm 20 từng có cả một “trường phái Pereverzev”, và sau đó, nhiều vị hậu bối vẫn tiếp tục phát triển những hạt nhân hợp lí trong hệ thống quan điểm của ông. G.N.Pospelov là một trong số những vị hậu bối như thế.

Như đã nói, năm 1929, G.N.Pospelov đã hoàn thành bản luận án Phó Tiến sĩ dưới sự hướng dẫn khoa học của V.F.Pereverzev. Ngay trong công trình đầu tay – Bàn về vấn đề hình thức và nội dung – Pospelov xác định nhiệm vụ của nghiên cứu văn học thực chất là nhiệm vụ của “khoa học xã hội và lịch sử”. Có lẽ vì thế, ông từng bị đấu tố vì đã “phát triển đến giới hạn lô gíc cuối cùng” các luận điểm của người hướng dẫn khoa học.

Những công trình khoa học của Pospelov chứng tỏ, ông đã khắc phục tận gốc những nhược điểm của khuynh hướng xã hội học dung tục của thế hệ tiền bối. Nhưng ông vẫn là người kiên trì nhất trong việc bảo vệ hướng tiếp cận văn học từ góc độ xã hội học, xem nghệ thuật là một dạng hoạt động tư tưởng hệ.  Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh G.N.Pospelov, nhìn lại cuộc đời học thuật của ông, nhà nghiên cứu L.V.Tzernes nhận xét: “Trở thành một học giả ngay từ những năm 20, G.N.Pospelov suốt đời không thay đổi quan niệm xem văn học và sự sáng tạo nghệ thuật chủ yếu là hoạt động tư tưởng hệ (“thế giới quan và lập trường tư tưởng trực tiếp” của nghệ sĩ là nguồn mạch quan trọng nhất làm nên nội dung của nghệ thuật). Pospelov chứng kiến sự thay đổi của nhiều thời đại, nhiều kiểu mốt trong nghiên cứu văn học, nhưng không gì có thể làm thay đổi những nền tảng vững chắc trong quan niệm của ông, những thay đổi bên ngoài chỉ khiến ông thêm quyết tâm củng cố, bổ sung những quan điểm nền tảng nhằm xây dựng một hệ thống lí thuyết riêng của bản thân về nghệ thuật mà không cần dựa vào uy tín của ai, cho dù đó là Hegel, Bieliski, là Dobraliubov, A. Veselovski hay Plekhanov…”[198] .

Pospelov đã tạo ra cả một hệ thống thuật ngữ – khái niệm lí thuyết với nội hàm xác định, như cái thẩm mĩcái nghệ thuật, trào lưukhuynh hướng văn học, phong cáchbút pháp, chủ nghĩa lãng mạnchất lãng mạn…Công lao lớn nhất của Pospelov là ở chỗ, ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu lí thuyết thuộc những bình diện khác nhau, như đặc trưng nghệ thuật, cấu trúc tác phẩm, các phạm trù loại hình bao gồm phương pháp sáng tác, dạng cảm hứng[199], các nhóm “thể”loại của tác phẩm văn học, hay vấn đề phân kì lịch sử các nền văn học châu Âu. Chúng tôi cho rằng, hai chuyện luận Những vấn đề phong cách văn học (1970) và Những vấn đề phát triển lịch sử cảu văn học (1971) là những công trình sáng giá nhất của G.N. Pospelov. Chuyên luận Những vấn đề phong cách văn học cho thấy, ông vẫn thuỷ chung với quan niệm của V.F.Pereverzev, xem phong cách là thuộc tính của hình thức nghệ thuật, là phạm trù về tính nghệ thuật. Trong Những vấn đề phát triển lịch sử của văn học, Pospelov đã hoàn thiện lí thuyết loại hình hoá các thể tài văn học, qua đó giúp người nghiên cứu khám phá gốc rễ của các nhóm thể tài (thần thoại, dân tộc – lịch sử, phong tục thế sự, lãng mạn, lãng mạn – anh hùng) và quan hệ tương tác giữa các nhóm ấy trong khuôn khổ của các thời kì, giai đoạn văn học khác nhau[200].

Theo dõi hoạt động khoa học của một thế hệ từng là sinh viên, nghiên cứu sinh của Pospelov, như G.K.Kosikov, V.V.Kurilov, V.P.Rakov, V.E.Khalizev, L,V.Tzernes., thấy ở Nga, hay chí ít là ở Đại học Tổng hợp xã hội – nhân văn Moscow, đang tồn tại một “Trường phái Pospelov”. Trong nhiều công trình nghiên cứu, G.K. Kosikov thường phát triển tư tưởng của Pospelov xem tiểu thuyết là loại tác phẩm viết về thể tài đời tư Và khi triển khai như thế, ông luôn luôn tỏ ý không tán thành quan điểm xem đặc trưng của tiểu thuyết gắn liền với nguyên tắc đối thoại do M.Bakhtin khởi xướng[201]. Năm 1999, V.E. Khalizev cho xuất bản cuốn giáo trình Lí luận văn học. Có lẽ đây là lần đầu tiên ở nước Nga có một cuốn giáo trình viết về nhiều vấn đề hiện đại của lí luận văn học, như tiếp nhận văn học, thông diễn học, giá trị học…Nhưng nội dung chính của cuốn giáo trình thì vẫn là sự phát triển những luận điểm quan trọng nhất của G.N.Pospelov về bản chất, chức năng, về nội dung, hình thức của văn học nghệ thuật, về loại và thể của tác phẩm, về trào lưu, phương pháp, phong cách trong tiến trình văn học[202].

Có một điều điều phải thừa nhận như thế này. Hướng tiếp cận văn học từ góc độ tư tưởng hệ của các nhà giai cấp luận hồi đầu thế kỉ (dẫu bỏ đi phần dung tục) và của các nhà xã hội học nghệ thuật như G.N.Pospelov,  G.K.Kosikov, V.E.Khalizev…dẫu có độc đáo đến đâu thì nó vẫn không có khả năng tạo ra một hệ hình lí thuyết kiểu mới. Bởi vì nó vẫn có tham vọng xây dựng một hệ thống lí thuyết trên tinh thần nhất nguyên, duy lí triệt để. Ta hiểu vì sao khi lệnh cấm được dỡ bỏ, di sản lí luận của M. Bakhtin được người Nga chào đón nồng nhiệt đến thế. Hoàn toàn có cơ sở để khẳng định di sản ấy đã mở ra hệ hình lí thuyết của thiên niên kỉ thứ ba.  Vậy bản chất cách tân của hệ hình lí thuyết ấy là ở đâu? Hệ hình lí thuyết tác động thế nào tới sự phát triển của nền lí luận nước Nga hậu Xô viết. Đó là những câu hỏi rất khó trả lời. Khó, vì muốn trả lời phải có công sức của nhiều người. Khó, còn bởi vì, không một ai dám quả quyết sẽ đưa ra được những lời giải đáp cặn kẽ, đích đáng. Xung quanh di sản của M.Bakhtin đang có rất nhiều vấn đề đang còn tranh luận, mỗi người tham gia tranh luận đều cố gắng đưa ra một quan điểm riêng. Cho nên, ở đây, chúng tôi cũng chỉ trình bày một cách đại quát những nét chung nhất theo cách hiểu riêng của mình.

Nhiệm vụ chính của công trình này là nghiên cứu sự vận động của nền lí luận văn học Nga hậu Xô viết. Nhưng M.Bakhtin trước hết là một triết gia. Tác phẩm nào của ông cũng đều là những công trình triết học. Triết học hành vi dĩ nhiên là triết học. Hai cuốn sách ông viết về Dostoevski và Rabelais cũng là triết học. Hoàn cảnh đã buộc M.Bakhtin phải tìm đến với văn học để qua đó trình bày những tư tưởng triết học của mình. Và ở lĩnh vực nghiên cứu văn học, ông là một học giả uyên thâm, lỗi lạc. Có điều, muốn nghiên cứu hệ thống quan niệm của M.Bakhtin về văn học, cần phải tìm hiểu tư tưởng triết học của ông.

Nếu xét về nội dung, có thể gọi triết học của M. Bakhtin là triết học văn hoá. Nhưng xét từ phạm trù trung tâm được lấy làm điểm tựa cho cả một học thuyết, triết học của Bakhtin chính là nhân học, cũng có thể gọi là nhân vị luận (“Personnalisme”). Nền tảng tạo nên lâu đài triết học văn hoá của M. Bakhtin là phàm  trù  “cá  nhân”, nhiều khi được Bakhtin sử dụng với những từ đồng nghĩa, như “nhân cách”, “con người”, “con người bên trong”, “ý thức”…

Hệ thống triết học nào cũng được xây dựng từ mộ cặp phạm trù đối lập, ví như “vật chất/tinh thần”,  “tồn tại/ý thức”. “hiện thực/lí tưởng”, “hiện tượng/bản chất”…Qua cách lập luận của Bakhtin, người ta nhận ra, phạm trù đối lập với “cá nhân” là “vật dụng”[203].  Trong sự đối lập với “vật dụng”, “cá nhân” có những phẩm chất như sau:

Thứ nhất: chỉ “cá nhân” mới có “không gian nội tại” (chính xác hơn, “chronotope nội tại” – “không – thời gian bên trong”). Thứ “không – thời gian” này chẳng có bất kì một thuộc tính vật lí nào. Cho nên, để xác định nội dung của khái niệm “cá nhân”, Bakhtin thường sử dụng khái niệm “tính xã hội nội tại”. Với  ý  nghĩa  như  thế , “cá  nhân” trong cách hiểu  của  Bakhtin bao giờ  cũng  là  một  bản  thể tư tưởng hệ. “Vật dụng” do không có “không gian nội tại”, nên nội dung, bản chất, ý nghĩa của nó dù phức tạp đến đâu, sớm hay muôn, cũng bị khám phá cạn kiệt. Với “không gian nội tại”, cá nhân bao giờ cũng có hạt nhân bất khả tri. Nếu cá nhân tự khép kín, đóng chặt, ta không bao giờ có thể hiểu được nó. Chỉ khi nào cá nhân có thiện chí tự thổ lộ với ta, ta mới có hy vọng nhận thức, phân tích để nắm bắt nó một cách tương đối chính xác.

Thứ hai: Trong cách sử  dụng  của  Bakhtin, khái niệm “không gian nội tại” gần như đồng nghĩa với “cái tôi”. Nó là “hạt nhân của cá nhân”. Vật dụng có thể phá đi rồi làm lại. “Cái tôi” bao giờ cũng tồn tại trong tính toàn vẹn của nó. Nó là cái duy nhất, không thể làm lại. Nó là cái vĩnh hằng, không thể phá bỏ. Nói cách khác, cá nhân với cái tôi bao giờ cũng mang tính “sự kiện”. Nó là sự kiện nội tại của đời sống bình lặng rất khó đoán định, không thể phân tích. Trong khi dó, các quá trình vật lícủa thế giới vật chất câm lặng ở bên ngoài đều có quy luật nên thiếu tính sự kiện, chúng chỉ tương tự như sự kiện của huyền thoại.

Thứ ba: Vật dụng nào cũng có thể sử dụng làm kí hiệu cho một vật khác, một cá nhân, hay một quan hệ. Trong khi đó, bản thân cá nhân không thể sử dụng làm kí hiệu cho bất kì một thứ gì. Cá nhân chỉ là ý nghĩa thuần tuý. Giống với mọi thứ ý nghĩa, chỉ khi nào va chạm, tiếp xúc với các ý nghĩa khác, được đặt vào một phạm vi liên cá nhân, khi ấy, cá nhân mới tự hoạt động, tự xác định và tự biểu hiện.

          “Cá nhân” là phạm trù gốc thuộc cấp độ thứ nhất trong hệ thống triết học của Bakhtin. Ở cấp độ thứ hai, hệ thống triết học của Bakhtin được kiến tạo trên nền tảng của phạm trù “sự kiện”, “tính sự kiện”. Theo cách hiểu của Bakhtin, sự kiện bao giờ cũng là sự kết hợp của hai bình diện cùng diễn ra, cùng tồn tại: bình diện thời gian mang tính lịch sử (một lần, không thể thay thế) và bình diện không gian. Cho nên, nói đến tính sự kiện tức là nói tới tính  “không – thời gian cốt yếu”. Bakhtin chia tính sự kiện thành các loại sau đây:

 Thứ nhất: Sự kiện “cái tôi”: cá nhân không chỉ là sự kiện lịch sử của đời sống bình lặng, mà còn là cái cùng – tồn – tại[204] với những cá nhân khác. Sẽ không có sự tồn tại của cá nhân, nếu thiếu cá nhân khác.

Thứ hai: Sự kiện “người khác”.“Người khác” cũng chính là sự kiện. Nhưng “người khác” sẽ chẳng có nghĩa lí gì, nếu nó không được đặt trong mối quan hệ với “tôi”, vì không có “tôi”, nó không còn là “người khác”.

Thứ ba: Sự kiện tư duy: Tư duy là một hiện tượng thuộc đời sống bên trong (cá nhân). Nó hoàn toàn không đối lập với tồn tại. Nó giữ vai trò của một sự tồn tại rỗng nghĩa trước khi đạt được một sự tổng hợp toàn vẹn có nghĩa. M.Bakhtin tin viết: “Cùng với sự xuất hiện của ý thức trong thế giới (trong tồn tại), mà cũng có thể là cùng với sự xuất hiện của đời sống sinh học <…>, thế giới không ngừng thay đổi một cách quyết liệt. Sự tồn tại của sự kiện trong tính tổng thể của nó (tính chưa hoàn kết) thường xuyên hoá thành một cái hoàn toàn khác, bởi vì cái mới và nhân vật hành động chính yếu của của sự kiện khi bước lên sân khấu của tồn tại trần thế – thì nó là chứng nhân và là sự phán xử <…>. Chân lí, sự thật không phải là thuộc tính của bản thân sự kiện, mà chỉ là thuộc tính của sự kiện được nhận thức và được cách ngôn”[205]. “Ý thức đang tư duy” là bình diện trí tuệ không thể chia tách của sự kiện tồn tại trong tính chân lí, luân lícái đẹp.

Có thể khái quát lại như thế này. Trong nhân vị luận của Bakhtin, “cá nhân” là phạm trù gốc rễ của cả một hệ thống triết học. Nó giống như phạm trù “vật chất” hay “ý thức” trong triết học duy vật và duy tâm truyền thống. Còn “sự kiện”, “tính sự kiện” là “cái cây” sinh thành, là nguyên tắc tạo sinh có ý nghĩa thống soái. “Sự kiện”, “tính sự kiện” luôn luôn tìm thấy bản thân trong các phạm trù cùng – tồn – tại của tư duy, như “đối thoại” (“dialogue”), “giả  trang” (“carnaval”) và “không – thời gian” (“chronotope). Trên nền tảng của những phạm trù như thế, M.Bakhtin xây dựng một lâu đài triết học đồ sộ. Các nhà nghiên cứu khám phá thấy lâu đài ấy có rất nhiều ý nghĩa. Có người tìm thấy ở đó triết học về hành vi, triết học về luân lí. V.V. Kozhinov, nhà Bakhtin học người Nga, tìm thấy trong di sản của Bakhtin “triết học về cá nhân” và “triết học về nhân dân”. Ông gọi Bakhtin là “Người sáng tạo vĩ đại của nền văn hoá Nga thế kỉ XX”. Tz. Todorov, nhà Bakhtin học người Pháp, lại tìm thấy một hệ thống triết học nhân bản được kiến tạo trên nền tảng của những quan hệ liên chủ thế: “tôi” – “anh” – “ta” – “nó”. Ông viết: “Hoàn cảnh đã khiến Bakhtin không thể suy ngẫm đến tận cùng tất cả những gì ông đã linh cảm và nung nấu. Nhưng nghiên cứu kỹ ta sẽ thấy, những vấn đề Bakhtin đã nung nấu  chẳng hề có mâu thuẫn, mà chỉ là sự thể hiện tính đa diện của con người. Cái Tôi rất cần cái Anh gần gũi với nó, cần cả cái Ta trong đó có nó và cũng cần cái Họ mà nó sáng tạo, khắc tạc trong lời nói và trong ý thức của mình. Cùng một lúc Tôi cần cả tình yêu cá nhân, lễ hội tập thể và hoạt động sáng tạo được tiến hành trong trạng thái biệt lập, cô đơn. Dẫu chưa hoàn tất, nhưng  từ trong chiều sâu triết học nhân bản của Bakhtin vẫn thấy âm vang lời kêu gọi: hãy đi theo con đường mà ông, nhà tư tưởng kiệt xuất, đã mở ra”[206].

Vượt ra ngoài lớp nghĩa, giới nghiên cứu tìm thấy trong di sản của Bakhtin “hệ hình tư duy của thời đại mới”. Di sản của ông là nguồn cội của rất nhiều trào lưu tư tưởng, từ chủ nghĩa cấu trúc cho tới hậu cấu trúc, giải cấu trúc, hậu hiện đại. Di sản ấy cũng là nguồn cội của nhiều bộ môn khoa học, như tự sự học, từ chương học hiện đại, tường giải học, kí hiệu họ, và dĩ nhiên, có cả ngữ văn học, lí luận văn học

Có thể tìm thấy cả một hệ thống lí luận văn học được triển khai trong hai chuyên luận lớn nhất của Bakhtin về Dostoevski và Rabelais. Cũng có thể tìm thấy cả một hệ thống quan niệm về nhiều phạm trù lí luận văn học, lí luận nghệ thuật trong một loạt tiểu luận của ông, như Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, Lời trong tiểu thuyết, Hình thức thời gian và chronotope trong tiểu thuyết, Sử thi và tiểu thuyết, Nghệ thuật và trách nhiệm, Tác giả và nhân vật trong hoạt động thẩm mĩ, Tiểu thuyết giáo dục và ý nghĩa của nó trong lịch sử của chủ nghĩa hiện thực, Vấn đề các thể loại lời nói

Có thể nói, thể loại là vấn đề trung tâm trong hệ thống lí luận văn học của Bakhtin. Lí luận thể loại văn học của M. Bakhtin có những điểm mấu chốt sau đây.

Thư nhất. Trước Bakhtin, lí luận văn học chỉ nhắm vào phạm trù “loại”, xem “thể” chẳng qua là “tiểu loại”, nên thường bỏ qua. Trong tất cả các hệ thống lí luận ở Tây Âu, văn học chỉ có 3 loại: tự sự – trữ tình – kịch. Goethe gọi đó là 3 “loại tự nhiên” của nghệ thuật ngôn từ. Bakhtin chỉ chú ý đến “thể”, quan trọng hơn, ông xem “thể” là cái tiêu biểu của “loại”. Trong hệ thống lí thuyết của ông, văn học được chia thành hai loại: văn xuôithơ, văn học tự dovăn học cách luật. “Sử thi” là “thể” tiêu biểu của “thơ”, của văn học cách luật. “Tiểu thuyết” là “thể” tiêu biểu của văn xuôi và văn học tự do.

          Thư hai. Trước Bakhtin, từ Platon, Aristotle đến Hegel, đặc trưng của các loại thể văn học chỉ được xét trong phạm vi khép kín của lời nói nghệ thuật. Cho nên, đó là đối tượng nghiên cứu của thi pháp học. Bakhtin là người đầu tiên nghiên cứu thể của tác phẩm văn học theo cùng một dẫy với các thể loại lời nói. Theo Bakhtin, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động của con người, thì cũng có bấy nhiêu thể loại lời nói. Thể của tác phẩm trước hết là một thể của lời nói như thế.

          Thứ ba. Trước Bakhtin, ngữ văn học chỉ phân biệt “ngôn ngữ” và “lời nói”. Trong hoạt động giao tiếp bằng lời nói có “cái biểu đạt” và cái “được biểu đạt”, có người “phát”, người “thu”. Vì thế, lí luận về thể loại văn học về cơ bản được xây dựng trên cặp phạm trù “chủ thể” và “khách thể”. Hegel phân biệt: “Thơ tự sự là thơ khách quan”. “Thơ trữ tình là thơ chủ quan. Trong thơ trữ tình, chủ thể là nhân tố duy nhất chứa nội dung”. Bakhtin phân biệt “lời nói” và “phát ngôn”. Thể loại lời nói chính là thể loại của những kiểu “phát ngôn”. “Nói” là hành vi giao tiếp thuần tuý. “Phát ngôn” là sự “bày tỏ ý kiến” đầy ắp nội dung tư tưởng. Trong phát ngôn, không có có người “phát”, người “thu” mà chỉ có các chủ thể lời nói. Ở đây cũng không có “cái biểu đạt” và cái “được biểu đạt”, mà chỉ có ý kiến được phát ra và ý kiến hồi đáp. Tức là Lí luận thể loại của Bakhtin được kiến tạo trên nền tảng của phạm trù liên chủ thể. Trong quan niệm của ông, văn xuôi, tiểu thuyết là thể loại lời nói, trong đó các chủ thể phát ngôn đã tách ra thành một quan hệ đối thoại. Còn sử thi, thơ trữ tình, văn học cách luật là thể loại của lời nói độc thoại, vì ở đây các chủ thể phát ngôn không thể tách thành một quan hệ đối thoại.

Thứ tư. Lịch sử văn học là lịch sử dấu tranh lâu dài của hai nguyên tắc thế giới quan, hai hình thức thể loại: đối thoạiđộc thoại, tiểu thuyếtsử thi, để rồi cuối cùng, tiểu thuyết hoàn toàn giành thế ưu thắng. Gắn với cái đương đại chưa hoàn kết, tiểu thuyết mãi mãi là thể loại trẻ. Nó là thể loại tiêu biểu cho kiểu tư duy nghệ thuật hiện đại.

Như đã nói, di sản triết học, mĩ học và lí luận văn học của M. Bakhtin đã đặt nền tảng cho một hệ hình mới của tư duy khoa học.  Trong hệ hình tư duy ấy, các khoa học không tồn tại như những lĩnh vực phân môn , biệt loại. Bản thân lí luận văn học cũng không ngừng mở rộng biên độ để hoá thành khoa học về văn hoá nói chung. Trường phái kí hiệu học Tartu – Moscow chính là hiệp hội khoa học đi tiên phong mở đường đưa nghiên cứu văn học đến với văn hoá học. Những công trình nghiên cứu văn học hậu hiện đại như Chủ nghĩa hậu hiện đại từ gốc rễ đến cuối thế kì: Sự tiến hoá của huyền thoại khoa học (1986) của I.Ilin, hay Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Nga (2000) của Vj.Kurisyn  thực chất là những công trình nghiên cứu đời sống văn hoá của xã hội đương đại.

Thay lời kết luận, chúng tôi xin dẫn ra đây ý kiến của G. Tikhanov nói về “sự biến mất của lí luận văn học” ở thế kỉ XXI để các nhà khoa học cùng suy ngẫm. Ông viết:

“ Sang đầu thế kỉ XXI, có vẻ như mọi người đều dễ dàng thừa nhận sự biến mất của lí luận văn học như một bộ môn khoa học độc lập. Cái khung biên niên theo chiều hướng vận động của lí luận văn học có thể gói vào quãng thời gian giữa cuối thế kỉ XIX và đầu những năm 1990. Sự ra đời của bộ môn khoa học này được đánh dấu băng hoạt động của các nhà hình thức luận Nga, còn điểm kết thúc của nó được đánh dấu bằng cả một giai đoạn chuyển tiếp diễn ra ở Isére vào cuối những năm 1980 – đầu những năm 1900, từ lí luận tiếp nhận và hiện tượng luận của sự đọc đến cái cái mà người ta gọi là “nhân vị luận văn học” và sau đó là cái chết của Lotman vào năm 1993. Con đường khoa học của Lotman là quá trình chuyển dịch tiệm tiến chủ yếu là để đến với kí hiệu học như một thứ lí luận bao trùm về văn hoá, chứ không phải là đến với lí luận văn học, một lí thuyết có ý nghĩa hẹp hơn”[207]

Hà nội, 2007.

1] Gorbasev Mikhail Segeievik (Горбачёв Михаил Сергеевич) – Sinh ngày 2.3.1931, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ 11.3.1985 đến 25.12.1991

[2] М. С. Горбачев Перестройка и новое мышление для нашей страны и для всего мира.  М., Политиздат 1987.

[3] M.X. Goóc – ba – chốp.- Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới (Bản dịch tiếng Việt). Nxb Sự thật – APN, 1988, tr. 22

[4] Khrusov Nikita Sergievik (Хрущёв Никита Сергеевич) – Sinh: 17.4.1894, mất: 11.9.1971. Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ 9.1953 đến 14.10.1964.

[5] Breznev Leonid Ilic (Брежнев Леонид Ильич) – Sinh: 19.12.1906, mất: 10.11.1982. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ 14.10.1964 đến 10.11.1982

[6] Số liệu thống kê dẫn theo: Du Thuý.- Mùa đông và mùa xuân Mátxcơva – Chấm dứt một thời đại (Bản dịch tiếng Việt của Lê Quang Lâm) Nxb Chính trị quốc gia, H., 1995, tr. 21

[7] Andropov Iuri Vladimirovik (Андропов Юрий Владимирович: 1914 – 1984 ) – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ 12 .11.1982 đến 9.2.1984.

[8] M.S. Gorbasev.- Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới. Nxb Sự thật – Nxb APN, H., 1988, tr.32

[9] Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXVII khai mạc ngày 22.2, bế mạc ngày 6.3.1986

[10] Ngày 7.5.1985 Hội đồng Quốc gia Liên Xô ban hành Nghị quyết “Về các biện pháp khắc phục tệ rượu chè say sưa và xoá bỏ nạn nấu rượu lậu”. Ngày 16.5.1985 Chủ tịch Đoàn Xô Viết tối cao Liên Xô ban hành sắc lệnh “Về việc tăng cường đấu tranh chống nạn rượu chè” tạo ra một chiến dịch kéo dài cho đến tận năm 1988.

[11] Xem tư liệu: Cải tổ ở Liên Xô.- Nguồn: http:// http://www.hrono.ru/1984ru.html

[12] Yelsin B.N. (Ельцин, Борис Николаевич): Sinh 1.1.1931, mất 23.4.2007, Tổng thống đầu tiên của Nga từ 10.6.1991 đến 31.12.1998

[13] Hiện nay có thể tìm thấy nhiều tài liệu ghi chép chính xác và rất chi tiết đến từng  ngày, tháng đã diễn ra các sự kiện lớn nhỏ trong suốt quá trình cải tổ từ năm 1981 đến 1991. Chẳng hạn, xin xem: Перестройка в СССР (1981-1991).- Nguồn: http:// http://www.hrono.ru/1984ru.html

[14] Từ khi Trung Quốc và Việt Nam tiến hành “đổi mới”, “cải cách mở cửa”, các nhà nghiên cứu thường cho rằng việc xây dựng nền lí luận văn học dân tộc theo mô hình của Liên Xô là nguyên nhân tạo nên sự yếu kém và tình trạng xơ cứng của nó về sau này. Thực ra không phải như vậy, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa chỉ vay mượn, bắt chước mô hình lí luận chính thống của Liên Xô mà thôi.

[15] Trích theo Golomstok I.N. – Nghệ thuật toàn trị.- M.:Galart, 1984. Tr.16

[16] Xem Tư liệu của ЦК РКП(б) – ВКП(б) ВЧК – ОГПУ – НКВД  về đường lối văn hóa 1917 – 1953 (Tổng biên tập A.N. Jiakovlev).- M.: Quỹ Quốc tế “Dân chủ”, 1999, tr. 53-57

[17] Xem: Golubkov M.M. – Đánh mất sự lựa chọn hay là sự hình thành quan niệm nhất nguyên trong văn học Xô Viết những năm 20 – 30.- M., 1992

[18] Xem: L.P. Egorova, P.K. Tsekalov.- Lịch sử văn học Nga thế kỉ XX. Tác gia Xô Viết cổ điển.– Moskva – Stavrọpl, 1998. Nguồn: http://www.teneta.ru/rus/ee/egorova-lp_chekalov-pk_historia_russkoi_literatury.html

[19] Tên viết tắt bằng tiếng Nga: “ВХУТЕМАС-ВХУТЕИН”. Trường thành lập ngày 25 tháng 12 năm 1920, hoạt động cho đến 1930, có nhiệm vụ đào tạo các hoạ sĩ mĩ thuật công nghiệp.

[20] Xem: Sự vận động của văn học thời Xô Viết. Dữ liệu và chứng thư. Văn tuyển.- M.,1986, tr.30-45 (tiếng Nga)

[21] Về quan điểm tư tưởng – nghệ thuật của chủ nghĩa vị lai Nga, xin xem: Lenin V.I. – Về văn học nghệ thuật, in lần thứ 4, M., 1969; Lunasarski  A.V. – Tuyển tập, t.2, M., 1964, t.7, M., 1967 (tiếng Nga); Сhủ nghĩa vị lai .- Nguồn: http://www.cultinfo.ru/fulltext/1/001/008/117/978.htm

[22] Sự vận động của văn học thời Xô Viết. Dữ liệu và chứng thư. Văn tuyển.- M., 1986, tr.26 (tiếng Nga).

[23] Xem: L.P.Egorova, P.K.Sekalov.- Lịch sử văn học Nga thế kỉ XX. Tác gia Xô Viết cổ điển.– Moskva – Stavrọpl, 1998. Nguồn: http://www.teneta.ru/rus/ee/egorova-lp_chekalov-pk_historia_russkoi_literatury.html

[24] Văn hoá học thế kỉ XX – Bách khoa từ điển, T.2, Nxb St-Peterburg, tr. 185 (Tiếng Nga)

[25] Xây dựng đảng, 1932, Số 9, tr.62 (T ếng Nga). Cũng có thể tìm thấy văn kiện này trong sách: Власть и художественная интеллигенция. Документы ЦК РКП(б) – ВКП (б), ВЧК – ОГПУ – НКВД о культурной политике. 1917-1953. Под ред.А.Н.Яковлева. Cост. А.Н.Артизов, О.В.Наумов. М.: Международный фонд “Демократия”, 1999.

[26] Sự thật, 1.7.1925; Tin tức. B.an Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga (b).1925, số 25-26, tr.8. Nguồn: http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/USSR/1925.htm  1

[27] Xem: – A. Anikst.- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu văn học dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marxisme và chủ nghĩa hình thức.- Trong sách: R. Wellek và O. Warren. – Lí luận văn học.- Nxb “Tiến bộ”, M., 1978, tr.5-29;  – V. Krutous.- Những vấn đề tranh luận của hướng nghiên cứu cấu trúc – kí hiệu học trong nghiên cứu văn học và nghệ thuật học. Trong sách:- Chủ nghĩa cấu trúc: “tán thành” và “phản đối”.– Nxb “Tiến Bộ”, M., 1975, tr. 3-24.

[28] Medvedev P.- B.V. Tomasevski. Lí luận văn hoc (Thi pháp học)// Ngôi sao, 1925, số 3 (9), tr.298.

[29] Xem: I.D.Tamarchenko.- “Thi pháphọc”  của B.V.Tomasevski và số phận của nó.- Trong sách: B.V.Tomasevski.- Lí luận văn học. Thi pháp học.- M., 2003, tr. 5-21. (Tiếng Nga).

[30] K.Markx và F. Engels bàn về nghệ thuật (К Маркс и Ф Энгельс об искусстве).- Nxb “Nghệ thuật”, M.,-L., 1938.

[31] Di sản Lenin và khoa học về văn học.- Nxb Khoa học, chi nhánh Leningrad, L.,1969.

[32] Bài Tổ chức đảng và văn học có tính đảng lần đầu tiên được công bố trên tạp chí Đời sống mới (Новая жизнь), số 12, 13.11.1905, dưới bút danh “N. Lenin”. Để bạn đọc tiện tra cứu, chúng tôi trích dẫn theo bản dịch tiếng Việt: C.Mac – Ph. Ăng-ghen – V.I. Lê-nin.- Về văn học và nghệ thuật, Nxb Sự thật, 1977, tr.305

[33] Có thể tìm thấy trong các thư viện ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây hàng nghìn bài báo, tiểu luận, chuyên luận bàn về tính đảng trong văn nghệ. Trong Lời giới thiệu mở đầu chuyên luận của mình,  A.K. Dremov đã điểm tên, kể ra một danh sách rất dài các tác giả từng có những công trình viết về tính đảng, ví như: Iu. Barabas, A. Busmin, I. Dzeverin, A. Dubrovin, A. Egorov, V. Ivanov, B. Vorobiev, A. Yezuitov, A. Karaganov, G. Kunhisin, M. Lifsis, G. Lomize, Iu. Lukin, D. Markov, A. Metchenko, A. Mjasnhikov, L. Novichenko, M. Ovsjanikov, A. Ovsachenko, S. Petrov, G. Pospelov, B. Suskov, G. Frilender, M. Khrapchenko, I. Serhousan, N. Samot, V.Serbina…Xem: A.K. Dremov.- Tính đảng của văn học và thời đại chúng ta, – Nxb Văn học nghệ thuật, M., 1980, tr. 3-4 (tiếng Nga).

[34] Về vấn đề này, xin xem các bài viết của V.I.Lenin về L.Tolstoi trong sách: C.Mac – Ph. Ăng-ghen – V.I. Lê-nin.- Về văn học và nghệ thuật, Nxb Sự thật, 1977, tr.194-239.

[35] Đại từ điển bách khoa xô viết.- Nguồn: http://www.cultinfo.ru/fulltext/1/001/008/130/alp_388.htm

[36] Đại từ điển Bách khoa Xô Viết. Nguồn: http:// http://www.bse.freecopy.ru/print.php?id=82952

[37]  Zdanov A.A. (Жданов Андрей Александрович): 14.2.1896 – 31.8.1948. Sau Đại hội Đảng lần thứ XVII (1934), ông là Bí thư Ban chấp hành Đảng Cộng sản toàn quốc, kiêm Bí thư Tỉnh uỷ Leningrad

[38] Dẫn theo: Boffa G.- Lịch sử Liên Xô.- T.1, M., 1994, tr. 427

[39] Đại hội các nhà văn Xô Viết toàn quốc lần thứ nhất: Phúc trình tốc kí,- M.,1934,  Tr.716 -718. Nguồn: http://www.his95.narod.ru/doc22/46.htm.

[40] Xem: – L.I. Timofeev.- Nguyên lí lí luận văn học (Bản dịch tiếng Việt của Lê Đình Kỵ, Cao Xuân Hạo, Bùi Khánh Thế, Nguyễn Hải Hà, Minh Hải, Nhữ Thành), Nxb Văn hoá, Viện Văn học, 1962, tr.253-274; – L.V.Sepilova.- Dẫn luận nghiên cứu văn học.- Nxb “Cao đẳng”, M.,1968, tr.350-365 (Tiếng Nga); – Iu. Borev.- Mĩ học.- (In lần thứ 2), Nxb Văn học chính trị, 1975, tr.297-308 (Tiếng Nga); – S.M. Petrov.- Những vấn đề cơ bản của lí luận về chủ nghĩa hiện thực: Hiện thực phê phán và hiện thực xã hội chủ nghĩa.– Nxb “Giáo dục”, M., 1975, tr. 146-285; G.L. Abramovich.- Dẫn luận nghiên cứu văn học (In lần thứ sáu, có sửa chữa, bổ sung).- Nxb “Giáo dục”, M., 1975, tr.316-351 (Tiếng Nga).

[41] Chủ tịch Hội nhà văn Liên Xô: Từ 1977 đến 1986: Georgi Markov (Георгий Марков); từ 1986 đến 1991: Vladimir Karpov (Владимир Карпов).

[42] Vladimir Semyonovik Visoski (Владимир Семёнович Высоцкий): 25.1.1938 – 25.7.1980 – nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, diễn viên, từng phổ nhạc cho hàng trăm bài thơ của mình, sáng tác của ông đụng chạm tới rất nhiều đề tài bị cấm kị thời Xô Viết.

[43] Xem: Cải tổ ở Liên Xô: Ý đồ cải cách kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị.- Nguồn: http:// www. Examens.ru/otvet/6/11/1006.htm1

[44] N.N. Primochkina.- Những chàng Donkihote của chủ nghĩa bolsevisme: Maksim Gorki và nikolai Bukharin// Tư tưởng tự do,- 1993, Số 4, tr. 66 (Tiếng Nga)

[45] Xem: M. Agurski.- Kẻ tà giáo vĩ đại (Gorki như là nhà tư tưởng tôn giáo)// Những vấn đề triết học.- 1991, Số 8, tr.10 (Tiếng Nga)

[46] Nguyên văn: “gorki Gorki” ( “горький Горькийр”). Đây là cách chơi chữ của giới phê bình. Ttrong tiếng Nga, chữ “Gorki” (“горький”) có nghĩa là “cay”, “đắng”.

[47] V. Lemport.- Nghệ sĩ Moskva, 1988, 23.10, tr. 26 (Tiếng Nga)

[48] Xem: O. Zemljakova.- A lô, ai nói đấy, mẹ hả?.- “Nữ công nhân”, 1988, Số 11; Iu. Khanfin.- Môn đồ của ông chủ// Thế kỉ XX và thế giới.- 1990, Số 6; G.S. Seresin.- Từ lịch sử sáng tác của Majakovski: Majakovski và tệ sùng bái cá nhân Stalin// Văn học Nga, 1989, số 2; P. Trukovitin.- Xin phép giới thiệu: Majakovski// Nghệ sĩ Moskva.- 1988, 8, tháng Giêng

[49] Xem: Vissarion Belinski, thời thơ ngây non trẻ của chúng ta, mà cũng là của một nền phê bình chưa trưởng thành. Nguồn: http://solsand.com.

[50] Có thể tìm thấy bài vở về lí luận văn học từ năm 1995 đến nay trên các tạp chí sau đây: Арион, Вестник Европы, ВОЛГА-ХХI век, Дружба Народов, Звезда, Знамя, Иностранная литература, Континент, Нева, Новая Юность, Новый Мир, Октябрь,

Урал, Вопросы литературы, Критическая Масса, Логос, Неприкосновенный запас, НЛО, Отечественные записки, День и ночь, Дети Ра, Зарубежные записки, Зеркало, Иерусалимский журнал, Интерпоэзия, Крещатик, Новый Берег, Сибирские огни, Слово\Word, Студия, Волга, Новая Русская Книга, Новый ЛИК, Старое литературное обозрение, Уральская новь…Nguồn: http://magazines.russ.ru

[51] N.D. Tamarsenko (Chủ biên), V.I. Tiupa, S.N. Broiman.- Lí luận văn học (2 tập).- Academa”, M., 2004 (Tiếng Nga).

[52] V.E. Khalizev.- Lí luận văn học.- “Cao đẳng”, M., 1999 (Tiếng Nga).

[53] Iu. Borev (chủ biên).- Lí luận văn học (4 tập).- IMLI RAN, “Di sản”, M., 2001 (Tiếng Nga)

[54] Xem: N.I. Nikolaev.- Việc xuất bản di sản của M. Bakhtin như  một vấn đề của ngữ văn học.- Dialogue – Crnival – Chronotope.- 1997, Số 4.

[55] Xin xem: Mikhain Mikhailovik Bakhtin (Bản ghi tốc kí bài phát biểu của V. Kozhinov t ại Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva. Nguồn: http://www.pereplet.ru/text/bahtin105.html

[56] Những nét đại quát về cuộc đời và sự nghiệp của M.Bakhtin, xin xem:V.V. Kozhinov- Người sang tạo vĩ đại nền văn hoá Nga thế kỉ XX. Nguồn: http://www.pereplet.ru/misl/kozhinov.html

[57] Xem V.V. Kozhinov.- Tlđd.

[58] V. Markovis.- Về Bakhtin “đích thực” và Bakhtin “thực tế”.- “NLO”, 2006, số 79. Nguồn: http:// magazines.russ.ru/nlo/2006/79/ma2.html

[59] Xem: V,V. Kozhinov.- Người sáng tạo vĩ đại nền văn hoá Nga thế kỉ XX.- Nguồn: http://www.pereplet.ru/misl/kozhinov.html

[60] V.V. Kozhinov.- Tlđd

[61] Xem: V.L, Makhlin.- Bakhtin và phương Tây.- Voprosy literatury, Số 1, 1993

[62] Danh mục các chuyên luận, tập tuyển, những bài báo, chuyên san, tham luận hội thảo dành cho việc nghiên cứu di sản của M. Bakhtin,  có thể tìm thấy ở các nguồn sau đây: Tạp chí

“Dialogue – C arnival – Chronotope”, 1994, tr. 1929 – 1937; V.L. Makhlin.- Di sản Bakhtin trong nghiên cứu văn học nước ngoài hiện đại// Nxb AN SSSR, Série Văn học và Ngôn ngữ, 1986, T. 45, tr. 316 – 329; O.E. Osovski.- Di sản khoa học của M.M. Bakhtin và nhận thức nhân văn của phương Tây hôm nay.- M., 1991; E. Gvozdeva.- Một phần tư thế kỉ qua. Tư liệu mới về F. Rablair và M.M. Bakhtin// Tạp chí “Những vấn đề văn học”, 1991 (tháng 9 & 10), tr. 270-279; V.A. Makhlin.- Bakhtin và phương Tây.- “Những vấn văn học”, 1993, Số 1 & 2, tr. 94 – 111.

[63] Xem: Veselovski, Stepan Borisovis.- Nguồn: http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%92%D0%B5%D1%81%D0%B5%D0%BB%D0%BE%D0%B2%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B9,_%D0%A1%D1%82%D0%.

[64] V.V. Kozhinov.- Người sáng tạo vĩ đại nền văn hó Nga thế kỉ XX.- Tlđd.

[65] V.V. Kozhinov.- Người sáng tạo vĩ đại nền văn hoá thế kỉ XX.- Tlđd

[66] Xem: – A. F austov.- Bàn về khái niệm tác giả trong các công trình của M.M. Bakhtin.- Nguồn: http:// www.philology.ru/literature 1/f austov-86.htm;  N.E. Falikova.- Chronotope như là phạm trù thi pháp lịch sử. Nguồn: http:// www.philolog.ru/filolog/compos.htm; A.P. Bondarev.- Không – thời gian đối thoại: quan điểm đ ứng ngoài hay là độ “dư thừa của trường nhìn.– “Dialogue – Crnival – Chronotope”.- 1997, Số 4.

[67] Xem: A.Ja. Gurevis.-  Các phạm trù văn hóa trung đại.- M., 1972, tr.48 – 166 (Tiếng Nga.- Trong chuyên luận này, “Chronotope” được Gurevis sử dụng như một phạm trù triết học); T. V. Kotovis.- Carnaval như một nguyên tắc tư duy nghệ thuật thời đại B aroccko ở Bạch Nga.-“Dialogue – C arnavil – Chronotope”,  1996, S ố 2; E.A. Demsenkova.- Thời gian trong tiểu thuyết “Thời niên thiếu” của F.M. Dostoevski.– Nguồn: http://www.lib.csu.ru/vch/2/1999_02/009.pdf; A.S. Kotljarsuk.- Quan niệm của Bakhtin và việc nghiên cứu văn hoá dân gian của người Bạch Nga (Dựa trên tư liệu thế kỉ XVI – XVII) Nguồn.- “Dialogue – Carnival – Chronotope”, 1998, S ố 3; A. Galkin.- Không gian và thời gian trong các tác phẩm của F.M. Dostoevski. – “Những vấn đề văn học”, 1996, s ố 1.

[68] M.L. Gasparov.- M.M. Bakhtin trong nền văn hoá Nga thế kỉ XX.- Trong sách: M.L. Gasparov.- Tác phẩm chọn lọc, T.2;  M; Nxb “Các ngôn ngữ văn hoá Nga”, M., 1997, tr.494 – 496  (tiếng Nga).

[69]  M.L. Gasparov.- Lịch sử văn học như là sự sáng tác và nghiên cứu: Trường hợp Bakhtin// Trong sách: Kỉ yếu hội thảo khoa học 10 -11 tháng 11 năm 2004. Nxb MGU, M., 2004, tr. 8-10 (Tiếng Nga. Có thể đọc bản dịch tiếng Việt của La Khắc hoà: “Nghiên cứu văn học”, 12 – 2005, tr. 91 – 100)

[70] V.v. Kozhinov.- Người sáng tạo vĩ đại nền văn hoá thế kỉ XX.- Tlđd.

[71] Năm 1995, ngoài Hội thảo quốc tế tổ chức tại Moskva, còn có 3 Hội thảo lớn về Bakhtin: Hội thảo tổ chức tại Đại học Tổng hợp Nhân văn Quốc gia Nga (RGGU), ngày 2 – 3 tháng 7;  Hội thảo của các trường Đại học và Cao đẳng toàn Nga, tổ chức tại Rostov – na – Donu, ngày 27, tháng 9 và Hội thảo tổ chức tại Đại học Tổng hợp Northfield, bang Vermónt của Mĩ, từ ngày 30 tháng 6 đến 2 tháng 7.

[72] N.K. Boneskaja.- Hội thảo quốc tế về Bakhtin lần thứ VII.- “Dialogue. C arnival. Chronotope”, 1995, S ố 3, tr.138

[73] A. Bolsakova.- Bakhtin cuối thế kỉ XX (Nhận xét về Hội thảo Bakhtin lần thứ VII). “Dialogue. Carnival. Chronotope”, 1995, Số 3, tr.135-136.

[74] S.N. Bulgakov (1871-1944): Nhà kinh tế học, triết học, thần học người Nga. Vào những năm 90 thế kỉ XIX, ông là người “Marxiste”. Đến 1903, ông từ bỏ chủ nghĩa Marxisme đến với chủ nghĩa duy tâm. Từ 1906, ông lại từ bỏ triết học duy tâm đến với quan điểm của chủ nghĩa thần bí tôn giáo.

[75] V.V. Rozanov (1856 – 1919): Nhà triết học, nhà chính luận và phê bình văn học. Quan điểm triết học, giáo dục và mĩ học của ông bị phê phán gay gắt từ hai phía: phía Marxiste và phía giới trí thức tụ do. Ông đã chết trong nghèo đói.

[76] N.Ja. Danilevski (1822 – 1885):Nhà chính luận, nhà xã hội học, vạn vật học, được liệt vào hàng “những bộ óc Nga có tư tưởng độc đáo nhất”.

[77] Nhà tư tưởng lớn nhất của thế kỉ XX.- Nguồn: http:// http://www.hrono.ru/biograf/bahtin.html

P.A. Olkhov.- M.M. Bakhtin và những vấn đề triết học của khoa học lịch sử.- Trong: The Seventh International Bakhtin conferece: (26 -30 june 1995, Moscow) –Phần I, M.,1995, tr. 70-72.

[79] S.S. Konkin.- M. Bakhtin và nghiên cứu văn học Nga.- Trong sách: M.M. Bakhtin và tư duy nhân văn học trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI.- Phần I, Saansk, 1995, tr.32-34.

[80] N.G. Jazikova.- Hướng tiếp cận phong cách trong việc chiếm lĩnh văn hoá âm nhạc như là con đường phát triển những nguyên tắc tư duy đối thoại của người giáo viên tương lai.- Trong The Seventh International Bakhtin conferece: (26 -30 june 1995, Moscow) – Book II, M.,1995, p.181 -183

[81] L.S. Dmitrieva.- Những vấn đề văn hoá lễ hội trong các công trình của M.M. Bakhtin.– Trong: Bakhtin học: Các công trình  nghiên cứu , văn bản dịch, bài báo.- Kỉ niệm 100 năm ngày sinh M.M. Bakhtin (1895-1995), SPb., 1995,  tr. 27-31; N.I. Enaleev.- Phê bình xã hội và đối thoại văn hoá.- Trong sách: M.M. Bakhtin và tư duy nhân văn học trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI.- Phần II, Saansk, 1995, tr.47 – 51; P.N. Kijasenko; N.I. Kijasenko.- M.M. Bakhtin và văn hoá học hiện đại.- Trong: M.M. Bakhtin và tư duy nhân văn học trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI.- Phần II, Saansk, 1995     tr. 63-66.

[82] Hội thảo khoa học tổ chức tại Đại học Nhân văn Quốc gia Nga vào ngày 2-3 tháng 7 năm 1995 có tiêu đề “Những vấn đề thi pháp lí thuyết và thi pháp lịch sử trong các công trình của M.M. bakhtin”.

[83] Xem: V.I. Chiupa.- Trần thuật học – khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật. Nguồn:http:// ww.gumfak.ru/t eoriya_lit er.shtml

[84] R. Lakhmann.- Từ chương học và tính đối thoại trong tư duy của Bakhtin.- Trong: The Seventh International Bakhtin conferece: (26 -30 june 1995, Moscow) –Book II, M.,1995, p. 361-366.

[85] N.K. Boneskaja.- M. Bakhtin và những tư tưởng thông diễn học.- Trong: Bakhtin học: Các công trình  nghiên cứu , v ăn bản dịch, bài báo.- Kỉ niệm 100 năm ngày sinh M.M. Bakhtin (1895-1995), SPb., 1995,  tr. 32-42; A.I. Karagodin.- Bakhtin – nhà thông diễn học Nga kiệt xuất.– Trong sách: M.M. Bakhtin và tư duy nhân văn học trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI.- Phần I, Saansk, 1995, tr. 96-99.

[86] V.V. Ivanov.- Ý nghĩa của những tư tưởng của M.M. Bakhtin về kí hiệu, phát ngôn, đối thoại đối với kí hiệu học hiện đại.- Trong: Các công trình nghiên cứu về hệ thống kí hiệu.- Quyển II (Ghi chép học đường Đại học Tổng hợp Tartu), 1973, tr.5-44.

[87] Xem: P.Grzybek.- Kí hiệu học của Bakhtin và trường phái Moskva- tartu.- Nguồn: http:// http://www.ruthenia.ru/lotman/txt/grzybek95html.

[88] V. Kurilov.- Di huấn khoa học của M.M. bakhtin và những vấn đề siêu ngữ văn học.- Trong: M.M. Bakhtin và những vấn đề tri thức nhân văn học hiện đại: Kỉ yếu Hội thảo khao học của các trường Đại học …, Rostov – na – Donu, 1975, tr. 6.

[89] V.M. Borodis.- Bakhtin v à triết học tôn giáo Nga.- Trong: The Seventh International Bakhtin conferece: (26 -30 june 1995, Moscow) –Book II, M.,1995, p. 83; T.Iu. Krilova.- Vấn đề về mối quan hệ giữa thế giới quan carnival và thế giới quan Cơ Đốc.– Trong: M.M. Bakhtin và tư duy nhân văn học trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI.- Phần I, Saansk, 1995, Tr. 169-170; Iu.B. Melikh.- M.M. Bakhtin – Những đường song hành dẫn tới triết học tôn giáo L.P. Karsavin.-  The Seventh International Bakhtin conferece: (26 -30 june 1995, Moscow) –Book I, M.,1995, p.165-168.

[90] O.E. Osovski.- Về sự đồng nhất khả nhiên cái khác biệt: Di sản của M.M. bakhtin và phê bình giải cấu trúc.- “Dialogue. Carnival. Chronotope, 1998, Số 3.

[91] A.G. Zarubin.- M.M. Bakhtin và chủ nghĩa hiện sinh: Vấn đề thời gian.- Trong: M.M. Bakhtin và tư duy nhân văn học trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI.- Phần II, Saansk, 1995, tr. 57 – 60.

[92] O.A. Dzumailo.- Di sản của M.M.Bakhtin và phương pháp luận nghiên cứu văn học hậu hiện đại.- Trong: M.M. Bakhtin và những vấn đề tri thức nhân văn học hiện đại: Kỉ yếu Hội thảo khao học của các trường Đại học …, Rostov – na – Donu, 1975, tr.10-12.

[93] V.L. Makhlin.- Bakhtin và phương Tây.- “Những vấn đề văn học”, 1993, số 3.

[94] A.P. Bondarev. M.M. Bakhtin và J.P.Sartre – Hai dik bản của triết học nhân bản.- Trong: M.M. Bakhtin và tư duy nhân văn học trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI.- Phần I, Saansk, 1995, Tr. 75 – 77.

[95] B. Kennedy.- Bakhtin “của chúng tôi” chống lại Bakhtin “của các ngài”: Liệu có phải chiến tranh lạnh ngay trong nội quan.- “Dialogue. Carnavil. Chronotope, 1995, Số 3, tr. 164 – 177.

[96] K. Emerson.- Bakhtin mới ở nước Nga của các ngài và ở nước Mĩ của chúng tôi.- Trong: The Seventh International Bakhtin conferece: (26 -30 june 1995, Moscow) –Book II, M.,1995, p. 324 – 328.

[97] D.A. Olsanski.- Nguyên tắc đối thoại của Mikhail Bakhtin như là sự phản ánh của hệ hình nhận thức luận của tư tưởng Nga và những vấn đề ngôn ngữ học của triết học phi cổ điển.– Nguồn: http:// http://www.eunnet.net/sofia/01-2000/text/0110.html

[98] Romano Guardini (1885-1968): Nhà triết học Đức và nhà thần học Cơ Đốc có nguồn gốc từ Ý. Tác phẩm Điểm tận cùng của thời đại Mới xuất bản năm 1950, bản dịch tiếng Nga in trên tạp chí “Những vấn đề triết học”, 1990, Số 4, tr. 127 – 163.

[99] Theo Bản tốc kí buổi bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học của V.L. Makhlin.- “Dialogue. Carnavil. Chronotope”, 1998, Số 2, tr. 139.

[100] N.K. Boneskaja.- Hội thảo Bakhtin lần thứ VII.- “Dialogue. Carnival. Chronotope”, 1995, Số 3, tr. 138; A. Bolsakova.- Bakhtin cuối thế kỉ XX.- “Dialogue. Carnival.- Chronotope”, 1995, Số 3, tr.134-137.

[101] A.B. Grigoriev.- Về một sự mở đầu có thể của phép biện chứng ngoài Hegel theo M.M. Bakhtin.- Trong: M.M. Bakhtin và thực tiễn nhân văn học hiện đại.- Krasnojask, 1995, Tr. 25-26

[102] V.I. Chiupa.- Bakhtin như là hệ hình tư duy.- Nguồn: http:// http://www.metlitnm.ru/materials/communic/bkakpar.html

[103] Dẫn theo: V. Kozhinov.- Người sáng tạo vĩ đại nền văn hoá thế kỉ XX.- Nguồn: http://www.pereplet.ru/misl/kozhinov.html

[104] V.V. Kozhinov.- Người sáng tạo vĩ đại nền văn hó Nga thế kỉ XX.- Nguồn: Tlđd.

[105] Xem: Văn hoá học thế kỉ XX- Bách khoa từ điển.- SPb, 1998.

[106] Xem: A.G. Sperkin.- Cơ sở triết học.- M., 1998.

[107] A. Belyi (1880 – 1934): Nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nhà lí luận thơ, nhà hoạt động xuất sắc của chủ nghĩa tượng trưng Nga.

[108] S.A. Vengerov (1855 – 1920): Nhà phê bình, nhà nghiên cứu lịch sử văn học

[109] Baudouin de Courtenav (1845 – 1929): Nhà ngôn ngữ học, đại diện xuất sắc của ngành ngôn ngữ học so sánh – lịch sử phổ quát và Slavo, người sáng lập Trường phái ngôn ngữ học Peterburg.

[110] Dẫn theo Vadim Rudnhev: Trường phái hình thức.- Nguồn: http:// www. Bestreferat.ru/referat-72931.html.

[111] M.I. Sapir.- R.O. Jakobson. Câu lạc bộ ngôn ngữ Moscow.- Tlđd.

[112] Về quá trình thành lập “MLK”, có thể xem: M.I. Sair.-  R.O. Jakobson. Câu lạc bộ ngôn ngữ Moscow.– Nguồn:  http://www.rvb.ru/philologica/03/03jakobson.htm.

[113] Xem: Iu.N. Tynhianov.- Thi pháp. Lịch sử văn học. Điện ảnh.- M., 1977, tr. 504;

  1. Ghinzburg.- Về cái cũ và cái mới.- M., 1982, tr. 52.

[114] Dẫn theo: I. Sironhin:- OPỌAZ.- Nguồn: http://www.opojaz.ru/main/aboutopojaz.html

[115] Nguồn:http://www.cultinfo.ru/fulltext/1/001/008/084/623.htm.

[116] Từ điển Bách khoa Văn học.- Nxb. “Bách khoa Xô Viết”, M., 1987.

[117] Từ điển Bách khoa Ngôn ngữ học.- Nxb “Bách khoa Xô Viết”, M., 1990

[118] Xem: Iu.N. Tynhianov.- Thi pháp. Lịch sử văn học. Điện ảnh.- Tlđd, tr. 504.

[119] V.B. Shklovski.- Về lí thuyết văn xuôi.- Nxb “Nhà văn Xô Viết”, M., 1984.

[120] Danh sách thành viên của “MLK”, có thể xem: Viện Ngôn ngữ Nga. Ngữ văn học (ИРЯ.Ф), số 20. Hoặc xem: M.I. Sapir.- R.O. Jakobson. Câu lạc bộ ngôn ngữ Moscow.- Nguồn:  http://www.rvb.ru/philologica/03/03jakobson.htm.

[121] Lưu trữ hiện còn giữ được hai bản danh sách thành viên của OPOJAZ được đăng kí chính thức vào thời kì đầu của Chính quyền Xô Viết. Ở trên là bản danh sách thứ hai. Bản danh sách thứ nhất được công bố trên báo Đời sống nghệ thuật số 273, ngày 21 tháng 10 năm 1919, theo đó, OPOJAZ chỉ có 10 thành viên: S.I. Bernstein, A.L. Veksler, B.A. Larin, V. Pjast, E.G. Polonskaja, A.I. Piotrovski, M.L. Slonhimski, B.M. Eikhenbaum, Vl.B. Sklovski, L.P. Jakubinski. Xem:I. Sironhin.- OPOJAZ.- Nguồn: http://www.opojaz.ru/main/aboutopojaz.html

[122] Dẫn theo: Denis Ustinov.- Chủ nghĩa hình thức và phái hình thức trẻ.- “NLO”, 2001, Số 50. Nguồn: http://philologos.narod.ru/eichenbaum/mladoform.htm

[123] Tuyên ngôn của OPOJAZ. Nguồn:http://www.opojaz.ru/manifests/index.html

[124] Dẫn theo: L. Ghinzbur.- Thử nghiệm thực hành.- Riga, 1991; Tr. 146

[125] Xem: Igor Sironhin.- Lời mở đầu.- Trong: Lev Trotzki.- Trường phái hình thức của thơ và chủ nghĩa Mác (Trích “Văn học và cách mạng”, 1923).- Nguồn: http:// www. Opojaz.ru/index.html.

[126] Lev Trotzki.- Trường phái hình thức của thi ca và chủ nghĩa Mác. – Trong sách Văn học và cách mạng.- M., 1924,  tr.130 – 145. Cũng có thể tìm thấy bài viết trên Website OPOJAZ – Dữ liệu – Văn liệu – Bản in , nguồn: http://www. Opojaz.ru/index.html. Chúng tôi trích dẫn theo nguồn tài liệu này.

[127] Xem: Bách khoa văn học.- T.7; M., 1934, Stb. 163 -190.

[128] Xem: Tư liệu về cuộc tranh luận: “Chủ nghĩa Mác và phương pháp hình thức”.- NLO, số 50, năm 2001. Nguồn: http://magazines.russ.ru/nlo/2001/50/disp.html.

[129] Xem: Tư liệu về cuộc  tranh luận: “Chủ nghĩa Mác và phương pháp hình thức”.- NLO, số 50, năm 2001. Nguồn: http://magazines.russ.ru/nlo/2001/50/disp.html.

[129] “Vụ Dreyfus” là vụ án buộc tội viên sĩ quan người Do Thái là A. Dreyfus (1859 -1935) thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Pháp làm gián điệp cho Đức xẩy ra vào năm 1894. Đó là vụ án được giới quân sự phản động chóp bu bịa ra trong cuộc đấu tranh chính trị tàn khốc ở Pháp vào những năm 90 của thế kỉ XIX. Nhắc tới vụ án này, Eikhenbaum muốn ám chỉ “vụ Trường phái hình thức” ở Liên Xô thời ấy.

[130] Xem: Tư liệu về cuộc tranh luận: “Chủ nghĩa Mác và phương pháp hình thức”.- Tlđd

[131] Xem: M.L. Gasparov.- M.M. Bakhtin trong nền văn hoá Nga thế kỉ XX.- Trong sách: M.L. Gasparov.- Tác phẩm chọn lọc, T.2;  M; Nxb “Các ngôn ngữ văn hoá Nga”, M., 1997, tr.494 – 496  (tiếng Nga)

[132] Xem: Galin Tikhanov.- Nhận xét về cuộc tranh luận giữa các nhà hình thức luận và phái Mác xít năm 1927.- “NLO”, 2001, Số 50.

[133] Xem: B. Paramonov.- Chủ nghĩa hình thức: Phương pháp hay thế giới quan.- “NLO”, 1995, Số 14.

[134] Xem: A. Dmitriev, Jan Levtzenko.- Khoa học như là thủ pháp: Bàn thêm về di sản phương pháp luận của chủ nghĩa hình thức Nga. Chủ nghĩa hình thức trong viễn cảnh lí luận khoa học.– “NLO”, 2001, Số 50.

[135] Xem:OPOJAZ – Dữ liệu – Văn liệu – Bản in. Nguồn: http://www. Opojaz.ru/index.html.

[136] Xem: “POETICA”. Nguồn: http://philologos.narod.ru/index.html

[137] Xem: O.M. Freidenberg.- Thi pháp cốt truyện và thể loại.- “Labirint”.M., 1997

[138] Xin xem: Văn hoá học thế kỉ XX.- Bách khoa từ điển, T. 2, “Sách tổng hợp”, St-Peterburg, 1998, tr. 315

[139] Xem: Gennadi Nhikolaevich Pospelov (1899-1992) – Danh mục công trình đã xuất bản// Trong sách: Tư tưởng sống động: Tiến tới  kỉ niệm 100 ngày sinh G.N. Popelov.-  Nxb “MGU”, M., 1999, tr. 325-336.

[140] Xem: Trường phái Tartu-Moscow. Lịch sử toát yếu.- Nguồn: http:// http://www.zone. ee/run/TMS/htm

[141] B.F. Egorov.- Cá nhân và sáng tác của Iu.M. Lotman.- Bài giới thiệu sách: Lotman Iu.M..- Puskin: Tiểu sử nhà văn; Bài báo và bình luận, 1960 – 1990; “Evgheni Oneghin”. Bình chú.- SPb., 1995.

[142] Xem: B.A. Uspenski.- Bàn về vấn đề nguồn gốc trường phái Tartu – Moscow// Trong sách: Iu.M. Lotman và trường phái kí hiệu học Tartu – Moscow.- “Giozis”, M., 1994, Tr. 270 – 275

[143] Xem: Những công trình về hệ thống kí hiệu.- Nguồn: http:// http://www.zone. ee/run/Trudy.htm

[144] Xem: Iuri Mikhailovich Lotman. Bảng tra cứu thư mục công trình in bằng tiếng Nga. Nguồn: http://vivovoco.rsl.ru/VV/PAPERS/LITRA/LOTMAN_0.HTM

[145] V.F Pereverzev (1882-1968): Nhà lí luận văn học tài năng, tác giả của những chuyên luận nổi tiếng về Gogol, Dostoevski, Gonsarov. Ông là người hướng dẫn khoa học của Pospelov, khi Pospelov viết luận án Phó Tiến sĩ

[146] Xem: L.V. Tzernes.- Gennadi Nicolaevich Pospelov (1899-1992). Tiểu sử tóm tắt.- Nguồn: http://www.philol.msu.ru/~tlit/zhm/2ch1.htm

[147] V. Novikov.- Ý kiến đặc biệt của Giáo sư G.N. Pospelov.- “Báo văn học”, 1947, 15 tháng 10

[148] Dẫn theo: L.V. Tzernes.- Tlđd.

[149] Xem:Trường phái Tartu-Moscow. Lịch sử giản yếu.- Nguồn: http:// http://www.zone. ee/run/TMS.htm

[150] B.F. Egorov.- Cá nhân và sáng tác của Iu.M. Lotman.- Tl đd.

[151] B.F. Egorov.- Cá nhân và sáng tác của Iu.M. Lotman.- Tl đd.

[152] Xem: Văn hoá học thế kỉ XX. Bách khoa từ điển.- “Sách Tổng hợp”, St-P, 1998.  T.2, tr. 246 – 247

[153] Xem: N.D. Tamarchenko (Chủ biên).- Lí luận văn học (hai tập).- “Academa”, M., 2004. T.1, tr.16-104.

[154] Chủ nghĩa cấu trúc. Trong: Bách khoa Xô Viết đại từ điển.- Tlđd

[155] Vadim Rudnhev.- Trường phái hình thức.- Nguồn: http:// http://www.bestreferat.ru/referat-72931.html

[156] Xem: V.I. Tiupa.- Đại cương trần thuật học hiện đại.- “Phê bình và kí hiệu học”, 2002, Quyển 5, Tr. 5-31.

[157] Xem: Boris Gasparov.- Trong những cuộc tìm kiếm “cái khác” (Kí hiệu học Pháp và Phương Đông ở cột mốc của những năm 70).- ”NLO”, 1996, Số 14.

[158] Bức tranh toàn cảnh của nghiên cứu văn học và phê bình văn học tư sản hiện đạiBách khoa từ điển.- “INIOH AN SSSR”, M., 1974.

[159] Xem: Mĩ học Mac – Lenin. Văn tuyển.- Nxb “Cao đẳng”, Minsk, 1975

[160] Thời gian được ghi sau mỗi tác phẩm của R. Barthes, J. Kristeva, Tz. Todorov, A. Greimas, C. Bremond, J. Derrida, C. Lévi-Strauss đều là ghi chú về thời gian dịch ra tiếng Nga.

[161] Website cá nhân của G. Kosikov: http://www.libfl.ru/mimesis/index.html

[162] Về tình hình dịch thuật và xuất bản tác phẩm của các học phái Âu – Mĩ có thể tra cứu theo: Nghiên cứu văn học Tây Âu thế kỉ XX. Bách khoa từ điển.- “Intrada”, M., 2004

[163] N.T. Nhefedov.- Lịch sử phê bình và nghiên cứu văn học nước ngoài.- “Cao đẳng”, M., 1988.

[164] D.F. Zaghidullina.- Lịch sử các học thuyết nghiên cứu văn học.– “Đại học Tổng hợp Kazan”, 2007.

[165] G.K. Kosikov.- Lịch sử phê bình và nghiên cứu văn học nước ngoài.- Nxb “MGU”, M., 2001.

[166] I.P. Ilin.- Chủ nghĩa hậu hiện đại từ nguồn cội đến cuối thiên niên kỉ: Sự tiến hoá của huyền thoại khoa học.- “Intrada”, M., 1998

[167] I.P. Ilin.- Hậu cấu trúc. Giải cấu trúc. Hậu hiện đại.- “Intrada”, M., 1996

[168] Ilia Ilin.- Chủ nghĩa hậu hiện đại – Từ điển các thuật ngữ.- “Intrida – INION RAN”, M., 2001

[169] Nghiên cứu văn học nước ngoài hiện đại (các nước Tây Âu và Mĩ): quan niệm, trường phái, thuật ngữ.- Bách khoa rta cứu từ điển.- “Intrada – INION”, M.,1996, Tr. 3.

[170] Xem: Nghiên cứu văn học phương Tây thế kỉ XX.- Bách khoa từ điển.- “Intrada”, M., 2004

[171] Tzvetan Todorov.- Vắng các thiên thần ta chịu được, nhưng thiếu những người khác, mình không sống nổi đâu.- “Những vấn đề văn học”, 2006, số 1 (Xem bản dịch tiếng Việt của Lã Nguyên trên “Văn học nước ngoài”, 2007, số 3, tr. 162.

[172] Xem: Phê bình hồi hương (Nga hải ngoại).- Trong sách: S.I. Kormilov, E.B. Skorospelova.- Phê bình văn học thế kỉ XX (Sau 1917).- M., 1996. Nguồn: http://kritika.nm.ru/kurs/metodicka.html

[173] Xem: S.I. Kormilov, E.B. Skorospelova.- Phê bình văn học thế kỉ XX (Sau 1917).- Tlđd

[174] Số liệu thống kê dẫn theo: Tatijana Skrjabina.- Làn sóng di tản thứ ba (1960 – 1980).- “Drugieberega”, 2004, Số 4, tháng 8. Nguồn: http://drugieberega.com/authors/TS

[175] N.A. Struve.- Chính thống giáo và văn hoá.- in lần đầu, 1992, lần thứ hai, 2000, Nxb “Russki Put”

[176] Xem: Halin Tikhanov.- Mấy nhận xét về cuộc tranh luận của các nhà hình thức luận và phái Mác xít vào năm 1927 (Dịch từ tiếng Anh. Bản dịch tiếng Nga của M. Pojakova).- “NLO”, 2001, Số 50. Nguồn: http://magazines.russ.ru/nlo/2001/tihan.html

[177] B.V.Tomasevski.- Lí luận văn học. Thi pháp học.- “Aspent Press”, M., 2003, Tr. 22, 25

[178] V.B. Shklovski.- Nghệ thuật như là thủ pháp// Trong: V.B. Shklovsi.- Về lí thuyết văn xuôi.– M., 1983, Tr. 20.

[179] B.M. Eikhenbaum.- Giọng điệu câu thơ trữ tình Nga.- “OPOJAZ”, Pb. 1922.

[180] Xem: Iu.N. Tynhianov.- Vấn đề ngôn ngữ thơ.- “Academia”, L., 1924.

[181] Xem chương Cuốn tiểu thuyết của những điều bí mật// Trong sách: V.B.Shklovski.- Về lí luận văn xuôi.- Tllđd

[182] Xem: M.L. Gasparov.- “Trên đầu tôi lại những đám mây đen…”. Phương pháp phân tích// Trong: M.L. Gasparov.- Về thơ Nga: Phân tích. Giải thích. Nhận xét.- M., 2001, Tr. 11-26. Hoặc M.L. Gasparov.- Bài thơ “Trên đầu tôi là những đám mây đen…”.Phương pháp phân tích (Bản dịch tiếng Việt của La khắc Hoà).- “Nghiên cứu văn học”, số 11- 2007, Tr. 63-78.

[183] A.P.Tsudakov.- Thi pháp Tsekhov.- “Nauka”, M., 1971

[184] S.G.Bosarov.- Thi pháp Puskin.- “Nauka”, M., 1974

[185] Vl.A.Kovalev.- Thi pháp Lion Tolstoi.- “MGU”, M., 1983

[186] G.M. Fridlender.- Thi pháp chủ nghĩa hiện thực Nga.- “Nauka”, L.,1971

[187] A.S.Likhasev.- Thi pháp văn học Nga cổ (In lần thứ 2) .- “Văn học nghệ thuật”, L., 1971

[188] Xem: Lidia Ghinburg.- Về trữ tình.- “Nhà văn Xô viết”, L.,1974; Lidia Ghinburg.- Về văn xuôi tâm lí.– “Văn học nghệ thuật”, L., 1977

[189] S.S.Aveinsev, M.L.Andreev, M.L.Gaparov, P.A.Grinser, A.N.Mikhailov.- Các phạm trù thi pháp trong sự thay đổi của các thời đại văn học// Trong: Thi pháp lịch sử (Các thời đại văn học và các loại hình ý thức nghệ thuật).- “Di sản”, M., 1994, Tr. 2-38

[190] M.L.Gasparov.- Lotman và chủ nghĩa Mác.- Tham luận Hội thảo “Đọc Lotman lần thứ III”.- RGGU, 12/1995. Nguồn: http://vivovoco.rsl.ru/VV/PAPERS/LOTMAN/_GASPAROV_3.HTM

[191] M.L.Gasparov.- Iu.M.Lotman: Khoa học và tư tưởng hệ.//Trong: M.L.Gasparov.- Tác phẩm tuyển chọn, T.2, M.,1977, Tr. 485-493.

[192] V.F.Pereverzev.- Gogol. Dostoevski. Công trình nghiên cứu.- M., 1982. Tr. 63.

[193] V,F. Pereverzev.- Tlđd.- Tr. 45.

[194] V.F.Pereverzev.- Tlđd.- Tr. 243

[195] V.F.Pereverzev.- Tlđd.- Tr.383

[196] V.F.Pereverzev.- Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa Oblomov.- “Ấn loát và cách mạng”, 1925, Quyển 2, tr. 61

[197] P.A.Nhikolaev.- Những tìm kiếm phương pháp luận ở những năm 20// Trong: P.A.Nhikolaev.- Nghiên cứu văn học Xô viết và tiến trình văn học hiện đại.- M., 1987, tr. 18.

[198] L.V.Tzernes.- Gennadi Nhikolaevik Pospelov (1899 – 1992)// Trong sách: Tư tưởng sống động: Tiến tới  kỉ niệm 100 ngày sinh G.N. Popelov.-  Nxb “MGU”, M., 1999. Nguồn: http://www.philol.msu.ru/~tlit/zhm/zhm.htm

[199] G.N.Pospelov.- Những vấn đề phát triển của lịch sử văn học.- “Giáo dục”, M., 1971,Tr.63-151

[200] G.N.Pospelov.- Tlđd.- Tr. 152-252

[201] Xem: G.K.Kosikov.- Bàn về lí luận tiểu thuyết. (tiểu thuyết trung đại và tiểu thuyết hiện đại).– “Dialogue. Karnavil. Chrronotope”, 1993, Sô1 (2), Tr.21-51.

[202] Xem: V.E.Khalozev.- Lí luận văn học.- “Cao đẳng”, M., 1999

[203] Về vấn đề này, xin xem: V.I.Tyupa.- Bakhtin như một hệ hình tư duy.- “Diễn ngôn”, Đại học Tổng hợp Quốc gia Novosibirsk, 1996, Số 1.

[204] Trong tiếng Nga, chữ “событие” (“sự kiện”) là sự kết hợp của hai thành tố: “со” ( “cùng”) và “бытие” (“tồn tại”).

[205] M.Bakhtin.- Mĩ học sáng tạo ngôn từ.- M., 1979, Tr. 341-342

[206] T.Todorov.- Di sản Bakhtin (Bản dịch tiếng Việt của la khắc Hoà).- “Nghiên cứu văn học”, 7/2006, Tr. 62.

[207] Galin Tikhanov.- Mấy nhận xét về cuộc tranh luận giữa các nhà hình thức luận và cánh Mac xit vào năm 1927.- “NLO”, 2001. Số 50. Nguồn: http:magazines.russ.ru/nlo/2001/tihan.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: