PHÊ BÌNH – NHÂN TỐ TỔ CHỨC TIẾN TRÌNH VĂN HỌC

Lã Nguyên

1. Phê bình là gì? Đó là câu hỏi cho đến nay vẫn chưa tìm được lời giải đáp thống nhất. V.G. Bielinski gọi phê bình là “mĩ học vận động”. Dựa vào định nghĩa nổi tiếng ấy, nhiều người cho rằng, phê bình là một bộ môn của khoa học văn học, một phân nhánh của nghiên cứu văn học. Đây là quan điểm hết sức phổ biến. Nó phổ biến tới mức đã trở thành tri thức thông dụng được các tác gia từ điển văn học của nhiều quốc gia sử dụng để xác định nội hàm cho khái niệm “phê bình văn học”. Dĩ nhiên, nhà phê bình không thể không nghiên cứu văn học. Nhưng trong quan niệm của chúng tôi, phê bình văn học trước hết là hoạt động tác động, nó tác động vào tiến trình văn học với tư cách một nhân tố tổ chức. Xin nói rõ, ở đây chúng tôi chúng tôi chỉ chỉ bàn về phê bình văn học hiện đại, một hình thái phê bình chủ yếu hình thành và phát triển ở thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.

Những người ủng hộ quan điểm cho rằng phê bình là một phân nhánh của nghiên cứu văn học thực ra đã đồng nhất chức năng của những lĩnh vực hết sức khác nhau. Theo họ, cả nghiên cứu văn học lẫn phê bình văn học đều có nhiệm vụ chung là nhận thức, phân tích thực tiễn sáng tác. Chỗ khác nhau giữa chúng chỉ còn là ở đối tượng nghiên cứu. Phê bình có nhiệm vụ nghiên cứu tiến trình văn học đương đại, “bao gồm toàn bộ những hiện tượng đang xẩy ra trước mắt”, còn nghiên cứu văn học có nhiệm vụ nhận thức, phân tích tiến trình văn học sử gồm những hiện tượng đã ổn định, đã trở thành tài sản riêng của lịch sử văn học.

Nếu cho là chức năng của phê bình và nghiên cứu văn học chẳng có gì khác nhau thì cách phân biệt trên kia vẫn có nhiều điểm chưa thỏa đáng. Bởi ngẫm kĩ, hóa ra đối tượng của phê bình và nghiên cứu văn học là những gì vô hình, mơ hồ, khó xác định. Bởi nếu nói đối tượng của phê bình là văn học đương đại thì quá trình ấy kết thúc ở đâu? Và nếu bảo đối tượng của nghiên cứu văn học là tiến trình văn học sử thì liệu nó bắt đầu ở chỗ nào? “Nghệ thuật hôm nay <…> đang hàng ngày hàng giờ biến thành lịch sử”[1]. Chắc rằng không ai có thể đưa ra một tiêu chí thật khoa học để xác định cái mốc thời gian phân cách tiến trình văn học sử với tiến trình văn học đương đại. Cái mốc ấy là 10 năm, 20 năm, hay 50 năm về trước? Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Ma Văn Kháng, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ… đã thuộc về văn học sử, hay là các hiện tượng đương đại. Nên nhớ, về nguyên tắc, mọi tiến trình văn học đều nằm trong tiến trình văn học sử.

Vậy là không thể lấy vào thời gian xuất hiện của tác giả và tác phẩm làm căn cứ để xác định đối tượng của phê bình. Dựa vào đấy để phân biệt phê bình với nghiên cứu văn học tất sẽ không tránh khỏi vòng luận quẩn vừa phải khẳng định sự khác nhau giữa chúng, vừa phải phủ nhận sự khác nhau ấy: “Nếu xét từ góc độ lí luận, khoa học, thì giữa lịch sử văn học và phê bình văn học về nguyên tắc không có sự khác biệt nào cả”[2].

Khó có thể chấp nhận kết luận trên. Bởi trong thực tế, phê bình và nghiên cứu văn học vẫn tồn tại song song như hai lĩnh vực hoạt động độc lập, cái này không thể thay thế cái kia. Và không ai có thể phủ nhận, rằng giữa các bài phê bình và các công trình nghiên cứu văn học, dẫu nhiều trường hợp khó xác định ranh giới rạch ròi, nhưng không phải vì thế mà không thể nhận ra diện mạo riêng của chúng. Cách phân biệt thông thượng nay là như sau: sẽ được xem là phê bình nếu đó là bài viết có khối lượng trên dưới vài chục trang, bàn về những hiện tượng văn học vừa mới xuất hiện trước đó (so với thời điểm ra đời của bài viết ấy) trong vòng mươi năm trở lại. Còn những công trình có khối lượng lớn hơn, đề cập tới những tác giả, tác phẩm ra đời trước đó xa hơn thì được xếp vào chuyên luận, khảo luận, nghiên cứu văn học. Cố nhiên khó có thể thừa nhận cách phân biệt này là mang tính khoa học, bởi vì chẳng những nó thiếu chỗ dựa phương pháp luận, mà còn mâu thuẫn với thực tiễn phê bình.

Ai cũng biết, suốt thế kỉ XVII và thế kỉ XIX dường như tất cả các nhà văn, nhà thơ lớn, các nhà phê bình xuất sắc, từ Goethe tới Hugo, từ Turgheniev, Tolstoi đến Chkhov, Từ Ghersen, Bielinski đến Tsernyshevski đều viết về Hamlet (1601) của Shakespeare. Những công trình của họ đều được gọi là phê bình văn học. Trong khi đó, chúng ta không thể không xếp các chuyên luận của Nguyễn Văn Hạnh, Lê Đình Kỵ, Trần Đình Sử về nhà thơ đương đại Tố Hữu vào loại nghiên cứu văn học. Có thể dẫn chứng nhiều thí dụ để chứng minh, tiến trình văn học đươcng đại vừa không phải là đối tượng duy nhất của phê bình, vừa không phải là khu vực tự trị dành riêng cho nó. Mọi sáng tác, bất luận là chúng xuất hiện ở thời điểm nào, đều có thể trở thành khách thể nhận thức chung của cả phê bình lẫn nghiên cứu văn học.

Nói như thế không có nghĩa, nghiên cứu văn học và phê bình văn học không có đối tượng nhận thức riêng. Nhưng không nên tìm đối tượng aasytrong những mặt cắt lịch sử khác nhau. Đối tượng thực sự của phê binhfvaf nghiên cứu văn học chính là phạm vi nhận thức riêng biệt chứa đựng trong mỗi tác phẩm mà chúng ta hướng tới tìm kiếm, khám phá tùy theo chứng năng đặc thù của mình và do chức năng ấy qui định. Chính chức năng ấy của phê bình đã biến nó thành một dạng hoạt động, một hình thức nhận thức gắn với một đối tượng riêng, một hệ thống chuẩn mực thẩm mĩ riêng, cùng những khái niệm, phạm trù tương ứng không gì có thể thay thế. Cho nên, muốn xác định được bản chất của phê bình văn học lại phải bắt đầu từ chức năng của nó.

2. Do đồng nhất chức năng của phê bình với chức năng của nghiên cứu văn học, do ngộ nhận đối tượng của phê bình là toàn bộ hiện tượng văn học đang hình thành và chưa ổn định, một số người cho rằng phê bình chẳng qua là thứ “khoa học chưa thành khoa học”. Một mặt, phê bình phải dựa vào mĩ học và nghiên cứu văn học, lấy đó làm cơ sở lí luận duy nhất để phân tích, đánh giá những hiện tượng đang hình thành, chưa ổn định. Mặt khác, trên cơ sở nhận thức cái thực tại văn học đang hình thành ấy, phê bình có nhiệm vụ bổ sung cho mĩ học và nghiên cứu văn học những tư liệu mới. Vậy là, phê bình với tư cách là “mĩ học vận động” chỉ được nhìn nhận như và diễn giải như một khoa học ứng dụng và bổ trợ[3]. Thực ra phê bình không bao giờ giới hạn nhiệm vụ của mình trong phạm vi nhận thức tiến trình văn học đương đại để rồi bổ sung lí thuyết cho mĩ học và nghiên cứu văn học. Phê bình cũng không phải là khoa học ứng dụng. Quả có những lúc phê bình tỏ ra lạc hậu trước tình hình phát triển của văn học. Nhưng nhìn chung, lịch sử của nó là lịch sử cách mạng nghệ thuật, lập pháp cho cái mới. Bielinski nhấn mạnh: “Phê bình không ngừng vận động, tiến lên phía trước”, sứ mệnh của nó là “giết chết cái cũ, chuẩn bị cho nền nghệ thuật mới ra đời”[4]. Ông gọi loại phê bình “ứng dụng” và minh họa cho một hệ thống lí luận có sẵn là thứ “phê bình bảo mạng”. Cho nên, đúng là cả phê bình lẫn nghiên cứu văn học đều phải nhận thức thực tiễn sáng tác. Nhưng với phê bình, nhận thức không phải là mục đích, mà chỉ là cách thức để đạt tới mục đích của nó. Thông qua nhận thức thực tiễn sáng tác, phê bình chân chính có nhiệm vụ tác động, làm cho văn học tiến lên phía trước theo những hướng nhất định sao cho phù hợp với tiến trình của lịch sử và thời đại. Bởi thế, không nên đồng nhất chức năng của phê bình với chức năng của nghiên cứu văn học. Hoàn toàn có cơ sở để tách phê bình văn học ra khỏi nghiên cứu văn học, xem xét nó như một dạng hoạt động tác động. Vậy phê bình hiện đại tác động tới văn học như thế nào và bằng con đường nào? Muốn tìm lời giải đáp cho câu hỏi đó, chúng ta phải xuất phát từ quan điểm lịch sử, bởi lẽ, cũng như các hiện tượng xã hội khác, phê bình có quá trình hình thành và phát triển, nhiệm vụ và chức năng của nó vì thế cũng không ngừng thay đổi.

Ai cũng biết, cả văn học lẫn phê bình đều xuất hiện từ thời xa xưa trong lịch sử văn hóa của nhân loại. Nhưng trên phạm vi toàn thế giới, phải đến thời hiện đại, khi kĩ nghệ ấn loát phát triển, văn học mới thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù. Tức là từ thế kỉ XVIII, văn học mới hình thành như một hệ thống nhất định của những khuynh hướng, trào lưu, trường phái khác nhau cùng tồn tại trong mối quan hệ tương tác vô cùng phức tạp.

Suốt cả thời kì dài trước thế kỉ XVII, văn học chỉ tồn tại như tổng số giản đơn của những tác phẩm riêng lẻ. Có lẽ vì thế, trong các công trình nghiên cứu văn học xuất hiện trước thế kỉ XVII, người ta ít quan tâm tới thời gian ra đời của những tác phẩm cụ thể. Sự thay đổi của văn học xẩy ra hết sức chậm chạp và chỉ nhận biết được phần nào qua phương diện nội dung cụ thể của tác phẩm, qua tiến bộ của lời văn và mối quan hệ qua lại giữa các thể loại. Tất cả dấu hiệu của văn học hiện đại trong tương lai vẫn đang tồn tại dưới dạng mầm mống, phôi thai. Từ thế kỉ XVII, mỗi sáng tác nghệ thuật luôn gắn với một trào lưu, một khuynh hướng, hay một trường phái cụ thể làm thành một khâu, một mắt xích trong mạch chuyển động không ngừng của văn học. Mọi tác phẩm đều nhập vào hệ thống của của những mối quan hệ qua lại phát triển không ngừng tạo thành tiến trình văn học.

Tiến trình văn học được phản ánh khá rõ trong hệ thống các ấn phẩm định kì mà trước hết là báo và tạp chí. Ngoài ra, còn phải kể đến những tuyển tập thơ văn mà trong đó người sáng tác được tập hợp theo những lát cắt thời gian nhất định và được sắp xếp theo một trình tự biên niên nghiêm nhặt. Ai cũng biết, loại ấn phẩm kiểu trên xuất hiện ở châu Âu vào thế kỉ XVI và sang thế kỉ XVIII thì phát triển mạnh mẽ.  Đây không chỉ là biểu hiện bề ngoài mang tính hình thức thuần túy của đời sống văn học. Nhờ có những ấn phẩm định kì như thế mà hệ thống văn học được định hình và sự xuất hiện của nó chứng tỏ văn học bắt đầu được nhận thức như một tiến trình có tổ chức. Điều quan trọng cần chú ý ở đây là chính phê bình hiện đại đã ra đời cùng với sự phát triển của dòng ấn phẩm văn học định kì như thế. Không phải ngẫu nhiên, khi nghiên cứu lịch sử phê bình, người ta thường không thể bỏ qua lịch sử báo chí.

Puskin cho rằng: “Tình trạng phê bình tự nó phản ánh đầy đủ trình độ học thức của cả nền văn học nói chung”[5]. Điều đó có nghĩa, mặc dù phê bình văn học có từ thời xa xưa, nhưng khi mà văn học chưa thành văn học hiện đại với đầy đủ ý nghĩa của nó thì phê bình cũng chưa trở thành phê bình với diện mạo như ta thấy ngày nay.

Rõ ràng, trước thế kỉ XVIII, trên phạm vi toàn thế giới, chưa ở đâu có phê bình văn học như một lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù. Nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ được xem như công việc của hai bộ môn khoa học văn – triết bất phân. Bởi thế, văn học chỉ được chiếm lĩnh từ hai phía, dưới hai góc độ tách rời nhau là ngữ văn và triết học. Nhưng cũng chính trong khuôn khổ của ngữ văn và triết học, những mầm mống đầu tiên của phê bình văn học đã xuất hiện. Tức là từ triết học và ngữ văn học, xuất hiện những công trình mang dáng dấp một “thể loại” đặc biệt, trong đó tác giả tập trung khảo sát, phân tích tác phẩm như một văn bản cụ thể nhằm chỉ cho nghệ sĩ cách thức viết văn; nên viết thế này chứ không nên viết thế kia, viết thế này là hay, thế kia là dở… Đó là loại phê bình qui phạm. Ở đây, nhà phê bình chỉ cần biết tới văn bản và khi phân tích văn bản, ngoài ý nghĩa luận lí, ông ta chỉ cần chú ý tới “thần cú”, “nhãn tự” và những luật lệ nghiêm nhặt của thể văn. Phê bình vì thế thương thiên về sự kì khu, tỉ mẩn. Nó tập trung đánh giá, phẩm bình nhiều hơn là phân tích toàn bộ mối liên hệ bên trong và bên ngoài hết sức phức tạp của sáng tác nghệ thuật. Lối phê bình kiểu cổ này tỏ ra không đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao và không ngừng đổi mới của đời sống văn học hiện đại. Bởi thế, từ thế kỉ XVII, nhất là thế kỉ XVIII, phê bình đàn dần tách ra khỏi triết học và ngữ văn học để thiết lập cho mình một vương quốc riêng, một phạm vi hoạt động riêng như một hiện tượng xã hội đặc thù. Tách ra khỏi hệ thống ngữ văn, triết học, hòa vào dòng chảy của những ấn phẩm định kì, trong suốt thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX, phê bình hiện đại gắn chặt với hệ thống văn học. Quan hệ giữa phê bình và sáng tác trở thành mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các mặt tạo thành đời sống và tiến trình văn học. Cho nên, từ lâu, bên cạnh sáng tác, phê bình đã trở thành đối tượng nghiên cứu của của bộ môn lịch sử văn học. Bielinski nhiều lần nhấn mạnh, rằng “phê bình văn học là văn học”, lịch sử phê bình và lịch sử văn học chỉ là một mà thôi.

Vậy là, ra đời từ trong lòng ngữ văn và triết học, phê bình văn học không tự thiết lập thành một bộ phận trong hệ thống các khoa học văn học. Là một hiện tượng xã hội đặc thù, dĩ nhiên, phê bình văn học đồng thời có quan hệ với nhiều hệ thống hành chức khác nhau. Nhưng chỉ khi được đặt vào hệ thống văn học như là một bộ phận có chức năng tác động trực tiếp tới các mặt khác của hệ thống đó, phê bình mới tìm thấy sức mạnh và lí do tồn tại đích thực của nó.

Phê bình văn học tác động tới tiến trình văn học không phải theo kiểu tri âm, tri kỉ, hoặc bằng cách chỉ bảo nhà văn phải lựa chọn ngôn từ sao cho đắc địa. Là một mặt, một bộ phận của tiến trình văn học, phê bình gánh trách nhiểm của nhân tố tổ chức tiến trình ấy. Nó tác động tới đời sống văn học thông qua vai trò tổ chức của mình. Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm riêng lẻ. Phê bình đưa những tác phẩm riêng lẻ ấy vào hệ thống văn học, tổ chức chúng thành một chỉnh thể vận động. Ở những thời kì khác nhau, phê bình văn học hiện đại phát huy vai trò tổ chức của mình theo những mức độ khác nhau, nhưng phải thấy, đó là công việc chính yếu của nó. Chính phê bình chứ không phải bộ phận nào khác thường xuyên tiến hành các cuộc đấu tranh văn học, tổ chức các trào lưu, khuynh hướng sáng tác, tuyên bố về sự mở đầu hay kết thúc một giai đoạn, hay một thời đại nghệ thuật. Không phải ngẫu nhiên, để phân biệt các xu hướng phê bình, người ta thường gắn chúng với tên gọi của những trào lưu văn học cụ thể: phê bình cổ điển, phê bình lãng mạn, phê bình hiện thực…

Cần nhấn mạnh khả năng và sức mạnh tổ chức tiến trình văn học của phê bình. Bởi không ít nhà văn thường khẳng định rằng phê bình dường như chẳng ảnh hưởng gì tới công việc của họ. Họ không nhận ra, chính phê bình, thông qua vai trò tổ chức của nó luôn tạo ra những tình huống văn học có tác dụng quyết định tới số phận sáng tạo của từng cá nhân nghệ sĩ. Hoạt động phê bình của Bielinski, Tsernysevski, Mikhailovski (ở Nga), hay Hoài Thanh, Hải Triều (ở Việt Nam)… từng giữ vị trí như thế. Cho nên, ảnh hưởng của phê bình tới nhà văn không hẳn bao giờ cũng là ảnh hưởng trực tiếp, mà là ảnh hưởng gián tiếp thông qua sự vận động của hệ thống văn học do chính nó tổ chức. Phải hiểu được điều đó để đánh giá đúng mức sức mạnh củ phê bình chân chính, đồng thời để ngăn chặn và đấu tranh chống lại những xu hướng phê bình lệch lạc có tác hại lớn tới văn học, nhất là lối phê bình xã hội học dung tục, hoặc lối phê bình cơ hội luôn tìm cách đớn gió lựa thời.

3. Như đã nói, chính chức năng của phê bình đã qui định đối tượng nhận thức của nó. Thực tế cho thấy, với tư cách là nhân tố tổ chức tiến trình văn học, phê bình hiện đại dồn sức tìm kiếm điểm tựa đi tới cho cả một trào lưu, khuynh hướng hay trường phái nghệ thuật. Cho nên, khi phân tích, đánh giá sáng tác – có thể là cả một giai đoạn, cũng có thể một, hoặc vài tác phẩm riêng lẻ – phê bình thường hướng toàn bộ sự chú ý vào việc khám phá, phát hiện những vẻ đẹp mới, những nhân tố nghệ thuật mới mà trước đó chưa từng có, đồng thời nó tập trung phê phán các nhược điểm, hạn chế khiến cho tác phẩm không đáp ứng những nhu cầu của xã hội, thời đại và của bản thân văn học. Puskin gọi “phê bình là khoa học khám phá những vẻ đẹp và nhược điểm của tác phẩm”[6]. Trong khi đó, “nghiên cứu văn học là khoa học nghiên cứu một cách toàn diện văn học nghệ thuật, nghiên cứu bẳn chất, nguồn gốc và những mối liên hệ xã hội của nó”[7]. Nói cách khác, nghiên cứu văn học có chức năng phân tích và khái quát những vẻ đẹp và những giá trị đã được khám phá, phát hiện. Còn phê bình, nếu gọi là khoa học, thì đó là khoa học khám phá những vẻ đẹp mới, những cách tân nghệ thuật và những nhược điểm của tác phẩm văn học.

Vậy là, gắn với những chức năng khác nhau, phê bình và nghiên cứu văn học có những đối tượng nhận thức hoàn toàn khác nhau. Có thể tạm hình dung: phạm vi nhận thức của nghiên cứu văn học mở ra ở nơi mà phạm vi nhận thức của phê bình văn học khép lại. Nhưng ranh giới tạo nên sự gần kề ấy không phải là mặt cắt thời gian như nhiều người vẫn tưởng mà một bên là là khu vực nghiên cứu, phân tích những giá trị, những phẩm chất đã được khám phá, phát hiện và đã được kiểm nghiệm, còn bên kia là khu vực tìm kiếm, khám phá những giá trị, những phẩm chất mới, có khả năng mở ra một tiến trình mới, một thời đại mới so với cái cũ. Do đặc thù của đối tượng nhận thức, nghiên cứu văn học, ngay cả khi nó bao hàm được mọi hiện tượng của đời sống văn học hôm nay, vẫn luôn luôn đi sau phê bình. Còn phê bình chính là người lính xung kích trong đội quân tiên phong mở đường cho văn học đi tới.

4. Không ai phủ nhận khả năng tác động tích cuwucj của nghiên cứu văn học đối với tiến trình văn học. Dồn sức vào khám phá, phát hiện những nhân tố nghệ thuật mới, chọn điểm tựa cho văn học đi tới, phê bình khó tránh khỏi những sai lầm do ngộ nhận và phiến diện. Nhiều khi người ta khen chê quá lời một tác phẩm hoặc một nhà văn nào đó chỉ vì mục đích tranh luận. Phê bình thường mắc bệnh chủ quan làm giảm sút giá trị khoa học của những kết luận do nó đưa ra là vì thế. Thực tế chứng tỏ, nghiên cứu văn học thường xuyên phải sửa chữa những sai lầm trong nhận định và đánh giá của phê bình. Lí luận và lịch sử văn học hoàn toàn có khả năng nhìn nhận lại một cách khách quan những khám phá, phát hiện của phê bình, thông qua đó chỉ ra những nhược điểm thực sự và giá trị thẩm mĩ chân chính của tác phẩm nghệ thuật. Song không phải vì thế mà nghiên cứu văn học có thể thay thế được vị trí của phê bình văn học. Có nhiều lí do. Thứ nhất: khi nghiên cứu văn học tiến hành “sửa chữa” những sai lầm của phê bình, thực chất nó đã làm công việc của phê bình. Thứ hai: như đã nói, nghiên cứu văn học không xu hướng vươn tới sự khám phá, phát hiện cái mới. Thứ ba: điều sẽ bàn dưới đây, phương thức chiếm lĩnh đối tượng của nghiên cứu văn học không cho phép nó khám phá, phát hiện những nhân tố có khả năng mở ra một tiến trình nghệ thuật mới.

Nghiên cứu văn học lấy toàn bộ sáng tác nghệ thuật làm đối tương mô tả, nghiên cứu và khái quát lịch sử. Tức là, để tiến hành nghiên cứu một hiện tượng văn học dù đó là tác phẩm còn thơm nguyên mùi giấy mực, nhà nghiên cứu phải xem đó như là cái đã thuộc về quá khứ, là kết quả của một tiến trình. Bởi thế, thước đo mà nhà nghiên cứu văn học sử dụng để đánh giá tác phẩm là bảng phân định giá trị do nhân loại sáng tạo ra qua nhiều thời đại và đã được thừa nhận như những chuẩn mực bất di bất dịch.

Bielinski gọi phê bình là “chị em sinh đôi của sự nghi ngờ”. Phê bình luôn kêu gọi nhà văn sáng tạo ra những giá trị mới. Đành rằng cái mới không tự trên trời rơi xuống, nhưng bản thân sự ra đời của nó đã bao hàm sự phủ định cái cũ. Muốn thế, trong quá trình phân tích tác phẩm, nhà phê bình phải chỉ ra đâu là cái cũ, đâu là cái mới; đâu là cái đã thuộc về quá khứ, đâu là nhân tố có khả năng mở ra một tiến trình. Qua đó đủ thấy, hệ thống chuẩn mực định giá thẩm mĩ của nghiên cứu văn học trở nên quá chật hẹp đối với phê bình văn học. Dĩ nhiên, phê bình phải tìm cho mình một hệ thống chuẩn mực mới. Hệ thống ấy, phê bình lấy ở đâu?

Bielinski nhiều lần nhấn mạnh rằng “phê bình là xét đoán, so sánh hiện tượng với lí tưởng về nó”[8]. Phát triển quan điểm của Bielinski, V.A. Zukovski cho rằng nhà phê bình “không được phép lệ thuộc vào các khuôn mẫu và luật lệ <…> Anh ra phải có lí tưởng riêng để so sánh với bất kì tác phẩm nào của nghệ sĩ, phải có lí tưởng về cái có thể có làm mực thước tin cậy để xác định mức độ cách tân”[9]. Vậy lí tưởng về tương lai văn học là chuẩn mực định giá thẩm mĩ của phê bình. Phê bình không thể xa rời nguyên tắc lịch sử trong khi đánh giá tác phẩm. Nhưng nếu văn học có thể dõi về quá khứ, tìm trong đó mực thước cân đo, thì phê bình luôn luôn phải vượt lên phía trước, đứng trên đỉnh cao của tương lai mà lắng nghe nhịp đập trong mạch nổi, mạch chìm của dòng chảy văn học. Nghiên cứu văn học không nhất thiết phải hình dung ra trước mắt bức tranh của đời sống văn học tương lai.  Nhưng nếu phê bình không hình dung ra viễn cảnh phát triển của văn học thì nhà phê bình sẽ đánh mất chỗ dựa duy nhất để định giá thẩm mĩ và khi ấy sẽ khó tránh khỏi chủ nghĩa giáo điều, công thức, hoặc sa vào những chi tiết tủn mủn, vụn vặt.

Các nhà phê bình ưu tú trong quá khứ đều lấy tương lai của văn học làm chuẩn mực để xét đoán tác phầm. Khi đánh giá tình trạng và xu hướng vận động của văn học, cái mà họ quan tâm trước hết thường không phải là những đỉnh cao đã đạt tới trình độ hoàn thiện nghệ thuật mà là những nhân tố cách tân. Họ dồn toàn bộ nhiệt tình vào việc ủng hộ, tạo điều kiện cho cái mới phát triển.

Nếu nghiên cứu văn học thường dõi về quá khứ, tìm trong cái đã có mực thước đo lường, thì phê bình văn học lại hướng tới tương lailaasy cái cần phải có và có thể có làm chuẩn mực định giá. Cho nên, không phải nghiên cứu văn học, mà chính phê bình mới có khả năng khám phá, phát hiện cái mới để mở đường cho văn học phát triển. Quả là những cuộc tranh luận hiện nay của phê bình về thể tài tác phẩm, về phong cách và phương pháp nghệ thuật tỏ ra có ảnh hưởng rất ít tới thực tiễn sáng tác.  Nhưng đó không phải là lỗi của bản thân phê bình mà là do trong quá trình thảo luận các vấn đề trên, chúng ta thường dựa vào những quan điểm lí luận đã trở nên cũ kĩ, lạc hậu, không còn sức hấp dẫn đối với người sáng tác.

5. G. Nhedoshivin hoàn toàn có lí khi viết: “Khuynh hướng phấn đấu của phê bình để trở thành “khoa học” là chính đáng, chẳng có gì phải hổ thẹn”[10]. Làm thế nào để việc phân tích, đánh giá tác phẩm nghệ thuật thực sự mang tính khoa học là yêu cầu cấp bách mà thời đại và bản thân đời sống văn học đang đặt ra trước phê bình. Là nhân tố tổ chức tiến trình văn học, phê bình đích thực luôn tạo dựng cho mình bức tranh lịch sử văn học và hệ thống lí luận văn khác hẳn với lịch sử văn học và lí luận văn học của nghiên cứu văn học. Định nghĩa “phê bình là mĩ học vận động” của Bielinski bao hàm ý nghĩa như vậy.

Nghiên cứu văn học mãi mãi là khoa học về quá khứ lịch sử của văn học. Đó là khoa học về những giá trị do văn học nhiều thời đại tạo ra, đã được thừi gian kiểm nghiệm, là khoa học về tính chất và khuynh hướng phát triển thuộc các giai đoạn đã qua của văn học. Còn phê bình, nếu gọi là khoa học, thì đó là khoa học về tương lai của văn học. Cả phê bình và nghiên cứu văn học đều không thể bỏ qua giai đoạn văn học đương đại. Có điều, nghiên cứu văn học xem tình trạng của văn học hôm nay là kết quả phát triển có qui luật của tất cả những giai đoạn trước đó. Còn phê bình thì xem cái hiện có như là sự mở đầu, là nguồn cội tạo thành sự phát triển trong tương lai của văn học. Trên cơ sở khám phá, phát hiện những vẻ đẹp mới, những giá trị nghệ thuật vừa xuất hieenjphee bình phải hình dung được tiến trình văn học như nó cần phải có và có thể có.  Cho nên, lịch sử và lí luận văn học của nghiên cứu văn học là là lịch sử và lí luận về tiến trình văn học đã tồn tại trong thực tế. Còn lịch sủ và lí luận văn học của phê bình là lịch sử và lí luận về một tiến trình văn học giả định. Không có khả năng vẽ ra bức tranh giả định của tiến trình văn học, không xác lập được lí thuyết về cái cần được giả định, tiên đoán, phê bình sẽ mãi mãi là cái điôi lẽo đẽo theo sau sáng tác. Bởi thế, không phải nhà nghiên cứu nào cũng có thể trở thành nhà phê bình văn học. Ngoài tài năng không kém gì một nhà văn, ngoài tri thức uyên bác của một học giả, nhà phê bình văn học đồng thời phải là người công dân có tinh thần trách nhiệm trước tình trạng văn học, là nhà tư tưởng xuất sắc có khả năng nhìn thấu lịch sử, thấy trước tương lai. Làm một nhà phê bình khó vậy thay!

So với nhiều nước trên thế giới, nền phê bình văn học hiện đại Việt Nam còn rất non trẻ. Nhiều khi nó chưa đủ sức thoát khỏi lối phê binh tri âm, kí thác, văn câu, bẻ chữ kiểu cổ. Cho nên, hòa nhập sâu rộng vào tiến trình văn học của nhân loại, tiếp thu cởi mở thành tựu lí thuyết của các khuynh hướng phê bình trên toàn thế giới là con đường tốt đưa nền phê bình văn học của chúng ta lên ngang tầm thời đại.

 2/1987

[1] G. Nhedoshivin – Về những giới hạn của phê bình. “Sáng tạo”, 1968, Số 5, tr. 7 (tiếng Nga)

[2] Từ điển Bách khoa văn học giản yếu. M., 1967, T.4, Cột 331 (tiếng Nga).

[3]  Xem: V.I. Kuleshov – Lịch sử phê bình Nga thế kỉ XVIII – XIX. M., 1972. Tr. 4 (tiếng Nga).

[4] V.G. Bielinski. Tuyển tập. T.2. M., 1948. Tr. 364 (tiếng Nga)

[5] A.X. Puskin – Toàn tập. T.7. M., 1958. Tr. 199 (tiếng Nga)

[6] A.X. Puskin – Tlđd. T. 6. Tr. 320.

[7] Bách khoa văn học giản yếu – Tlđ d.

[8] V.G. Bielinski – Tuyển tập. T.2. Tr. 349.

[9] V.A. Zukovski – Toàn tập. T.3. Peterburg, 1906. Tr. 9 (tiếng Nga)

[10] G. Nhedoshivin – Về những giới hạn của phê bình. “Sáng tạo”, 1968, Số 5. Tr. 7 (tiếng Nga)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: