CÁ NHÂN TỰ QUYẾT VÀ CÁI “TÔI” PHI CỔ ĐIỂN

S.N. Broitman

Chúng tôi đã nói tới trình độ cao của ý thức cá nhân trong hệ hình thi pháp điển phạm, nhưng cũng nhấn mạnh rằng nó được đặt trên nền tảng can dự thiếu độc lập của con người  trước Thượng đế và thế giới. Trước mắt chúng ta vẫn chưa phải là “hiện tượng con người”, mà mới chỉ là điển mẫu của con người, là cá nhân hệ hình chưa có không gian nội tại độc lập và trong đáy sâu tâm hồn, nó chỉ là “người khác”, chứ chưa phải là bản thân mình.

Thời đại mới đã phát hiện ra con người cá nhân với toàn bộ sự độc đáo và giá trị tự thân của nó.

Phần được đánh giá cao nhất trong cá nhân giờ đây không phải là những gì đưa nó tiến gần tới ý niệm trừu tượng về con người, mà là sự khác biệt giữa nó với những người khác trong sự tham dự với họ một cách độc lập, là sự hy hữu của nó, là cái “duy nhất của duy nhất” (M.M. Bakhtin). Đây là cơ sở để xuất hiện định hướng mĩ học nhắm tới sự độc đáo của các giải pháp nghệ thuật, một sự độc đáo chỉ có thể được sinh ra ở thời nay. Chúng ta, những người được nuôi dưỡng bằng văn học thế kỉ XIX – XX, cảm thấy định hướng ấy là đương nhiên, nhưng mọi việc không hẳn đơn giản như vậy. Nó là dấu hiệu của nền mĩ học mới (theo J.M. Lotman, đó là “mĩ học đối lập”), hoàn toàn khác với các nền mĩ học trước kia, – một lớp cực mỏng của một cấu tạo mới bên trên ngon núi truyền thống khổng lồ: “trong lịch sử nghệ thuật thế giới, nếu gộp chung lại, các hệ thống nghệ thuật gắn phẩm chất thẩm mĩ với sự độc đáo chỉ là ngoại lệ, chứ không phải qui luật”[1].

Ngày nay, cá nhân không chỉ hiểu rõ tính chất đặc biệt của mình, nó còn trở thành “mực thước trong thế giới dùng để đo đạc toàn bộ ý nghĩa thế giới” (A.V. Mikhailov). Không nên lẫn lộn quan niệm ấy với thuyết lấy con người làm trung tâm. Ở đây muốn nói tới thái độ phản ứng với tất cả các mô hình hành vi và vũ trụ quan của phương Tây: “Với cái “tôi” như thế, tất cả những gì đã trở nên quen thuộc đều không thuộc về nó, tất cả đều phải được sinh ra một cách mới mẻ từ bên trong thế giới của nó… Chẳng có gì là hoàn bị với cái tôi ấy, tất cả đều nằm trong phạm vi thước đo cá nhân của nó, và bây giờ mọi chuyển động tinh thần, mọi lời nói đều thuộc về nó và chỉ thuộc về nó như một tài sản cá nhân”[2].

Cần phải hiểu chính xác quan điểm nói trên. Vấn đề không phải là ở chỗ, giờ đây con người chẳng còn tin vào cái gì, cái gì nó cũng muốn tự mình kiểm tra, thấy rõ. Vấn đề còn sâu sắc hơn nhiều. Ở đây không đơn giản là kiểm tra những tư tưởng có sẵn bằng kinh nghiêm cá nhân để sau đó nhất trí với chúng hoặc bác bỏ chúng, mà là quan niệm cho rằng,  ý nghĩa bao giờ cũng mang tính cá nhân, nó do con người tạo ra và không tồn tại dưới dạng có sẵn, trừu tượng tách biệt khỏi con người.

Sử dụng thuật ngữ triết học, có thể nói, trong thi pháp điển phạm, cái “tôi” là “tôi – cho  – người khác”. Giờ đây đã sinh ra một cái “tôi – cho – tôi”, một chủ thể tự quyết, tự đồng nhất theo một ý nghĩa mới.

Nhưng sự phát hiện ra con người cá nhân mang giá trị tự thân có lịch sử đầy kịch tính và nó đã trải qua con đường từ quan niệm về cái “tôi” tự đồng nhất và ngang bằng với bản thân đến quan niệm về cái “tôi” phi cổ điển. Vấn đề nằm ở chỗ, chính quan niệm về sự tự quyết của cái “tôi” đã giúp ta nhìn thấy quan hệ giữa nó với “người khác” dưới ánh sáng sâu sắc hơn. Ai cũng thấy,  “tôi” chịu sự chế định không phải từ phía bên ngoài, mà là ở bên trong, nó gắn kết nội tại với người khác tới mức nếu tách ra khỏi sự thống nhất đó nó  sẽ trở thành bản thể trừu tượng; hình thức tồn tại thực tế của cá nhân không phải là cái “tôi” biệt lập, mà là sự thống nhất hai mặt (“hai bình diện”), cái “tôi – người khác”.

Công thức này là biểu hiện của sự “tham dự tự quyết” (M.M. Bakhtin) tạo thành nền tảng của hiện tượng con người. Xin nhấn mạnh, trong định nghĩa nói trên, M.M. Bakhtin đã “hợp nhất” sự “tự quyết” tách biệt và sự “tham dự” nguyên hợp (đinh luật tham dự của Lévy-Bruhl) do nhìn thấy chỉnh thể của chúng như một tình thái và được nối kết bằng các quan hệ đối thoại.

Nói cách khác, quan niệm về con người cá nhân đã được mở rộng bằng nguyên tắc bổ trợ, nó được hiểu như là thước đo nội tai luôn thay đổi giữa “tôi” và “người khác”, như là sự tương tác năng động, có tính chất tình thái, “lưỡng cực” của chúng. Chúng ta thấy phát hiện nói trên ở giai đoạn bản lề thế kỉ XVIII – XIX và được khoa học nhận ra ở thời đại chúng ta có ý nghĩa to lớn như thế nào đối với thi pháp học.

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: S.N. Broitman – Lí luận văn học (2 tập, Chủ biên N.D. Tamarchenko). Tập 2. M., “Academa”, 2004. Tr. 222-223.

[1] J.M. Lotman – Cấu trúc văn bản nghệ thuật.- M., 1970, tr. 349.

[2] A.V. Mikhailov – Số phận của di sản cổ điển ở giai đoạn bản lề thế kỉ XIX – XX// Cổ điển và hiện đại.- M., 1991. – Tr. 160

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: