ÉKPHRASIS

(Chữ Ékphrasis bắt nguồn từ một động từ tiếng Hy Lạp cổ, có ngĩa là “phát ngôn”, “biểu hiện”. Trong nghệ thuật học, Ékphrasis là một thủ pháp mà bản chất của nó là mô tả một tác phẩm nghệ thuật tạo hình hoặc một công trình kiến trúc bằng văn bản ngôn từ; trong văn hóa, theo nghĩa rộng, nó là sự tái hiện một loại hình nghệ thuật bằng một loại hình nghệ thuật khác. Đây là một phạm trù quan trọng của tu từ học Hy Lạp cổ đại. Nó quan trọng tới mức, người ta đã tách nó thành một thể loại văn học độc lập. Một trong những văn bản Ékphrasis sớm nhất là luận văn nổi tiếng Những bức tranh của Philostratus (170 – 247). Trong phần dẫn luận, tác giả nói rằng ông muốn nói về “những tác phẩm hội họa mà ông từng đàm đạo từ thời trẻ” với mục đích “cắt nghĩa những bức tranh ấy” để giải đáp các câu hỏi về luân lí, hướng tới chấn hưng phong hóa. Kĩ thuật Ékphrasis có thể đơn giản, mà cũng có thể phức tạp, thủ pháp của nó có thể được “thực hiện” theo những phong cách và thể loại khác nhau. Trong thực tiễn sáng tạo, Ékphrasis là cách để luyện tập nghệ thuật hùng biện và kết cấu, đồng thời nó là kết quả suy ngẫm kinh nghiệm thẩm mĩ dẫn tới kiến tạo nền tảng luân lí của mĩ học. Tiềm năng phân tích của Ékphrasis mời gọi cả giới sáng tác lẫn giới phê bình đào sâu suy ngẫm, bổ sung, cắt nghĩa những xúc động tình cảm và xúc động thẩm mĩ, khiến thủ pháp này được phổ biến rộng rãi trong văn học và các loại hình nghệ thuật khác ở những thời đại sau. Vị thế “giáp ranh” của Ékphrasis một mặt cho phép nó mở rộng phạm vi các vấn đề được khơi gợi bởi một hình tượng nghệ thuật nào đó, mặt khác, nó tạo ra khả năng giải đáp những câu hỏi “đa nghĩa” yêu cầu nhìn nhận từ phía “bên ngoài”. Dĩ nhiên, Ékphrasis chứa đựng cả những thông tin về thế giới quan, về bản chất văn hóa, xã hội của tác giả và thời đại.

Có thể hình dung Ékphrasis như một thấu kính hai tròng dùng để nghiên cứu tác phậm gốc. Thấu kính này cho phép tác giả gắn kết với văn bản riêng như một công cụ bổ trợ, vừa đứng xa ra ngoài, tránh mọi sự màu mè để tập trung vào bản chất ý nghĩa luân lí của mẫu vật được mô tả. Tuy nhiên, lấy luận lí làm nền móng, như một thủ pháp, Ékphrasis cho phép tác giả hướng tới những kết quả nghệ thuật phức tạp hơn. Chẳng hạn, Những lá thư về các bức tranh kiệt xuất của gallery Dusseldorf của Gaines đã trở thành người mở đường cho chủ nghĩa lãng mạn Đức, còn Bức tranh của Cebes-Giả mô tả một tác phẩm không hề tồn tại trở thành một áng phúng dụ thuần túy. Ékphrasis đòi hỏi chuyển từ một phương tiện nghệ thuật này sang một phương tiện nghệ thuật khác. Nói về việc sử dụng thủ pháp cổ xưa này, người ta thường nhắc tới những khuôn hình riêng lẻ của của bộ phim Caravaggio của Derek Jarman hoặc Rembrandt 1669 của Jos Stelling, trong đó nhiều bức tranh nổi tiếng của các họa sĩ được bện kết vào cấu trúc trần thuật điện ảnh do các diễn viên hiện đại sắm vai. Ở một chừng mực nào đó, có thể liệt cuốn sách minh họa, nếu tác rời khỏi văn bản, chuỗi tranh đồ họa của Gustave Dore trong Cựu ước và Tân ước vào loại thủ pháp trên.

Trên thế giới có rất nhiều học giả được xem chuyên gia của lĩnh vực Ékphrasis. Ở Việt Nam, cho đến nay, người duy nhất nói về nó là Th.S. Lê Thành Trung. Tôi dịch mục từ này dành cho những ai quan tâm tới văn học châu Âu từ thế kỉ XVIII đổ về trước và tu từ học cổ đại phương Tây, cùng những ai nghiên cứu văn học, nghệ thuật hiện đại dưới ánh sáng của thuyết di truyền. LN).

Ékphrasis là phương thức tu từ, có nghĩa là mô tả các đối tượng thị giác (có thật hoặc hư cấu), chủ yếu là các tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Theo định nghĩa của một nhà tu từ học La Mã, Ékphrasis là “dùng lời nói làm hiện lên trước mắt cái mà nó muốn cắt nghĩa”; từ quan điểm của các nhà tu từ học Hy Lạp thời cổ đại hậu kì, đây là loại hình tượng mô tả trực quan. Theo định nghĩa hiện đại, “chúng ta gọi Ékphrasis, hoặc Ékphrasa là mọi sự mô tả <…> các tác phẩm nghệ thuật, là sự mô tả gắn với mọi thể loại, tức là nó hoạt động như một văn bản, và sự mô tả có tính cách độc lập và là một thể loại nghệ thuật nào đó” (N.V. Braghinskaja). Ékphrasis có thể hiểu hai cách: theo nghĩa rộng, đó là dùng lời nói mô tả mọi đối tượng do bàn tay con người làm ra: đền đài, cung điện, lá chắn, pho tượng hoặc bức tranh; theo nghĩa hẹp hơn, nó là sự mô tả chỉ mỗi loại đối tượng có sự mô tả một sự vật hay một cụm sự vật tượng khác, mô tả một cảnh, một truyện kể nào đó… (mô tả thanh lá chắn của Achilles trong Iliad).

Ékphrasis gắn chặt với thể “Épigramme” (“chữ đề trên đồ vật”) thời cổ đại, nó là bài thơ châm biếm nói về một vật nào đấy, ví như lời bình luận bằng thơ về những đối tượng của các nghệ thuật tạo hình, lời nhận xét về các tác phẩm văn chương. Trong văn học cổ đại, Ékprasis xuất hiện như là lời “khuôn sáo” (S.S. Lverinshev) và là sự “mô tả một cách hoa mĩ tác phẩm nghệ thuật bên trong mạch trần thuật mà nó làm gián đoạn tạo nên nội dung tựa như sự lạc đề” (S. Labre, P. Soler). Vào cuối thời cổ đại, Ékphrasis tồn tại như một thể loại “bổ trợ”, khi các nhà văn từ chương gán cho việc dùng lời nói mô phỏng tinh tế tác phẩm hội họa” (I.A. Protopopov)  những ý nghĩa phúng dụ, ẩn dụ, triết học và các ý nghĩa khác để tạo ra tính nghệ thuật cho các luận văn thuyết giảng giáo lí. N.V. Braghinskaja, nhà nghiên cứu Ékphrasis lớn nhất, gọi việc đưa vào tác phẩm cuộc đàm đạo gắn với hình ảnh và chứa đựng trong bản thân sự mô tả hình ảnh ấy là “Éskphrasis đối thoại” và bà đã chỉ ra nguồn gốc thiêng liêng, thần bí của nó.

Sự mô tả các tác phẩm hội họa và điêu khắc thường xuyên xuất hiện trong Épigramme và thơ sử thi Hy Lạp cổ đại hậu kì, các tác giả tiểu thuyết Hy Lạp cũng rất thích sử dụng sự mô tả như thế để tạo nên sự đa dạng trong việc trình bày. Thông thường, chúng đầy ắp những hình ảnh tràn trề ánh sáng, lấp lánh, rạng rỡ, chói lóa, rất khó ăn nhập với thực tế của những bức tranh và các pho tượng Hy Lạp. Nhưng motif thường gặp của vô khối Épigramme và Eskphrasis từ Homer đến thời Byzantine lại là trong sự mô tả có xu hướng tô đậm sự giống nhau giữa cái nhân tạo và cái đích thực, nhấn mạnh sự đồng nhất tuyệt đối giữa hình tượng với sự vật “có thật”.  Motif “giống như thật” là chủ đề mẫu mực của tất cả Éphrasis. Sự vật trong hình tượng có ý nghĩa tiềm ẩn đã được chuyển hết vào lời. Ý nghĩa ấy quan trọng hơn rất nhiều so với tài nghệ, kết cấu, hay màu sắc hội họa. Sự chú ý được tập trung không phải ở khách thể nghệ thuật được mô tả (tác phẩm nghệ thuật), mà ở đối tượng riêng của nó và ở “ý nghĩa ngôn từ” của cái được tác phẩm ấy mô tả.

Đến thế kỉ thứ II, thứ III sau CN, hội họa và nghệ thuật tạo hình có ý nghĩa to lớn trước kia chưa từng thấy và được xem là có giá trị độc lập, nhưng điều này chủ yếu được thể hiện trong sự đối sánh giữa chúng với các lĩnh vực hoạt động khác, trước hết là hoạt động ngôn từ. Người ta nhìn thấy “vẻ đẹp” trong hội họa, nhưng dứt khoát phải đặt ra nhiệm vụ cắt nghĩa nó. Điểm chung toát lên từ tất cả Ékphrasis tu từ là thế này: “Trước một bức tranh, một pho tượng, một ngôi nhà tuyệt trần đến thế mà im lặng thì thật đáng hổ thẹn”. Những bức tranh hư cấu sẽ được tô điểm vĩnh viến bằng văn học, dưỡng chất của nghệ thuật ngôn từ sẽ bộc lộ ở đó rạng rỡ hơn nhiều so với sự mô tả chính xác bằng hội họa và nghệ thuật tạo hình. Trong thời đại ấy, Ékphrasis là một trích đoạn đặc biệt: nó có giá trị tự thân, không lệ thuộc vào bất kì chức năng nào trong khuôn khổ của cái chỉnh thể và được dành riêng để mô tả địa điểm, thời gian, nhân vật này hay nhân vật khác, hoặc các tác phẩm nghệ thuật. Truyền thống này được duy trì trong nhiều thế kỉ thời trung đại, khi việc mô tả không bị chi phối bởi bất kì nhiệm vụ mang tính hiện thực chủ nghĩa nào, tính chân thực, thậm chí, tính giống như thật chẳng có ý nghĩa là bao, có thể dễ dàng đặt sư tử và cây ôliu vào các nước phương Bắc – cái thiết yếu chỉ là các chuẩn mực của thể loại mô tả. Ở đây, sự giống như thật không có ý nghĩa tham chiếu, mà chỉ mang tính diễn ngôn một ccsh công nhiên, tất cả chịu sự qui định của một loại hình lời nói có sẵn nào đó. Dưới hình thức này hay hình thức khác, Ékphrasis tiếp tục tồn tại trong văn học châu Âu cho tới cuối thế kỉ XVIII,  khi các truyền thống văn học cổ đại bị suy yếu (nhưng không bị phá hủy) do kết quả của cuộc “cách mạng lãng mạn chủ nghĩa”. Trong văn học thế kỉ XIX và thế kỉ XX, Ékphrasis không hề bị quên lãng. Chẳng hạn, T. Gautier  vẫn tiếp tục truyền thống ấy, tất nhiên nó được ông nhận thức khác đi, tính hiển thị của bản thân hình tượng và cường độ thụ cảm thị giác được đẩy lên bình diện thứ nhất. Không hiếm trường hợp, Ékphrasis trở thành đối tượng phong cách hóa và đối tượng giễu nhại (chuỗi Eskphrasis giễu nhại trong “gallery tranh” của n. Oleinhikov[1])./

P.P. Skarenkov

Lã Nguyên dịch

Nguồn: Поэтика – Словарь артуальных терминов и понятий Изд.Кулагиной Intrada, cтр. 301-302.

 

[1] N.M. Oleinhikov (1898 – 1937) – Nhà văn, nhà thơ, đạo diễn sân khấu Nga.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: