VỀ NGUỒN GỐC CÁC NGÔN NGỮ

 N.Ja. Marr 

Một chút dông dài của người dịch: Suốt nửa thế kỉ, từ ngày được học bài ngôn ngữ học đại cương đầu tiên ở năm thứ nhất đại học cho đến nay, tôi chưa hết bị ám ảnh bởi huyền thoại về một vị lãnh tụ anh minh chỉ bằng một bài báo, sau một đêm thôi, đã lật nhào ngai vàng danh vọng của một Viện sĩ Hàn lâm. Vị viện sĩ ấy là N.Ja. Marr. Vị lãnh tụ anh minh ấy là thiên tài I.V. Stalin của chúng ta. Thoạt đầu, sự ám ảnh của huyền thoại giống như một sự mê hoặc, sùng tín. Còn nhớ, cố Giáo sư Hoàng từng dạy chúng tôi thế này: tất cả các nhân vật trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đều “phát triển từ thấp đến cao”, riêng các lãnh tụ thiên tài như V. Lênin, I. Stalin, Hồ Chí Minh thì chỉ có thể vận động “từ đỉnh cao này đến đỉnh cao khác”. Vâng, tôi tin vào những gì  đã được học: Trí tuệ của lãnh tụ là vàng, là ngọc. Trí thức rất dễ bị sai, lúc nào cũng có thể sai, vì trí tuệ của nó chỉ là “cục phân” thôi!

Vào tuổi “tam thập” biết lập thân, lại nhờ may mắn rơi vào trường Tổng hợp Peterburg, tôi mới ngã ngửa, hóa ra đằng sau huyền thoại trên là cả một tấn bi hài kịch tranh đoạt vị thế chúa tể của hai trường phái ngôn ngữ. Tôi nghe kể, trong cuộc tranh đoạt ấy, có kẻ đã sử dụng cả “mưu hèn, kế bẩn”. Từ đó, huyền thoại vẫn ám ảnh tôi, nhưng nó mất thiêng.

Sau này, đọc M. Bakhtin, R. Barthes và nhiều học giả khác, tôi thấy các vị ấy nói về bản chất kí hiệu học của các hiện tượng tư tưởng hệ và bản chất tư tưởng hệ của các quá trình kí hiệu học. Tôi tin điều các ông ấy nói và tin chắc rằng lãnh tụ anh minh Stalin của chúng ta có lẽ do “không biết gì về điện, vẫn nói chuyện sup-vôn-tơ” nên những gì ông ấy bàn về ngôn ngữ giờ chẳng ai buồn nhắc lại nữa.

Tuy chưa đọc N.Ja. Marr, nhưng bằng thói quen quan sát, bằng trực giác, tôi tin chân lí thuộc về ông ấy. Không thể đồng nhất mọi hiện tượng tư tưởng hệ vào tính giai cấp, nhưng đúng là ngôn ngữ, – nếu không hiểu nó là “công cụ” giống cái cào, cái cuốc có sẵn trong kho Từ điển, ai cần cứ vác ra mà dùng, mà xem nó là thực tiễn diễn ngôn, là thành tố cấu trúc của văn hóa, –  bao giờ cũng có tính giai cấp. Tính giai cấp lộ ra rõ nhất ở khu vực từ vựng ngữ nghĩa, ở danh từ và động từ, ở tên gọi và hành động gọi tên. Cứ để ý mà xem, mỗi giai cấp mới lên cầm quyền xã hội bao giờ cũng làm một cuộc “tổng đổi tên”, “tổng đặt tên”. Hà Nội của cụ Hồ và Sài Gòn xưa của ông Diệm chẳng phải đã đặt tên theo hai cách khác nhau không. Với ông Diệm, trật tự đường phố là tiến trình lịch sử: Gia Long ở giữa, hai bên là Tự do, Công Lí, rồi đến các triều đại cũ, ngoài cùng là Hồng Bàng. Ở Hà Nội và các thành phố miền Bắc, trật tự đường phố là trật tự “công lao”, “thành tích” của người có công với cách mang:  Các đại lộ sang trọng nhất, thênh thang nhất bao giờ cũng mang tên các vị công lao trùm thiên hạ. Sau 1975, Sài Gòn và các thành phố từ Quảng Trị đổ vào đã đổi tên cho giống Hà Nội rồi. Hà Nội không chỉ tổng đổi tên địa danh (Nguyễn Huy Thiệp giễu rất hay việc lấy các tên “Tiến bộ”, “Vinh Quang”, “Thắng lợi” đặt cho các nông trường ở những nơi khỉ ho cò gáy tít tận trên Tây Bác), mà còn đổi tên nghề nghiệp, chức danh nữa. Trước kia là “phu”, “phu lục lộ”, nay được gọi là “công nhân”, “công nhân cầu đường”, “công nhân giao thông” nghe sang trọng hơn. Trước kia là “Giáo sư”, trò gọi Giáo sư bằng “THẦY”, xưng “CON”, xa cách quá! Nay ông ấy nhận chức danh “Cán bộ giảng dậy”, trò xưng “EM” gọi ông ấy bằng “ANH” cho gần gũi. Chẳng cần nghiên cứu sâu xa gì, người ta vẫn biết thành phần xã hội nào đang “phá nát tiếng Việt”, bộ phận nào gọi “Formosa Vũng áng” là “thảm họa môi trường”, bộ phận nào chỉ gọi là “sự cố” thôi. Cũng như thế, ta biết rõ ai chủ trương dịch cùng một chữ  “диктатура” (tiếng Nga), “la dictature ” (tiếng Pháp), khi thì thành “chuyên chính” (“chuyên chính vô sản”), lúc lại là “độc tài”, “chuyên chế” (“tư bản độc tài”), ai  gọi tàu Trung Quốc là “tàu lạ”, ai dùng từ “nhạy cảm” để gọi tên tất cả những gì mà những người thấp cổ bé họng như chúng ta đòi hỏi sự minh bạch. Chắc chắn nếu bây giờ làm từ điển ta phải ghi rõ để các thế hệ tương lai hiểu: hai từ tưởng rất xa nghĩa, nhưng hóa ra là đồng nghĩa: “biểu tình” và “tụ tập đông người”. Chẳng phải ta đang nhìn thấy nhỡn tiền có hai bộ phận xã hội dùng từ ngữ đối lập nhau chan chát đó sao?

Không chỉ ở mảng từ vựng ngữ nghĩa thôi đâu, ngay cả ở khu vực tu từ, thậm chí cả cú pháp, người ta vẫn có thể xác định bản chất tư tưởng hệ của nó. Nếu hiểu ngôn ngữ là tất cả các cấu trúc biểu nghĩa được sử dụng trong giao tiếp, thì có phải, các cấu trúc biểu nghĩa và các mô thức tu từ của thời cổ đại và trung đại được huy động tối ta trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa hay không? Cứ đọc thơ Tố Hữu, hay văn Nguyễn Tuân sau 1945 mà xem có đúng thế không?

Hơn chục năm nay tôi bắt đầu đọc N.Ja. Marr một cách có hệ thống và dịch một số văn bản quan trọng của ông, không phải để nghiên cứu, mà là vì một lí do khác. Tôi mê lí thuyết tự sự theo hướng di truyền luận của O.M. Freidenberg (1890 – 1955). Bà ấy và nhà thơ, nhà văn B.L. Pasternak (1890 – 1960) là anh em con cô con cậu, họ đã từng thề non hẹn biển, nhưng rồi chuyện tình của họ chẳng đâu đến đâu. Bà ấy là học trò, là đồng sự gần gũi của N.Ja. Marr. Bà ấy cho rằng sự phát triển của văn hóa là quá trình vận động của “nhân tố” (“factor”) chuyển thành “thự tế” (“fact”). Theo bà ấy, huyền thoại là “kho ngữ nghĩa” đã có đầy đủ các “yếu tố” để sau này được hiện thực hóa thành “thực tế” văn hóa trong tương lai, mỗii thời đại phát triển về sau của văn hóa là sự “phản tư”, sự tái nhận thức” cái “kho ngữ nghĩa” ấy. Tôi đã viết một tiểu luận giới thiệu lí thuyết này và viết các bài về Tố Hữu, Nguyễn Tuân dưới ánh sáng lí thuyết của bà ấy. Dĩ nhiên muốn hiểu O.M. Freidenberg phải đọc và hiểu kĩ N.Ja. Marr, thế thôi!

Nhưng rồi gần đây tôi thấy hóa ra ở ta những cách hiểu rất cũ về ngôn ngữ và huyền thoại về tính phi giai cấp của nó vẫn đang sống rất yên ổn. Tôi quyết định biên tập lại một số bài đã dịch với hi vọng cung cấp cho những ai quan tâm một vài tư liệu để có thể suy ngẫm.- LN

***

Ngôn ngữ tự phát sinh, chứ không phải nó đã được chế tạo ra. Nó phát sinh, hình thành không phải chỉ qua hàng nghìn năm, mà là hàng chục, hàng trăm nghìn năm. Đã phải mất rất nhiều chục nghìn năm cho mỗi một ngôn ngữ. Chỉ cần nói rằng, ngày nay, ngành cổ sinh học về ngôn ngữ đã cung cấp cho chúng ta khả năng trong công việc nghiên cứu trở về tận thời đại khi mà cả một bộ tộc chỉ sử dụng mỗi một từ để chỉ chung tất cả các nghĩa mà nhân loại thời ấy đã tạo ra. Nhưng ngôn ngữ đường kẻ, hoặc hình vẽ, ngôn ngữ điệu bộ và vẻ mặt đã có trước ngôn ngữ âm thanh rất nhiều chục nghìn năm. Bản thân ngôn ngữ chữ viết cổ xưa nhất với tuổi đời lên tới mấy chục nghìn năm thì vẫn chỉ là đứa trẻ miệng còn hơi sữa so với sự cổ xưa đích thực của các ngôn ngữ chưa có chữ viết. Trước khi xuất hiện chữ viết, những biến đổi tận gốc rễ trong tiếng nói của nhân loại đã diễn ra nhiều tới mức khoa học ngày nay đang giả định và cho rằng hình như từng tồn tại vô số ngôn ngữ chủng tộc có chung một nguồn gốc.  Di tích bằng các ngôn ngữ văn hóa viết đã giúp khẳng định tư tưởng sai lầm chết người như thế đối với khoa học về ngôn ngữ, rồi bằng hình thức đã bị đóng băng của ngôn ngữ viết và nội dung có nguồn góc giai cấp – xã hội, những di tích nói trêngóp phần tiếp tục khoét sâu cái tư tưởng tỏ ra nguy hại cho xã hội không kém gì sự nguy hại đối với khoa học ấy. Tất cả những điều đó bị bóc trần nhờ vào tư liệu của các ngôn ngữ cổ sơ còn sót lại cho tới tận ngày nay, nhờ vào tư liệu của các ngôn ngữ vẫn lưu giữ được bản chất lời nói của nhân loại mà nó vốn có trước khi diễn ra một số biến đổi lớn đầu tiên. Những ngôn ngữ còn sót lại ấy bây giờ được phân bố trên các vùng đảo theo thế giới cũ, cá biệt ở châu Âu (ví như Basque nằm trên biên giới giữa Tây ban Nha và Pháp) và châu Á thuộc vùng Pamir (nó là ngôn ngữ Versin chẳng mấy ai biết trong khu vực các ngôn ngữ và thổ ngữ Iran, tức là các thổ ngữ Ba Tư và các loại khác nhau của ngôn ngữ Ba Tư) và một nhóm tương đối lớn ở Kavkaz (đó là hàng chục loại ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ gốc của Kavkaz), bắt đầu ở  phía Đông từ Dagestan và phía Tây với nhóm Cherkes-Abkhaz, kết thúc ở phía Nam với các khu vực  Svan, Grushia, Megrel, (“Mingrel”) và Laze (khu vực cuối cùng giữa Batum và Trapezund, giáp với biên giới Liên Xô của chúng ta). Nối liền với những cái tổ cự kì hiếm hoi còn bảo tồn những ngôn ngữ của xã hội tiền sử (gọi một ccsh ước lệ là Japheth) là một số vùng miền đang ở thời kì quá độ từ tiền sử chuyển qua loại hình lịch sử của lời nói nhân loại. Những khu vực quan trọng nhất trong số đó là: 1) khu vực Balkan, nơi tiếng Albania có rất nhiều thổ ngữ – một loại hình quá độ với các tàn dư rõ Japheth rõ nét – bị vây chặt, chèn ép giữa các ngôn ngữ Slavo, Hy Lạp, Roman (giờ là tiếng Ý) và đặc biệt 2) khu vực Volga nơi tiếng Chuvas vẫn còn bảo tồn gần như nguyên vẹn diện mạo tiền sử tự nhiên của Japheth giữa vòng vây của tiếng Nga, tiếng Thổ Nhĩ Kì, tiếng Phần Lan và nhiều thổ ngữ, lại thêm 3) ở châu Phi khu vực Berber Hamit nằm giữa Semit. Nhưng tất cả những ngôn ngữ có vẻ như xa lạ, khác chủng tộc ấy chỉ là biến thái của các ngôn ngữ Japheth. Đã từng có thời, vào thủa bình minh của nhân loại, thời dài hơn rất nhiều so với sự tồn tại của tất cả các ngôn ngữ đã được gọi tên và các ngôn ngữ lịch sử khác, khi vô số ngôn ngữ cùng có chung bản chất Japheth, khi chẳng riêng gì đại lục Âu-Á, mà toàn bộ khu vực Á-Âu-Phi đều là nơi đám con cháu Japheth cư trú. Nhân thể nói thêm, nền văn hóa chữ viết Địa Trung Hải, tiền Ấn-Âu, dĩ nhiên là xuất hiện trước Hy Lạp, và giống như nó, văn hóa Tiểu Á vẫn được gọi là Hittite và văn hóa Lưỡng Hà cổ xưa nhất, mà chính là Sumer cổ, cũng như Elam đều được viết bằng các ngôn ngữ Japheth như thế. Một hướng tiếp cận đúng đắn như thế với nền văn minh ấy hiện tại nằm trong tay chủ yếu các học giả Nga và các học giả Liên Xô chúng ta.

Ngôn ngữ được hình thành trong chiều dài của rất nhiều thiên niên kỉ nhờ bản năng tập thể của xã hội dựa trên tiền đề nhu cầu kinh tế và tổ chức sản xuất. Trong ngôn ngữ, cái có tầm quan trọng như những nhân tố không hẳn thuộc về các dữ liệu sinh lí học, mà chủ yếu thuộc về quan điểm xã hội và ý tưởng tổ chức. Chúng ta không chỉ không tìm thấy trong bất kì bộ lạc nào , ngay cả bộ lạc Japheth, những tổ chức đơn giản, những đại diện còn nguyên sơ của loại tiếng nói thuần chủng, mà trong thực tế chúng chưa từng tồn tại bao giờ. Sự giao nhau đóng vai trò cơ bản trong bản thân sự xuất hiện và sự phát triển đầy sáng tạo về sau của các ngôn ngữ. Càng giao cắt nhiều hơn, thì bản chất và hình thức của tiếng nói xuất hiện nhờ kết quả của sự giao cắt ấy càng cao. Tiếng nói lí tưởng của nhân loại tương lai đó là sự giao nhau của tất cả các ngôn ngữ, nếu như đến lúc đó một phương tiện kĩ thuật khác chuyển tải tư tưởng của nhân loại chính xác hơn vẫn chưa kịp thay thế tiếng nói phát ra bằng âm thanh. Trước mắt, nhiệm vụ của ngôn ngữ học hiện đại là nghiên cứu kĩ thuật sáng tạo ngôn ngữ nhằm tạo thuaatn lợi và đẩy nhanh tiến trình đang diễn ra trong việc chuẩn hóa ngôn ngữ, dù gặp nhiều dích dắc nhưng tiến trình này đang vững bước cùng tiến trình chuẩn hóa nền kinh tế thế giới.

Quan niệm về sự trưởng cửu của một loại ngôn ngữ nào đó, cho dù ngôn ngữ ấy hoàn hảo đến đâu, cũng chỉ là ảo tưởng, ví như học thuyết của khoa học châu Âu hiện đại về nguồn gốc của các ngôn ngữ Ấn – Âu xuất phát từ một ngôn ngữ Ấn – Âu duy nhất. Đó là câu chuyện cổ tích, có thể hấp dẫn với con trẻ, nhưng là phương tiện vô bổ với công cuộc nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Ngược lại, mỗi ngôn ngữ, bao gồm cả tiếng Nga, cần được nghiên cứu trong lát cắt cổ sinh học của nó, tức là trong phối cảnh của các lớp trầm tích theo thứ tự trước sau, độc lập với các tầng xen kẽ vốn là kết quả giao lưu kinh tế liên bộ lạc chặt chẽ hơn ở các thời đại lịch sử muộn hơn với các ngôn ngữ mới, giống tiếng Nga, cũng như  giao lưu với các biến thể của các ngôn ngữ Japheth, thêm vào đó, nếu quan sát kĩ, các ngôn ngữ – biến thái hóa ra là các ngôn ngữ được hình thành độc lập, có đặc điểm riêng, giống hệt tiếng Nga, tất cả các ngôn ngữ ấy tồn tại trong nhiều quan hệ tương hỗ, chúng biểu lộ rõ tàn tích của những mối liên hệ hợp qui luật,  những mối liên hệ này tạo nên đặc điểm của các ngôn ngữ thuộc hình thái trước kia mà chúng thoát thai từ đó giống như thoát ra từ kén bướm.

Với ý nghĩa như thế, trong việc nghiên cứu tiếng Nga từ góc độ nguồn gốc của nó, ngoài ngôn ngữ Chuvas vùng Volga, việc am tường các ngôn ngữ  tiền Slavo, tiền Thổ Nhĩ Kì, Bulgaria, Hazar, Sarmat, Skif, Kimer, Shumer, những ngôn ngữ được thể hiện tuyệt vời nhất, như chúng tôi sẽ phân tích dưới đây, trong lời nói sống động của các dân tộc Japheth còn sót lại như Kavkaz, Pipenhev và các vùng tương có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều so với việc biết tiếng Phạn, tiếng Hy Lạp, hay ngôn ngữ Roma – Đức. Đồng thời, vấn đề về ngôn ngữ Nga không thể tách khỏi vấn đề về các cổ vật ở lãnh thổ do chính người Nga chiếm giữ thường vẫn đang được bảo tồn dưới lòng đất (khảo cổ học) hay trong sinh hoạt đời sống thường nhật của các tổ chức bộ tộc gần nhau về ngôn ngữ (nhân chủng học). Là sản phẩm sáng tạo của xã hội, lịch sử văn hóa vật chất gắn chặt với lịch sử tiếng nói của nhân loại, ở thời tiền sử, mối liên hệ ấy càng sâu sắc và mạnh mẽ. Trong các di tích văn hóa vật chất, mối liên hệ giữa vùng Volga – Kama với vùng Kavkaz hoàn toàn phù hợp với mối liên hệ ngôn ngữ của ccs khu vực ấy, mối liên hệ ngôn ngữ ở đây thường gần gũi tới mức khiến chúng giống như hai mắt xích của một sợi xích được tháo rời ra. Không tính đến những mối liên hệ ngôn ngữ mang tính qui luật ấy, sẽ không thể tiến hành bất kì một công việc nghiên cứu về mặt nguồn gốc nào, cả nghiên cứu lịch sử văn hóa vật chất, lẫn nghiên cứu lịch sử xuất hiện các ngôn ngữ mà lịch sử sau này của cả người Nga lẫn người Phần lan bắt gặp.

Nhưng ngay ở đây tình thế hiểm nghèo của ngôn ngữ học Japheth lập tức lộ diện. Đến lúc bắt tay vào việc, thấy hóa ra các nhân viên nghiên cứu ngôn ngữ vẫn chưa đạt tới cái ngưỡng mà công việc đòi hỏi cả về mặt lợi ích trừu tượng của lí thuyết mới, lẫn lợi ích đời sống – thực tế của chính xã hội hiện đại của chúng ta với xu hướng  giải phóng tất cả các ngôn ngữ trong lòng Liên Xô và khát vọng giải phóng quốc tế trên phạm vi toàn cầu. Trường phái ngôn ngữ học Ấn-Âu đang giữ vị trí chủ đạo không thừa nhận và cũng không thể thừa nhận lí thuyết Japheth bởi vì lí thuyết này không chỉ lật nhào những luận điểm cơ bản của nó, tựa như huyền thoại về một ngôn ngữ thủy tổ, mà còn đốn gẫy phương pháp nghiên cứu cơ bản của nó, nhất là phương pháp so sánh – hình thức. Do thiếu vật liệu trong tầm nhìn, ngôn ngữ học Ấn – Âu không thể chiếm lĩnh bình diện cơ bản của lịch sử ngôn ngữ do ngôn ngữ học Japheth vạch ra, cụ thể là sự xuất hiện và sự phát triển  của thời đại tư duy tiền logic, của các ý nghĩa từ ngữ trong quan hệ hữu cơ với xã hội và với hoạt động sáng tạo ở lĩnh vực văn hóa vật chất ở tất cả các thời đại ấy trong giai đoạn tiền sử (cổ sinh học lời nói và ngữ nghĩa học di truyền). Không thể nói tới chuyện dung hòa lí thuyết mới với lí thuyết cũ về các vấn đề có tính nguyên tắc, nếu các nhà Ấn – Âu học không từ bỏ những luận điểm cơ bản của họ. Tôi xem ý đồ ném ra một cây cầu của một vài trong số rất ít học trò và các môn đệ là công việc gây tác hại hơn nhiều so với ý muốn của tuyệt đại đa số các nhà ngôn ngữ Ấn-Âu học vẫn khinh bỉ sâu sắc ngôn ngữ học Japheth. Tuy vậy, chúng ta vẫn cần phải có nhân viên, khi tạm thời chưa tìm được những nhân viên ưu tú nhất về mặt kĩ thuật một cách ồ ạt, chúng ta vẫn cần tới những nhân viên trong đội ngũ các nhà Ấn-Âu học nếu chúng ta tìm được những đề tài thích hợp để lôi cuốn họ. Đề tài của ngôn ngữ học Japheth không thể kể hết. Các đề tài ấy: thứ nhất: đề tài đại cương, dân tộc học, ví như các vấn đề về nguồn gốc của ngôn ngữ hoặc cổ vật thời tiền sử, thứ hai: đề tài văn hóa – lịch sử liên quan tới các di tích chữ hình góc, cạnh (“кли́нопись”, “cunéiforme” – ND) viết bằng các ngôn ngữ Japheth, hoặc nguồn gốc truyện kể và nhân vật của cái được gọi là sáng tác văn học dân tộc có nguồn gốc dân gian, thứ ba: nghiên cứu thời tiền sử của một dân tộc lịch sử nào đó, thứ tư: những vấn đề thời sự, xã hội đang không ngừng trở thành các đề tài khoa học tối quan trọng, ví như đề tài về các ngôn ngữ không có chữ viết hoặc ngôn ngữ có văn tự còn trẻ, những đề tài ấy là mối quan tâm của dân tộc này hay dân tộc khác ở thời đại chúng ta đang trải qua. Qua rất nhiều trong số các đề tài ấy, các nhà dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử học, thậm chí cả các nhà lịch sử văn học, cũng như đại diện của nhiều quốc gia cộng hòa đang ngả về phía chúng ta, và công việc đang tiến hành thuận lợi.

Nhưng công việc sẽ được triển khai hiệu quả hơn và mạnh mẽ hơn nếu lôi cuốn được cộng sự là các nhà ngôn ngữ học Ấn –Âu chuyên nghiên cứu các loại ngôn ngữ đa dạng nhất, ngôn ngữ phương Tây và phương Đông, nghiên cứu độc lập với lí thuyết Japheth. Nhưng chính việc thu hút các ngôn ngữ vốn hoàn toàn xa lạ với nhau vào công trình nghiên cứu chung là một trong những thành tự cơ bản của lí thuyết mới. Việc học thuyết Japheth nghiên cứu thấu đáo bộ phận lời nói quan trọng lời nói ví như số từ có hệ quả và ý nghĩa thực tiễn cực kì lớn lao. Vấn đề về ngôn ngữ thống nhất của nhân loại dù dứt khoát sẽ tìm được cách giải quyết tốt đẹp, nhưng dĩ nhiên nó sẽ còn là công việc của tương lai rất xa. Việc xác lập một hệ thống thuật ngữ chung về các chữ số dành cho toàn bộ thế giới văn minh có thể sẽ được hoàn thành theo cách thức của các thành tựu văn hóa trong đời sống của nhân loại, ví như một hệ thống thước đo chung, một loại lịch chung v.v… Lại nữa, dù bàn về lí thuyết hay thực tiễn, bản chất công việc bao giờ cũng ở các con số gắn liền với kĩ thuật. Ở chỗ này nhà duy tâm chủ nghĩa thâm căn cố đế nhất không thể chia tay với nhà duy vật chủ nghĩa. 

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: N.Ja. Marr – Tác phẩm chọn lọc. T.1, L., 1933, Tr. 217 – 220

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: