SƠ ĐỒ TRUYỆN KỂ

 N.D. Tamarchenko

Là mô hình cấu trúc ổn định về mặt lịch sử, là cái “sườn” cố định của vô số truyện kể nào đó trong thực tế, là một tổ hợp các motif ràng buộc lẫn nhau, trình tự của chúng bao giờ cũng giống nhau, còn ngữ nghĩa thì đã được truyền thống định hình.

Người ta thường phân biệt Sơ đồ Truyện kể phổ quátSơ đồ Truyện thể loại. Trình tự chức năng được sử dụng trong cổ tích thần kì mà V.J. Propp đã chỉ ra là thí dụ về Sơ đồ Truyện kể thể loại: sự phát triển của truyện kể đi từ “tai họa hoặc khiếm khuyết ban đầu”, chuyển qua một thế giới khác và nếm trỉa đủ loại thử thách, cuối cùng, quay trở về, rồi kết hôn, đăng quang. Hoặc cơ sở cấu trúc anh hùng ca của các truyện kể sử thi do O.M. Freidenberg xác lập: “biến mất – tìm kiếm – tìm thấy”. Một thí dụ khác – “sơ đồ truyện kể giản lược điển hình” của các tiểu thuyết phiêu lưu thử thách Hy Lạp do M.M. Bakhtin khái quát: “các yếu tố (motif)” lặp lại mà truyện kể của “tất cả các tiểu thuyết ấy” dựa vào đó để “kiến tạo” được liệt kê theo lôgic nối tiếp theo nhau tạo nên quan hệ ngữ nghĩa của chúng (Các hình thức thời gian và không-thời gian trong tiểu thuyết, tr. 237-238). Tiểu thuyết phiêu lưu – lịch sử ở biến thể của Walter Scott cũng có một Sơ đồ Truyện kể mang tính đặc thù riêng.
Cách đây chưa lâu, theo sau A.N. Veshelovski, truyện kể chu kì được xem xét trước tiên như là Sơ đồ Truyện kể phổ quát. Nó là nền tảng của hàng loạt Sơ đồ Truyện kể thể loại, đặc biệt là truyện kể cố định của cổ tích thần kì mà người ta có thể qui vào dạng “hành trình tới đó và quay về”, các truyện kể sử thi, cũng như tiểu thuyết phiêu lưu thử thách, loại tiểu thuyết trình bày cuộc hành trình của nhân vật vào một thế giới khác rồi quay về điểm xuất phát ban đầu. Ở tất cả các trường hợp, cái luôn được duy trì là: thứ nhất, cấu trúc truyện kể ba thành phần, thứ hai, ngữ nghĩa của các Sơ đồ Truyện kể ấy: hạt nhân ngữ nghĩa của chúng là tình huống vượt qua ranh giới giữa các thế giới sinh và tử theo cả hai hướng, tức là hình tượng “cái chết-phục sinh”. Chắc chắn F.F. Zelinski là người đầu tiên đưa ra ý kiến về sự tồn tại song song trong lịch sử sáng tạo ngôn từ hai sơ đổ-đối cực phổ quát  (kịch tính “xâu chuỗi” và “tập trung” trong hài kịch cổ đại), điều này rõ ràng đã ảnh hưởng tới sự xuất hiện vào những năm 1960 – 1970 quan niệm về sự phân cực của các loại hình truyện kể theo trật tự “biên niên” và “đồng tâm” (G.N. Pospelov). Quan niệm của Y.M. Lotman về cấu trúc tạo sinh văn bản theo kiểu chu kì và tuyến tính mang lại cho lí thuyết truyện kể sự thay đổi có triển vọng nhất. Trong lí thuyết truyện kể hiện đại xuất hiện quan niệm cho rằng Sơ đồ Truyện kể thứ hai là loại hình truyện kể lũy tích, cũng như sự bổ sung lẫn nhau về mặt ngữ nghĩa và chức năng của các Sơ đồ Truyện kể lũy tích và chu kì.

Có cơ sở để chấp nhận giả định, theo đó hai Sơ đồ Truyện kể phổ quát gắn với hai loại hình nhân vật thời cổ sơ từng tạo ra vô số biến thể trong sự phát triển của văn học sau này: “anh hùng văn hóa” và “bản sao ma quỉ-hài hước” của nó (E.M. Meletinski): “thằng Cuội”[1].

Người dịch: LN

Nguồn: Поэтика: Словарь актуальных терминов и понятий (гл. Науч. Ред. Н.Д. Тамарченко) – М., Изд. Кулагиной, Intrada, 2008. Cтр.258-259

[1] Tiếng Nga “трикстер”, gốc tiếng Anh “trickster” – là mẫu gốc trong huyền thoại, văn hóa dân gian và tôn giáo, nó là thần thánh, người, hoặc sinh vật mang hình người thực hiện những hành vi trái với luật lệ, hay chí ít, không theo các luật lệ ứng xử chung.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: