NGHỆ THUẬT THUỘC VỀ NHÂN DÂN (Sự nhào nặn người đọc)

E. Dobrenki

(Tiếp theo và hết)

Nhà nước hóa người đọc, hay là từ người đọc kinh nghiệm đến người đọc lí tưởng

“Tính nhân dân” của thư viện Liên Xô, như đã nói, không phải do cách mạng sinh ra, mà đã lớn lên ở nước Nga từ trước đó rất lâu. Gốc rễ của nó nằm trong các “thư viện phổ cập” nhân dân. Ngay từ thế kỉ XIX, trong các nhóm quần chúng Nga, tính “phổ cập” ấy đã được hiểu theo kiểu riêng: sự biến đổi “dân chúng” thành “độc giả” một cách mạnh mẽ, có thể nói, mang tính cách mạng. Vì thế, nằm ở vị trí hàng đầu hóa ra không phải là thư viện cần phải (theo chuẩn mực phương Tây) trở thành phổ cập, mà là người đọc tiềm năng của nó – không phải là công chúng đọc, mà là quần chúng không đọc. Ở nước Nga, ngay vào nửa sau thế kỉ XIX đã hình thành, và sau này chiếm vị thế chủ đạo, quan điểm xã hội – sư phạm về công tác thư viện đối lập với quan điểm “chuộng sách” (bibliophilie) và “giáo dục – duy lợi” (giúp độc giả tự giáo dục).

“Thời kì xã hội – sư phạm” trong lịch sử thư viện trùng hợp một cách tự nhiên với thời đại sau cách mạng. Những quan điểm lí thuyết mới phù hợp với nó. Cho nên, N. Rubakin đưa ý thức và sự hiểu, chứ không phải tri thức, xem “tác động đến trí tuệ và sự phát triển tình cảm của độc giả”, chứ không phải phổ biến tri thức, lên vị trí hàng đầu. Đây là cơ sở của những khuyến nghị cụ thể cho việc hình thành cấu trúc sách của “hạt nhân thư viện”, tạo ra các “bảng tổng kê khuyến nghị” trong các thư viện đại chúng (không lâu sau đó chúng thay thế hoàn toàn các tổng kê truyền thống do “chủ nghĩa khách quan” của chúng)  và các “hệ thống đọc”.

Trong thực tế, toàn bộ lí thuyết của Thư viện ở những năm 1920 – qua các đại biểu của nó như N. Krupskaya, Pokrovski, B. Borowicz, D. Balik, V. Nhevski, M. Smushkova, E. Khlebtsevich, I. Tzaregradski, E. Mendynski – đã  đặt nền tảng, phát triển, “đưa vào đời sống” quan điểm xã hội – giáo dục về thư viện (trong bối cảnh trí thức – dân túy thuần túy ấy, cần đánh giá những cuộc thanh lọc thư viện: ở đây lí tưởng của giới trí thức trùng hợp với lợi ích của chính quyền), nó đưa nhiệm vụ nhào nặn độc giả lên bình diện thứ nhất, không xem sách và tri thức là mục đích mà chỉ thấy ở đó một phương tiện (“công cụ”) để giáo dục quần chúng.

Quan điểm xã hội – giáo dục có những kết quả phi lí: một mặt, sự sùng bái sách được thay bằng sự sùng bái độc giả, mặt khác, (ở “giai đoạn mới”) – độc giả với toàn bộ lợi ích của họ bị loại hoàn toàn ra ngoài hoạt động thực tiễn của thư viện, còn bản thân thư viện thì được biến thành một cái gì đó lớn hơn rất nhiều so với nơi lưu trữ và tiêu thụ sách.

Ở những năm đầu sau cách mạng, mối quan tâm lớn nhất ở các môn đồ  của nền văn hóa mới là các “phòng – đọc”[1]. Những luồng sách khổng lồ đã được chuyển về đây. Vào những năm 1918 – 1923, N. Krupskaya đã cho rằng phòng – đọc chính là nguyên mẫu lí tưởng của thư viện trong tương lai và những nỗ lực lớn lao đã được dồn vào việc mở rộng mạng lưới của chúng: trong những năm 1920 – 1921, đã có tới hàng chục ngàn nhà – đọc như vậy.

Chuyển đổi các thư viện thành những trạm tuyên truyền giáo dục chính trị tại chỗ là đường lối nhất quán của chính quyền mới. Sự chuyển đổi này là một tiến trình lâu dài, bắt đầu ngay từ sau cách mạng. Trong bài báo có tính cương lĩnh Cán bộ thư viện là nhà tổ chức đời sống, ngay từ năm 1924, tạp chí thư viện trung tâm của nhà nước đã dạy: “Người cán bộ thư viện phải tạo ra trong thư viện tâm trạng gần như ở câu lạc bộ”. Trong thực tế, điều đó có nghĩa là không yêu cầu phải giữ trật tự trong thư viện- ngược lại, “mặc cho những cuộc trò chuyện với những người đàm đạo diễn ra thoải mái, không có hạn chế nào cả, không nên có định kiến và không cần phải nghĩ tới những người nghe còn lại”. Tất cả các nấc thang mà “công việc phải tiến lên từ thư viện tới chỗ hoàn tất của nó – ấy là câu lạc bộ”[2].

Nhưng cũng không nên nghĩ rằng vào những năm 1930, chính quyền cự tuyệt “cánh tả” để đưa thư viện quay về với dòng chảy trước kia: sự quay trở lại bức tường thư viện treo những bức chân dung của các tác gia kinh điển chỉ làm lu mờ những cách tân của thư viện xô viết như một thiết chế của nhà nước – đảng. Đến năm 1939, công cuộc xây dựng đã hoàn thành thắng lợi.

Sự thiếu phân hóa các chức năng của thư viện xô viết ở thời kì đầu (vừa là câu lạc bộ, vừa là trạm giáo dục tư tưởng chính trị) có thể giải thích bằng lí do sau đây: không thể thay nhà thờ bằng một tổ chức có chức năng hẹp. Không phải ngẫu nhiên mà thư viện thường trở thành một trọng tâm trực tiếp tuyên truyền chống tôn giáo. Trở thành “lò lửa của nền văn hóa mới”, thư viện nhanh chóng mất đi chức năng thư viện của nó. Nó làm việc “bên ngoài các bức tường thư viện” ngày càng nhiều hơn: tổ xây dựng tủ sách lưu động, mang sách đến nhà máy, công xưởng, tổ chức trạm bán sách, góc đỏ trong các nhà ăn tập thể, kí túc xã, các bệnh viện và dinh trại công nhân. Hội đồng thư viện là ý tưởng của L.Trotski được ông đưa ra tại Đại hội thư viện toàn Liên Xô vào tháng 7 năm 1924. Là cơ quan lãnh đạo tập thể đối với thư viện, Hội đồng thư viện dưới dạng lí tưởng cần hợp nhất người đọc với các thủ thư. Mặt khác, nó phải trở thành cơ quan kiểm soát thư viện. Trong công tác của các nhà xuất bản, đơn vị gánh vác chức năng tương tự như thế là Hội đồng biên tập công nhân – theo định nghĩa của tạp chí RAPP, nó là “cơ quan nối kết nhà xuất bản xuất bản với công chúng độc giả công nhân, cơ quan kiểm soát xã hội đối với công việc xuất bản nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của độc giả vô sản”[3].

Nhưng đến những năm 1930, “chế độ dân chủ vô bờ bến” như một sự lại giống của thời đại cách mạng đã thực sự sống hết tuổi đời của nó. Khẩu hiệu “tuyên truyền sách”, “thu hút bạn đọc đến với thư viện”, “đưa sách đến với quần chúng” giờ đây được thay bằng yêu cầu mới: chỉ đạo độc giả – giám sát sự đọc và kiểm soát phản ứng của độc giả.

Ý tưởng chỉ đạo sự đọc xuất hiện ngay từ những năm đầu tiên sau cách mạng. Nhưng trước những năm 1930, nó chưa trở thành phương pháp và chỉ được thực hiện dưới hình thức xem xét lại các quỹ sách. Đồng thời, lúc ấy quan niệm chỉ đạo sự đọc do các nhà lí luận tả khuynh nhất đặt nền móng. Chẳng hạn, “…khi độc giả được cung cấp không hẳn là cái mà anh ta muốn, mà chủ yếu là cái mà anh ta cần”, V. Nhevski ra sức bảo vệ cách tiếp cận như thế này đối với công tác thư viện: “Chẳng lẽ bác sĩ – trị liệu kê đơn thuốc theo khẩu vị và yêu cầu của bệnh nhân?”, ông nêu câu hỏi và tự trả lời: “Không!  Đơn thuốc sẽ được kê theo công dụng khách quan của chúng. Đã đến lúc cung cấp sách – nó thuốc tâm lí mạnh nhất – theo dấu hiệu lợi ích khách quan của chúng, chứ không phải theo nguyên tắc “người ta muốn cái gì”[4]. Hệ thống quan điểm của V. Nhevski là kiểu mẫu hoàn chỉnh của tư tưởng nhà nước hóa sự đọc theo luật lệ cách mạng – giai cấp của nó. Trong bối cảnh của Liên Xô sau này, hệ thống quan điểm ấy không được thực hiện đầy đủ, nhưng nhìn đại thể, nó có nhiều ý nghĩa tích cực.

Trên cơ sở ấy, về sau này  xuất hiện quan niệm được gọi là “đọc theo kế hoạch”, nó được áp dụng cho các “danh mục giới thiệu” và “chỉ dẫn giới thiệu thư viện” vào giai đoạn 1930 – 1950. “Đọc theo kế hoạch ấy là khi người đọc ghi tên mình vào một “kế hoạch” cụ thể và đọc “theo một hướng cần thiết”, dựa trên hiện tượng thực tế có thể xác định như trang giấy trắng của ý thức độc giả hoàn toàn vắng bóng chân trời đón đợi của người đọc. Kết cục, đọc không còn là tiến trình mang ý nghĩa tự thân, nó tìm thấy viễn tượng mục đích luận, dần dần vươn tới đỉnh cao – “văn học chính trị – xã hội”.

Trong thực tế, trước mắt chúng ta là mô hình không hẳn chỉ áp dụng trong thư viện, mà chủ yếu được áp dụng trong nhà trường xô viết. Từ những năm 1930, hệ thống hữu dụng lí tưởng dành cho tờ giấy trắng của ý thức trẻ thơ ấy đã được mã hóa trong chương trình của nhà trường. Vào những năm sau này, “sự chỉ đạo đọc”, “đọc theo kế hoạch” như là những đặc điểm quan trọng của độc giả mới, độc giả lí tưởng đạt tới hình thức hoàn chỉnh, đúc lại thành công thức dập khuôn: “Chỉ đạo đọc là bộ phận công việc quan trọng nhất, khăng khít nhất của mỗi cán bộ thư viện xô viết, người có trách nhiệm giúp độc giả nâng cao trình độ tư tưởng – lí luận và văn hóa, sở đắc các tri thức xã hội”[5]. Người ta đề nghị lấy “đọc theo kế hoạch” để giám sát hoạt động “tự giáo dục” và thanh thiếu niên vô học. Tiến trình tái giáo dục xem ra phù hợp với mĩ học của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa theo cách sau đây (theo kinh nghiệm của thư viện mang tên I.Z. Surikov ở quận Kominterski, Moskva): “Nữ đoàn viên Z.N. Solomatina 19 tuổi, học xong lớp 7, ghi tên vào thư viện cuối năm 1950. Thời gian ấy cô làm kiểm soát viên – phân loại sản phẩm tại phân xưởng khâu của nhà máy đóng giày mang tên Kapranov. Cô tốt nghiệp khóa học kĩ thuật và trở thành nhân viên phân loại sản phẩm – kiểm soát viên ở bộ phận tiếp nhận giày thành phẩm, một công việc đòi hỏi phải có kiến thức về toàn bộ tiến trình công nghệ. Z.N. Solomatina nói rằng thư viện đã giúp cô trưởng thành trong sản xuất và văn hóa chung.

Lần đầu làm quen với Z.N. Solomatina, nhân viên thư viện đã phát hiện rằng cô nắm vững các kĩ năng lựa chọn sách. Nữ độc giả biết sử dụng thư viện của nhà máy, nơi có thể đọc sách về công nghệ. Dần dần, nhân viên thư viện có ấn tượng rằng Z.N. Solomatina là độc giả biết suy nghĩ, quan tâm tới nhiều vấn đề, nhưng thiếu tính hệ thống.

– Cô có muốn biết thời gian gần đây cô đã đọc những gì không? Một lần N.I. Libedeva hỏi Z.N. Solomatina. Nữ độc giả tỏ ra vô cùng thú vị trước lời đề nghị ấy.

– Thực tế tôi đã mượn rất nhiều sách, nhưng không biết tôi đã thâu nhận được những tri thức gì? Nữ độc giả trả lời.

Cán bộ thư viện và Z.N. Solomatina cùng xem lại phiếu đọc của cô. Cô gái hiểu ra rằng cô đã đọc thiếu hệ thống và chẳng có kế hoạch gì cả. N.I. Libedeva đề nghị cô xem phiếu đọc của Bogomolov, một người đọc theo kế hoạch.

– Tôi sẽ cho cô xem phiếu yêu cầu của một độc giả quan tâm tới vấn đề về nguồn gốc của trái đất. Cô xem đây, người này mượn sách không nhiều, nhưng những cuốn sách ấy làm sáng tỏ chủ đề nhiều và rất sâu sắc. Z.N. Solomatina vô cùng hứng thú quan sát danh mục những cuốn sách chàng thanh niên đã mượn.  Sự lựa chọn sách khéo léo đã thu hút sự chú ý của cô. N.I. Lebeda chỉ vào bản kế hoạch đọc đặt trong phiếu yêu cầu “Cái mới trong khoa học về nguồn gốc  và sự phát triển của đời sống trên trái đất” mà đồng chí Bogomolov đã hướng dẫn trong việc chọn sách văn học. Sau đó cô kể cho nữ độc giả nghe về  việc lập kế hoạch sẽ mang lại lợi ích to lớn cho độc giả như thế nào.

– Tôi cũng muốn đọc theo kế hoạch. Nhưng liệu ở đây có kế hoạch đọc cho các vấn đề khác không? Cô gái hỏi.

Cán bộ thư viện chỉ cho độc giả xem ấn bản đầu tiên của các kế hoạch đọc. Nữ độc giả chậm rãi lật hết tờ này đến tờ kia, cuối cùng dừng lại ở trang có in: “Con người xô viết phải là người thế nào?”. Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề ấy đã được lựa chọn. Nữ độc giả tỏ ra đặc biệt quan tâm tới các vấn đề này. Nhất là cô  đã được ba cuốn trong số 11 cuốn sách được chỉ ra trong kế hoạch. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của việc chỉ đạo đọc – chọn kế hoạch đọc lần đầu tiên – thế là đã được giải quyết. Sau đó nữ độc giả đã nghiên cứu sách viết về các chủ đề: “Cuộc đấu tranh anh hùng của những người Cộng sản ở nước ngoài chống chủ nghĩa đế quốc trộm cướp” và “Trong công cuộc bảo vệ hòa bình”[6].

Đoạn trích dẫn từ tạp chí “Thủ thư” là kiểu mẫu tuyệt vời của văn bản hiện thực xã hội chủ nghĩa. Người  đọc lí tưởng từ “đồng chí Solomatina” vụt lớn lên ngay trước mắt chúng ta chính là nhân vật hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cô sống trong không gian của văn bản văn học – với các phần trình bày (miêu tả tính chất sản xuất), thắt nút (“Tôi sẽ cho cô xem phiếu yêu cầu của một độc giả…”), đỉnh điểm (Tôi cũng muốn đọc theo kế hoạch…), mở nút (“Nữ độc giả chậm rãi lật hết tờ này đến tờ kia, cuối cùng dừng lại ở trang có in: “Con người xô viết phải là người thế nào?”). Độc giả lí tưởng trưởng thành trong chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa nói chung như một nhân vật văn học trải qua tất cả các giai đoạn trưởng thành tư tưởng – từ vô thức tới giác ngộ tự giác – những mối nguy hiểm rình rập nó (“văn học giải trí”, quỷ kế của các “thủ thư tư sản”), người ta giáo dục nó (“chỉ đạo đọc”, “đọc theo kế hoạch”, “công tác thư viện” – mối quan tâm của đảng), và cuối cùng, nó bắt gặp thế giới của cái đẹp – “con người xô viết phải là người như thế nào”.

Nhưng đọc theo kế hoạch còn có bình diện quan trọng khác về mặt văn hóa: nó biến những tác phẩm khác nhau thành một chuỗi văn học, hệ thống hóa chủ đề văn học trong ý thức độc giả, và cuối cùng, mang đến cho quá trình đọc một mục đích nào đó (giống như “đồng chí Solomatina nêu câu hỏi: “Thực tế tôi đã mượn rất nhiều sách, nhưng không biết tôi đã thâu nhận được những tri thức gì?”).

Chính việc cải tổ hệ thống thống kê của độc giả, một hệ thống biến thủ thuật hình thức thành liệu pháp có chức năng tư tưởng – chính trị, đã giúp tăng cường chức năng “chỉ đạo” ấy của thư viện. Vào những năm 1940, các thư viện đã sử dụng cái gọi là “phiếu phân tích” ghi lại vô số thông tin về độc giả – “về mối quan tâm và yêu cầu của anh ta, về đánh giá của anh ta đối với sách thư viện, về thái độ của anh ta với những lời khuyên của cán bộ thư viện. Các bản ghi chép phải chỉ ra xu hướng chính trị trong việc chỉ đạo đọc và sự giúp đỡ của cán bộ thư viện đối với độc giả”[7]. Toàn bộ quá trình thay đổi sở thích của độc giả đã được lưu giữ trong các bản ghi chép ấy (tất nhiên, nếu anh ta tin tưởng). Chẳng hạn một độc giả trước kia thích đọc truyện viễn tưởng khoa học nước ngoài nay chuyển qua đọc văn học khoa học thường thức của Liên Xô. Hay một độc giả khác trước kia thích đọc truyện viễn du nay quay sang đọc những cuốn sách “về đất nước quê hương”…

Tất nhiên, không phải bao giờ sự chỉ đạo đọc cũng mang lại kết quả tốt đẹp; nó sẽ biến thành gánh nặng hình thức (đối với sách chính trị – xã hội) khi độc giả mượn cuốn sách theo mục “cần” cùng với cuốn sách anh ta “thích”. Kiểu mẫu tuyệt vời nhất trong việc chỉ đạo đọc ở các thư viện đại chúng là hệ thống tương ứng trong quân đội. Đánh giá theo thành phần sách được đọc nhiều nhất trong các thư viện của hồng quân, thì quân đội chính là nơi hình thành mô hình lí tưởng của hoạt động chỉ đạo đọc và tổng kiểm soát sách.  Nhưng cũng chính mô hình ấy đã được mở rộng sang các thư viện đại chúng; như đã nói, các “hình thức làm việc” đều nhằm mục đích thu hút những khu vực không đọc cuối cùng chưa thể kiểm soát, “nhà nước hóa” giao tiếp (trên cơ sở sách”), làm thế nào để hình thức hóa được phạm vi giao tiếp ấy và, nhờ đó, thu hẹp nó xuống mức tối thiểu.

Nhưng thành tích hình thành độc giả mới tất nhiên được xác định không hẳn là bằng các hình thức tác động nào đấy, mà chủ yếu là bằng toàn bộ cơ chế hoạt động của sách trong những điều kiện của Liên Xô. Đơn giản, việc điều chỉnh cơ chế chỉ thấy rõ trong các bức tường của thư viện – hệ thống đọc chính yếu của nhà nước. Có thể ở mức độ lớn hơn so với mức độ trong hệ thống xuất bản hoặc hệ thống thương mại sách cảu Liên Xô. Chẳng hạn, xu hướng biến bẳng kê (catalogue) thành “giáo cụ hướng dẫn thư viện” xuất hiện ngay từ những năm 1920, rồi cuối cùng được đúc thành “lí thuyết mới về bản kê” và được tuyên bố là đỉnh cao của “khoa học thư viện xô viết”: “… Bảng kê của thư viện Liên Xô là phương tiện tuyên truyền sách và chỉ đạo đọc”. “Cuộc tuần hành bách chiến bách thắng” của lí thuyết ấy đã bắt đầu từ sau những nghị quyết tư tưởng hệ của Ban chấp hành Đảng cộng sản Liên xô (b) vào năm 1946. Theo lí thuyết này, “bảng kê hệ thống hóa dành cho độc giả thực chất là giáo cụ chỉ dẫn thư viện cơ bản dành cho độc giả thư viện”; “không có sựkhác nhau cơ bản nào cả giữa bản kê hệ thống hóa dành cho độc giả và thư tịch chỉ dẫn…”[8].  Tất nhiên, bước ngoặt ấy là kết quả của tư tưởng mà theo đó, không phải bảng kê mô tả sách báo có trong thư viện, mà ngược lại, sách cần phải tập hợp (ở dạng lí tưởng, phải được tạo ra và được xuất bản) phù hợp với yêu cầu của các phần bảng kê cụ thể; đó là cơ sở của nguyên tắc “lập bảng kê tập trung hóa”. Bảng kê (catalogue) không còn là tấm gương phản chiếu quỹ sách của thư viện, mà biến thành bộ lọc tư tưởng hệ, hoàn toàn không phù hợp với chức năng chỉ dẫn trước kia của nó.  Đồng thời, đó là hệ thống thứ hai bảo vệ người đọc trước sách vở. Hệ thống thứ nhất là cơ chế sưu tập tập trung hóa của các thư viện.

Ở thế kỉ XIX, thư viện đại chúng của nước Nga cũng không thoát được sự sưu tập theo bộ. Sự điều chỉnh của nhà nước và sự kiểm soát việc bổ sung quỹ sách được thực hiện từ năm 1890. Tuy nhiên, hoàn toàn không có độc quyền trong việc sưu tập của các “phòng – đọc quần chúng”, mà có sự kết hợp chặt chẽ lợi ích của các cơ quan và các lực lượng chính trị khác nhau: trí thức tự do, nhà nước, hội đồng tự quản địa phương (trong đó đã có sự kết hợp chặt chẽ của hàng loạt nhóm và thiết chế khác nhau) – chính điều đó dẫn tới chỗ “các quỹ sách của thư viện toàn quốc đã có tính chất thỏa hiệp do mỗi quỹ trong số những quỹ có ảnh hưởng tới sưu tập đều muốn “nhập vào quỹ ấn phẩm đại diện cho giá trị của nó”[9]. Dẫu thế nào đi nữa thì sự kiểm soát sưu tập cũng không mang tính độc quyền. Ở đây chỉ là sự đấu tranh bình thường trong việc giành ảnh hưởng đối với người đọc.

Có thể tìm thấy một bức tranh hoàn toàn khác trong thư viện Liên Xô: “Sưu tập thư viện cần phải hướng tới một mục đích cơ bản buộc các mục đích khác phải phục tùng nó: động viên ý thức và tính tích cực của người lao động được thư viện phục vụ vào việc hoàn thành những nhiệm vụ đang được đặt ra trước đảng…”[10]. Vào những năm 1930, thắng lợi của các nguyên tắc như thế trong sưu tập cho phép “mở ra lối đi vào các giá sách” (nhưng sau chiến tranh đã bị hủy bỏ cho tới sát thời tan băng). Ở thời kì diễn ra trước sự mở rộng này, các thư viện đã hoàn toàn thay “thành phần máu” – “cái có hại” đã bị thu hồi, “cái có ích” đã được nhập thêm, còn “bản thân tổ hợp sách phải thực hiện chức năng điều chỉnh sự đọc ở mức độ lớn hơn rất nhiều so với sự điều chỉnh mà tổ hợp sách bị các quầy hàng tách khỏi độc giả từng phải đảm nhiệm”. Đồng thời, “tổ hợp sách được xem là “mở” trước người đọc phải rộng rãi về mặt đề tài, nhưng bị hạn chế số lượng tiêu đề trong phạm vi mỗi đề tài riêng lẻ”, cho nên “xu hướng mở rộng tổ hợp sách tất yếu sẽ dẫn tới hạ thấp yêu cầu đối với sách được nhập vào tổ hợp, và đến lượt mình, điều đó sẽ dẫn tới chỗ biến tổ hợp mở từ công cụ điều chỉnh sự đọc thành cực đối lập của nó”. Tất cả đều tập trung vào việc làm sao để “đưa các yếu tố ngẫu nhiên trong việc chọn sách xuống mức tối thiểu”[11].

Con đường chiến thắng trên mặt trận thư viện vì thế là con đường sáng tạo ra người đọc lí tưởng.

Hạnh phúc của Korchagin hay là Người đọc Lí tưởng

Khái niệm “người đọc lí tưởng” được sử dụng ở đây hoàn toàn theo nghĩa đen, nghĩa thuật ngữ. Người đọc lí tưởng là một kiểu độc giả tương tự như tác giả, đó chính là người đọc được tác giả mô hình hóa giống như “người đàm thoại” với mình (trong sáng tác của Mandelshtam), “người bạn cùng thế hệ” (ở Boratynski). Nhưng trong trường hợp của chúng ta, tác giả là bản thân chính quyền, còn độc giả, tương tự như thế, là sản phẩm đồng sáng tạo của chính quyền và quần chúng, là “chân trời đón đợi” độc đáo của chính quyền. Người đọc lí tưởng loại này bị tước bỏ quyền miễn trừ văn hóa-phê bình, anh ta không thể tự đọc văn bản (cả hiện đại, lẫn cổ điển) “ngược với” kinh nghiệm thẩm mĩ quen thuộc và đã được hình thành ổn định, tức là đã được rập khuôn. Sự kết nối khối các “hợp tuyển chính thống” và những yêu cầu đối với độc giả mà chúng ta đã quan sát được là một trong những bằng chứng về điều trên.

Xin hãy xem tình hình đọc của thanh thiếu niên ở Moskva vào cuối những năm 1940. Năm 1948, khi kiểm tra hiệu quả “tuyên truyền của những tác phẩm tốt nhất trong văn học xô viết sau hai năm có quyết nghị của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô (b) về các tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad”[12], Văn phòng điều hành quản lí các cơ quan văn hóa – giáo dục của ngành thư viện Moskva đã gửi cho các thư viện Moskva một bản tự khai về tình hình đọc của công nhân trẻ, sinh viên các trường thủ công – kĩ nghệ  và các trường đào tạo dành cho các xí nghiệp, nhà máy. Trong số 780 độc giả trẻ, có 390 gọi tên tác phẩm yêu thích của mình là Đội cận vệ thanh niên của A. Fadeev, 170 người nêu – Thép đã tôi thế đấy của N. Ostrovski, 108 người – Truyện về con người chân chính của B. Polevoi, 77 người – Hai viên thuyền trưởng của V. Kaverin, 38 người – Những người lương tâm trong sáng của P. Vershigor, 34 người – Bất khuất của B. Gorbotov, 23 người – Lữ thuận khẩu của A. Stepanov, 18 người – Chapaev của D. Furmanov, 15 người – Zoia của M. Aliger, 13 người – Pie Đại đế của A. Tolstoi, 12 người gọi tên các cuốn Những người đồng hành của V. Panova, Vasili Terkin của A. Tvardovski, Hành trình qua đau khổ của A. Tolstoi.

Trước mắt chúng ta là Vạn thần miếu của văn học chính thống: “tác phẩm kinh điển” xô viết cộng với tác phẩm giải thưởng Stalin. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ ở sự đề cử của độc giả, mà còn ở nhu cầu đọc được định hình bởi chương trình học tập trong nhà trường cũng vậy: các phiếu tự khai đã chỉ ra rằng độc giả muốn đọc: Truyện về con người chân chính của B. Polevoi (108 phiếu trả lời), Hai viên thuyền trưởng của V. Kaverin (105), Đội thanh niên cận vệ của A. Fadeev (88), Những người lương tâm trong sáng của P. Vershigor (80), Lữ thuận khẩu của A. Stepanov (67), Bão táp của I. Erenburg (38), Hành trình qua đau khổ của A. Tolstoi (31), Bất khuất của B. Gorbatov, Vòng quay của V. Panova, Ugrium – dòng sông của V. Shishkov (mỗi cuốn 29 phiếu), Những người đồng hành của V. Panova, Vasili Terkin của A. Tvardovski , Gió từ phương nam của E. Grin (18), Trường ca sư phạm của A. Makarenko, Hạnh phúc của P. Pavlenko (16), Họ chiến đấu bảo vệ tổ quốc của M. Sholokhov, Mười hai chiếc ghế của I. Ilfa và E. Petrov[13]. Thời bấy giờ, có một ý kiến được phổ biến rộng rãi: nói chung, không ai đọc văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và toàn bộ sản phẩm đồ sộ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ là thứ quê mùa tăm tối. Như chúng ta thấy, các con số thống kê đã chứng minh điều ngược lại.

Dấu hiệu quan trượng nhất của người đọc lí tưởng là sự đồng nhất tuyệt đối bản thân mình với nhân vật, sự đồng nhất này hóa thành mong muốn thay nhân vật văn học bằng bản thân, mong muốn biến đời sống thành văn học. Khi viết rằng, độc giả “muốn tác phẩm văn học phải sinh ra tình yêu, lòng căm thù, ước mơ, khát vọng hành động, muốn đời sống đích thực hiện diện trong văn học, muốn các nhân vật của tác phẩm phải chi phối trí tưởng tượng của họ”[14], phê bình xô viết chỉ hoàn toàn lặp lại tiếng nói của bản thân độc giả: “Tôi rất muốn hành động cùng các nhân vật, xây dựng thành phố bằng bàn tay của mình, gánh vác tất cả khó khăn và trở thành đoàn viên komsomol chân chính”; “Bất giác tôi muốn ở với họ, sống với những nỗi đắng cay của họ, vui với niềm vui của họ”; “Chao ôi, muốn được lao động, vui chơi, đau khổ với những đoàn viên komsomol ấy biết chừng nào! Muốn đi đến  Viễn Đông biết chừng nào! Nếu phải xây dựng thành phố mới ngay từ đầu, thì ngay bây giờ sẵn sàng làm việc ở đấy cùng những người xây dựng thành phố yêu đời, không gì lay chuyển” (về Lòng quả cảm của V. Ketlinskaya)[15]. Lưu trữ của các nhà văn xô viết (từ các “bậc thầy” cho tới tay ngang tỉnh lẻ), của các ban biên tập báo và tạp chí (từ trung ương tới địa phương) hiện vẫn còn lưu giữ hàng trăm nghìn lá thư độc giả như vậy.

Theo lời của M. Slonim,  nhân vật Pavel Korchagin trong tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy của M. Ostrovski là mô hình tự đồng nhất đạt tới mức độ “thăng hoa”. Khi M. Slonim viết rằng “sự nổi tiếng của hình tượng ấy trước, trong và sau chiến tranh thế giới đã đạt tới mức độ của một bái vật đích thực”[16], thì ở đây không hề có một chút phóng đại nào. Việc tạo ra huyền thoại Korchagin, vốn đã trở thành một phần của huyền thoại anh hùng trong văn học Xô viết, mạnh mẽ và nhanh chóng đến mức một năm sau khi xuất bản tiểu thuyết, chúng ta đã chứng kiến “phép màu Korchagin” cùng sự nổi tiếng chưa từng có của cuốn tiểu thuyết và nhân vật chính trong môi trường độc giả rộng lớn nhất. Có thể tìm thấy những bằng chứng đầu tiên về việc đọc và bình luận mang tính toàn dân dành cho cuốn tiểu thuyết trong bài báo của N. Liubovich[17], trong đó tác giả trích dẫn vô số thư từ, lời tự bạch của độc giả ở những lứa tuổi và nghề nhiệp khác nhau, người ta nói rằng đã nhìn thấy ở nhân vật của N. Ostrovski môt “kiểu mẫu để bắt chước”, một “tấm gương sống động”. Tiểu thuyết của N. Ostrovski và Pavel Korchagin được xem là cuốn sách yêu quý và nhân vật yêu quý của thanh thiếu niên Liên Xô đã sống một đời sống độc giả.

Bởi thế mới xuất hiện hiện tượng mà sau S. Tregub và I. Bachelis có thể gọi là “hạnh phúc Kochagin”: “Trước mắt chúng ta nhân vật bước ra từ trang sách để đi vào đời sống và đi tiếp con đường của nó. Con người từ cuốn sách đã trở thành nhân vật thật trong cuộc sống thật của chúng ta. Chu kì đầy đủ của sự tác động qua lại giữa văn học và hiện thực đã được hoàn tất, nó biến cuốn sách của Ostrovski thành cuốn sách mang số phận lớn”[18]. Và thực tế, S. Tregub và I. Bachelis đã dẫn ra một bảng liệt kê tư liệu dài vô tận nói rằng nhân vật của tiểu thuyết đã “sải bước từ cuốn sách ra cuộc đời”: ngoài mặt trận, ban đêm, người ta đọc cuốn sách dưới ánh trăng, ban ngày người ta đọc dưới cảnh bom dội ác liệt, đọc dưới lòng đất, trong hầm trú ẩn, trong công sự, đọc to, đọc thầm như là sự mặc khải, người ta tìm thấy cuốn sách trong túi đồ của những chiến sĩ đã hi sinh, với những người này, cuốn sách là bùa hộ mệnh, với những người khác, nó là cuốn sách giáo khoa đời sống, các chiến sĩ viết về Korchagin trong thư từ, trong nhật kí như về một người thân thiết nhất, trân quý nhất, so sánh mình với mọi nhân vật văn học, tìm kiếm ở đó sự nâng đỡ vỗ về, nhìn thấy ở đó tấm gương đời sống… Trong những năm chiến tranh, chúng ta đã tìm được những độc giả lí tưởng si mê nền văn học xô viết đến như vậy.

Đến thời kì sau chiến tranh, bức chân dung khái quát về độc giả ấy đã mang tính sử thi triệt để. “Bây giờ hoàn toàn không thấy có sự khác biệt đáng kể nào giữa các loại độc giả (nhất là công nhân và trí thức), không thấy có sự khác biệt mang tính nguyên tắc trong việc thể hiện thái độ của độc giả đối với văn học nghệ thuật xô viết và những tác phẩm cơ bản, tác phẩm hàng đầu của nó… Có thể nói về sự thống nhất đang hình thành trong thị hiếu và sự thống nhất trong cách đánh giá các tác phẩm văn học. Nếu quan sát kĩ, chúng ta sẽ thấy rõ phẩm chất quí giá nhất ở nhân dân vĩ đại của chúng ta – phẩm chất chính trị – đạo đức của họ”[19].

Độc giả xô viết lí tưởng nói chung không phải là khách thể thụ động của sự tác động bên ngoài, mà là chủ thể có yêu cầu cao đối với sáng tác nghệ thuật. Sự can thiệp thường xuyên của nó vào công việc sáng tác của nhà văn có vẻ như được hướng vào chính bản thân mình; ở đây, nhà văn là một phần của công chúng độc giả, cho nên sáng tác của ông ta phải trở thành tấm gương phản ánh trình độ của tiềm năng sáng tác ở độc giả.

Không hẳn là sự thay đổi cấu trúc của độc giả, mà chủ yếu là sự thay đổi thái độ đối với các tác phẩm văn học nào đó sẽ nói cho ta rõ độc giả lí tưởng là gì. Ví dụ điển hình là số phận của cuốn Cuộc đời Klim Samgin của M. Gorki.

Dẫu Gorki từng là một trong số tác giả được đọc nhiều nhất từ rất lâu trước khi được phong thánh, ngang ngửa với sự nổi tiếng của L. Tolstoi, tiểu thuyết Cuộc đời Klim Samgin của ông được đón nhận hết sức lạnh lùng trong độc giả quần chúng. “Một cuốn sách rất chán” – trong hầu hết các ý kiến đánh giá thời ấy, ta đề bắt gặp một lời tuyên án như thế. Vậy mà 20 năm sau, chính Klim Samgin, một nhân vật ảm đạm nhất trong văn học Nga thế kỉ XX bỗng tìm thấy “người bạn cùng thế hệ”. Năm 1949, thư viện mang tên Gorki ở Moskva phát phiếu thăm dò cho các độc giả của mình. Từ 466 độc giả thuộc những nhóm độc giả khác nhau, Người mẹ có 451 người đã đọc. Thời thơ ấu – 441, Kiếm sống – 439, Sự nghiệp của gia đình Artamonov – 390, Những trường đại học của tôi – 368, Dưới đáy – 354, Forma Gordeev – 297. Điều trên gắn với khối lượng tác phẩm có trong chương trình của nhà trường trung học ở Liên Xô. Nhưng lập tức, đứng sau mốc giới này là Cuộc đời Klim Samgin, giờ đã có 239 người đọc. Mà tiểu thuyết ấy đứng ngay ở vị trí đầu tiên giữa những câu trả lời dành cho hai câu hỏi: “Bạn thích đọc những tác phẩm nào của Gorki?”, “Những tác phẩm nào của Gorki bạn muốn đọc lại lần nữa?”[20].

Độc giả quan tâm tới điều gì trong cuốn tiểu thuyết? Triết học hay sự phản đạo? Liệu có phải kinh nghiệm của Gorki, người từng mấy bận phản lại chính bản thân và đặt dấu chấm hết cho sáng tác cá nhân bằng tiểu thuyết – kinh nghiệm của mình chăng? Hay phê bình xô viết đã đúng khi giải thích hiện tượng ấy như thế này: “Công việc bền bỉ, độc lập của hàng triệu con người xô viết dành cho việc nghiên cứu lịch sử đảng, ảnh hưởng của Giáo trình giản yếu về lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô (b) không thể không biểu lộ trong thái độ đã đổi khác của độc giả với một tác phẩm kiểu như Cuộc đời Klim Samgin[21]. Trước hết, vị thế của Gorki trong “hợp tuyển chính thống” đã được biểu lộ. Xu hướng huyền thoại hóa con “chim báo báo của cách mạng” trong nhà trường Liên Xô cũng đã được biểu lộ. Cuối cùng, cuốn tiểu thuyết đã bị quảng đại độc giả đọc không đúng với những gì nền phê bình xô viết đã nỗ lực tạo ra, nền phê bình ấy đã thuyết phục, rằng trong tiểu thuyết của mình, Gorki vạch trần “những cách thức và phương pháp ngụy trang ở kẻ thù của chủ nghĩa bolsevich, kẻ thù của chủ nghĩa Mác – Lênin để thâm nhập vào phong trào giải phóng của nước Nga”[22], rằng điều cơ bản trong tiểu thuyết là “sự khám phá ra các tiền đề lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Mười Xã hội chủ nghĩa vĩ đại và bóc trần chủ nghĩa cá nhân tư sản”[23]. Sự thay đổi hoàn toàn thái đội của độc giả đối với cuốn tiểu thuyết này của Gorki là minh chứng rõ ràng về khả năng tác động thực tế tới quảng đại quần chúng độc giả” thông qua hệ thống “đưa sách đến với người đọc”. Điều này càng trở nên quan trọng hơn, vì trong trường hợp này, chúng ta đang nó về một cuốn sách tuyệt nhiên “không được đọc” và càng không phải là một cuốn sách không có khiếm khuyết nhìn từ quan điểm về “sự tinh khiết của tư tưởng hệ”. Khả năng đài cử một tác phảm như thế không chỉ có tác dụng “đảm bảo an toàn” cho mình, mà còn biến nó thành sản phẩm “phục vụ sự nghiệp giáo dục lí tưởng cộng sản cho thanh thiếu niên”, nó nói lên sự “phản kháng” của độc giả đã bị suy giảm ghê gớm; vào những năm 1920 hẳn không thể nói tới sự suy giảm như thế và đây là một trong những đặc điểm cơ bản của người đọc lí tưởng như là sản phẩm của quyền lực.

Phạm vi mở rộng người đọc lí tưởng chính là những cuộc hội thảo độc giả mà những năm sau chiến tranh đã biến thành chiến thắng độc đáo của nền văn hóa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hệ thống hội thảo độc giả dường như đã xây dựng xong.

Sự giống nhau tuyệt đối giữa hội thảo độc giả và bài học văn học trong nhà trường đã thực sự gây chú ý. Cùng với thời gian, hệ thống hội thảo như vậy đã biến thành những khóa học diễn ra liên tục để bổ túc cho những học sinh hôm qua của nhà trường do bận sản xuất nên không theo dõi được “những điều mới lạ của văn học xô viết”. Chẳng hạn, với tư cách là những đề tài, người ta đã giới thiệu  gần như trọn bộ “đề tài tự do” của các luận văn tốt nghiệp ở trường trung học (tất nhiên không tính những cuộc hội thảo về các tác phẩm cụ thể): “Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại trong văn học xô viết”, “Hình tượng các chiến sĩ bolsevich trong các tác phẩm của nhà văn Liên Xô”, “Diện mạo đạo đức của của con người thời đại Stalin”, “Thanh thiếu niên Liên Xô qua sự mô tả của các nhà văn xô viết”, “Hình tượng V.I. Lênin trong văn học”… Hội thảo được yêu cầu trở thành bài học dành cho các ý kiến phê bình chính xác”.

Nhìn chung, phải đến cuối những năm 1960, khi độc giả từ giã thư viện để đến với truyền hình thì pho tiểu thuyết về việc chính quyền dùng thư viện như thiết chế kiểm soát sách báo và việc đọc mới kết thúc. Các thư viện đại chúng bị chính quyền bỏ rơi và chúng tồn tại thoi thóp một cách thảm hại. Bị tất cả vứt bỏ và lãng quên, chúng trở thành nơi nương náu cuối cùng của những người hưu trí – những “cựu độc giả” đích thực từng không tìm thấy cho mình chỗ đứng trong các thư viện mới ở những năm 1920. Những “cựu độc giả” theo lứa tuổi, nhưng không theo kinh nghiệm sống và kinh nghiệm đọc! Khác với các “cựu độc giả” ở những năm 1920, “độc giả tích cực” cũ nhớ tới thư viện như nhớ tới nơi “của mình”. Họ không hề biết Verbitskaya là ai và sẵn lòng đọc văn học đại chúng xô viết và hấp thụ gần như tất cả – từ những tạp chí dày cộp đến xêri sách “Đời sống của những người phi thường”, từ An. Ivanov đến J. Semanov, từ I. Stadnyuk đến anh em nhà Weiner, từ K. Simonov đến J. Bondarev, từ E. Asadov đến R. Rozdestvenski – những người được ái mộ của thị trường sách xô viết vào những năm 1970. Tất nhiên, đó là thư viện của mình và nhà văn của mình.

Trước Đại hội nhà văn Liên Xô làn thứ nhất, N. Krupskaya gửi tới các nhà văn và nhà phê bình lời kêu gọi cần “học lắng nghe những ý kiến đúng đắn có tổ chức của quần chúng về sách báo”[24].  “Ý kiến đúng đắn có tổ chức – là ý kiến xuất phát từ một bản thể độc giả trừu tưởng, nói cách khác, từ độc giả lí tưởng.  Năm 1933, vào lúc náo nhiệt nhất của cao trào “học văn học”, những lời kêu gọi ấy cực kì có tính cấp thiết. Liệu nhà văn xô viết có biết tới độc giả của mình không? Câu hỏi ấy đã được văn phòng nghiên cứu độc giả của văn học nghệ thuật trực thuộc Ủy ban Giáo dục tư tưởng – chính trị đặt ra vào năm 1929. Đã thu thập được ý kiến của 22 nhà văn. Chỉ có một vài người trong số họ cụ thể hóa được ý tưởng về độc giả riêng của mình. Chẳng hạn Novikov-Priboi nói độc giả của mình là công nhân, viên chức xô viết và thủy thủ, độc giả của Bogdanov là thanh thiếu niên công – nông; Lavrenhev phát biểu cụ thể nhất về vấn đề này: “Độc giả của tôi chủ yếu tập trung vào đội ngũ công nhân và viên chức có trình độ cao. Con số đặc biệt cao là các nghiệp đoàn thợ kim loại, ấn loát và công nhân xây dựng”[25]. Và nếu như đối với phê bình, ý kiến của những khuynh hướng văn học khác nhau nhất – từ A. Karavaeva, F. Gladkov đến E. Zamyatin – là thống nhất và hoàn toàn không tán thành, thì về ảnh hưởng từ nhận xét của dộc giả đối với sácng tác của mình, các nhà văn lại có cách nhìn khác nhau. Chẳng hạn, Vs. Ivanov nói “ông không bao giờ quan tâm tới độc giả”, Chapygin khuyên rằng tiếp xúc với độc giả không tạo ra nên xung lực sáng tạo và chỉ tổ mất thì giờ; Artem Veselyi thường tuyên bố ông chỉ tìm thấy trong những thư độc giả “sự nghèo nàn khó chịu” và những ý kiến ngớ ngẩn của độc giả. Nhiều nhà văn nói rằng, họ lắng nghe tiếng nói của độc giả nhưng không chịu ảnh hưởng của độc giả. E. Zamyatin và F. Gladkov, những người tìm thấy ở độc giả “chất liệu đời sống” đã nghĩ như thế; Shishkov và Leonov cũng viết về điều đó. Đa số các nhà văn khẳng định rằng nếu thiếu sự tiếp xúc với độc giả, họ không thể sáng tác. Nozova, Novikov-Priboi, Bogdanov, Karavaeva. Lyashko, Panferov, Lavrenev, Kolosov, Kataev, Xerafimovich đã phát biểu với ý nghĩa như thế[26].

Trong Ghi chép và suy ngẫm của mình, B. Eikhenbaum viết: “Nhà văn ở thời chúng ta, nói chung, là một nhân vật nghịch dị. Độc giả đọc anh ta thì ít, mà phẩm bình về anh ta thì nhiều, bởi vì anh ta thường nghĩ sai. Bất kì độc giả nào cũng cao hơn anh ta chỉ bởi một lẽ sau đây: theo nghề nghiệp, như một công dân, độc giả được cho là có một ý thức hệ nhất quán, vững chắc và rõ ràng. Về những người điểm sách (chúng ta không có nhà phê bình, vì không thấy có sự khác biệt trong nhận định), quả thật chẳng có gì để nói – quan tòa cao hơn và quan trọng hơn phạm nhân bao nhiêu, thì họ cũng cao hơn và quan trọng hơn bất kì nhà văn nào bấy nhiêu”[27]. Tính chất nghịch dị của nhân vật ấy khiến nó lúc nào cũng sẵn sàng “tự quất vào bản thân” (“phê bình của độc giả quần chúng” chính là những chiếc roi độc đáo): chạy trốn các nhà phê bình ý thức hệ chuyên nghiệp, nhà văn sẵn sàng trao thân cho “cho sự bảo lãnh của độc giả”.

Nếu vào những năm 1920, xu hướng biện hộ cho độc giả về cơ bản thống trị trong giới nhà văn vô sản, thì đến những năm 1930 việc tâng bốc người đọc trở thành dấu hiệu của hầu như tất cả mọi phát biểu của nhà văn và như thế hẳn nhiên cần phải thừa nhận là nhà văn có quan điểm nhân dân toàn diện trong nghệ thuật. Trong văn học xô viết “thái độ tốt” với độc giả là một phẩm chất mới – phẩm chất thẩm mĩ – và đó là nền tảng của tính nhân dân – một trong số những phạm trù quan trọng nhất của mĩ học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Chính là ở những năm 1930, giới nhà văn không chỉ chứng kiến sự ra đời của một thế giới mới trong văn học, mà còn chứng kiến sự sinh hạ của một loại độc giả mới, độc giả lí tưởng “khác biệt với độc giả của toàn thế giới, độc giả xô viết, độc giả – chiến sĩ”[28]. Đây là bức chân dung của người đọc ấy: “Độc giả xô viết luôn rộng mở trước tất cả niềm hân hoan, mạnh mẽ, rõ ràng, minh bạch, nghiêm túc và vui tươi. Anh ta không bị nhiễm những định kiến của các hình thức cổ điển đã được áp đặt và cứng nhắc. Khi anh ta đọc thơ, trước mắt anh ta, “ông bác của những luật lệ tối khả kính” thơ Iambe không vỗ tay loách choách. Anh ta không hoảng sợ vì tác phẩm anh ta đọc “chẳng giống ai”. Mà anh ta cũng chẳng yêu cầu phải bằng mọi giá làm cho văn học “không giống…”. Anh ta không đau khổ vì sự buồn tẻ và sự trống rỗng của đời sống tới mức phải tìm kiếm một “bầu khí quyển” như bà mụ của Chekhov. Anh ta đánh giá cao một phong cách hay. Anh ta coi trọng lời văn rõ ràng, nhưng sẽ kinh tởm ngoảnh mặt đi khi phong cách tốt chỉ che đậy sự thiếu vắng tư tưởng. Nếu phát hiện ra sự cẩu thả, sai sót rõ ràng, lỗi lầm hay thất bại nào đấy, anh ta không chạy dọc phố, không lao vùn vụt cùng những tiếng kêu hoang dã giống như ở tỉnh lẻ người ta lao theo một thằng trộm. Anh ta rất bận việc, bận một cách ngiêm túc. Độc giả xô viết là độc giả bận nhất thế giới, anh ta biết công việc nào cũng khó tránh lỗi lầm, sai sót, thất bại. Anh ta biết không thể giúp đỡ điều đó bằng những tiếng kêu “lêu lêu” hay tiếng huýt gió của phường trộm cướp, mà phải giúp đỡ bằng tình đồng chí, bằng sự ủng hộ và tự phê bình. Anh ta không bảo thủ, không vô chính phủ, không loạn thần kinh. Anh ta chuẩn bị cho việc đọc cũng như nhà văn xô viết chân chính chuẩn bị cho việc viết.  Anh ta muốn tác phẩm văn học xô viết phải có tư tưởng đủ sức nặng và những tình cảm có giá trị. Anh ta muốn có một sự khái quát nghệ thuật”[29]. Nhân vật văn học ấy cũng chính là độc giả xô viết lí tưởng.

Thực chất, người đọc lí tưởng đã khóa chặt, đóng kín chuỗi mĩ học hiện thực xã hội chủ nghĩa: “văn học đi vào đời sống” rồi tiếp đất ở người đọc, đến lượt mình người đọc tích lũy dòng điện dành cho sự sáng tạo nghệ thuật tập thể mới. Quá trình liên tục sáng tạo ra thế giới mới ấy nghiền nát không chỉ các số phận cá nhân, mà cả hàng loạt nền văn hóa dân tộc. Cái duy nhất có thể chống lại “sự sáng tạo đời sống” ấy chính là bản thân đời sống sáng tạo.

Durham (Hoa kì)

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn “Thế giới mới”, 1994, số 12. 

[1] “Tiếng Nga: “изба – читальня” – trung tâm giáo dục ở nông thôn Nga, nó xuất hiện từ thế kỉ XIX, phổ biến rộng rãi ở những năm 1920 trong khuôn khổ thực hiện cuộc cách mạng văn hóa, đồng thời là một trọng những hình thức xóa nạn mù chữ và tuyên truyền chính trị – ND.

[2] A. Okhlyabinin – Thủ thư như là người tổ chức sáng tạo của đời sống. “Thủ thư đỏ”, 1924, № 10-11, tr.87, 88, 90.

[3] “Trên vọng gác văn học”, 1931, № 13, tr.46.

[4] V. Nhevski – Từ sổ ghi chép của hướng dẫn viên thư viện. “Thủ thư đỏ”, 1923, № 2-3, tr. 22.

[5] G. Babanov – Một số vấn đề về việc chỉ đạo đọc. “Thủ thư”, 1952, № 2, tr. 28.

[6] Тlđd, tr. 30.

[7] R. Kibrik – Về sự thống kê kinh nghiệm làm việc với độc giả. “Thủ thư”, 1950, № 6, tr. 41.

[8]  L. Levin – Bảng kê hệ thống hóa như là giáo cụ chỉ dẫn thư viện. “Thủ thư”, 1953, № 5-6, tr. 31.

[9] A. Reitblat. Từ Bova đến Balmont. Sơ thảo lịch sử đọc ở nước Nga vào nửa sau thế kỉ XIX. М. 1991, tr. 174 – 175.

[10] Pavelkin – Vì tính đảng bolshevich trong công tác thư viện. “Thủ thư đỏ”, 1932, № 4, tr.12.

[11] B. Bank, A. Vilenkin – Vì công cuộc tái thiết công tác thư viện quần chúng. “Thủ thư đỏ”, 1931, № 1,tr. 24).

[12] Đây là Quyết nghị kỉ luật hai tạp chí “Leningrad” và “Ngôi sao”, ban hành ngày 14/8/1946, theo đó Anna Akhmatova và Mikhain Zoshenko bị khai trừ khỏi Hội nhà văn Liên Xô – ND.

[13] Số liệu dẫn theo: P. Gurov – Độc giả trẻ của các thư viện Moskva đọc gì từ văn học nghệ thuật xô viết. “Thủ thư đỏ”, 1948, № 8, tr. 33 – 35.

[14] J. Roshin – Tiếng nói của người đọc. “Tổng quan văn học”, 1939, № 11, tr. 70.

[15] Тlđd, tr.73.

[16] M. Slonim. Soviet Russian Literature: Writers and Problems 1917 – 1977. N.-Y. Oxford UP. 1977, p. 187

[17] N. Liubovich – N. Ostrovski và độc giả của ông. “Thế giới mới”, 1937, № 7.

[18] S. Tregub và I. Bachelis – Hạnh phúc của Korchagin. “Ngọn cờ”, 1944, № 4,tr.. 122. Có thể xem chi tiết hơn: E. Dobrenko – Ẩn dụ quyền lực. Văn học thời đại Stalin dưới ánh sáng lịch sử. München. Otto Sagner. 1993, S. 294 – 297.

[19] G. Lenoble – Độc giả Liên Xô và văn học nghệ thuật. “Thế giới mới”, 1950, № 6, tr. 208.

[20] Các số liệu được dẫn theo: G. Lenoble – Độc giả Liên Xô và văn học nghệ thuật. Tr. 226 – 227.

[21] Tlđd., tr.227

[22] Tlđd.

[23]. A. Dementiev, E. Naumov, L. Plotkin – Văn học xô viết Nga. L. 1954. Cách giải thích như thế đã trở thành khuôn mẫu trong toàn bộ sách báo của Liên Xô về Gorki.
[24]N.K. Krupskaya – Tác phẩm sư phạm. Bộ 10 tập. M., 1960, T.8, tr. 413(Thư viện hỗ trợ độc giả xô viết và phê bình văn học).

[25] E. Kopobkova, L. Polyak – Nhà văn nói về độc giả. “Trên vọng gác văn học, 1930, № 5-6, tr. 100.

[26]Тlđd. tr. 101 -103.

[27] B. Eikhenbaum –  Người thời tôi. Văn chương. Khoa học. Phê bình. Tạp văn. L. 1929, tr. 133.

[28] Efim Zozulia – Để cho ai?. “Đất hoang đỏ”, 1931, № 8, tr.175.

[29] Tlđd, tr. 177.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: