BAKHTIN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ “THỂ LOẠI HỌC” TRONG THI PHÁP HỌC THẾ KỶ XX

N.D. Tamarchenko

Đối tượng xem xét của chúng tôi là các phương pháp nghiên cứu tiêu biểu của thi pháp học thế kỷ XX trong lĩnh vực lí thuyết về loại (tiếng Nga: “род”) và thể (tiếng Nga “жанр”, tiếng Pháp “genre”) của tác phẩm văn học. Tiêu chí chọn nguồn của chúng tôi là logic tiến hóa của các nguyên tắc và định hướng phương pháp luận trong suốt thế kỷ XX, logic ấy được thể hiện rõ ví như trong mối quan hệ thường xuyên thay đổi với truyền thống mỹ học và thi pháp học cổ điển. Khác với nhiệm vụ của một công trình tổng quan lịch sử, ở đây chúng tôi chỉ tập trung chú ý vào những điểm thay đổi có tính bước ngoặt của các phương pháp khoa học.

Từ thời cổ đại cho tới giai đoạn giáp ranh giữa thế kỉ XVIII – XIX (từ Platon và Aristotle cho tới F.W. Schelling và G. W. F. Hegel), việc nghiên cứu bản chất của tác phẩm nghệ thuật được xem là nhiệm vụ của triết học nghệ thuật, còn việc khảo sát  đặc điểm của thể loại cụ thể là nhiệm vụ của thi pháp học. Triết học nghệ thuật xác định về mặt lí thuyết những khả năng hiện thực hóa bản chất và mục đích của nghệ thuật trong hành vi sáng tạo riêng lẻ, thi pháp học mô tả những kiểu mẫu hiện có đã được thừa nhận của các tác phẩm văn học (cho đến thế kỷ XIX thi pháp học đã tìm kiếm trước hết những kiểu mẫu ấy chủ yếu ở văn học cổ điển thời cổ đại Hy Lạp và La Mã). Cho đến giữa thế kỷ XIX, sự khác biệt giữa hai bộ môn khoa học nói trên được thể hiện ở chỗ phạm trù loại (“род”) của tác phẩm văn học trong thực tế chỉ có chức năng ngoại biên. Phạm trù này hóa ra là không cần thiết với việc nghiên cứu một cách khách quan – khoa học đời sống lịch sử của các thể văn cụ thể (“жанр”), ví như trong các công trình nghiên cứu của A.N. Veselovski.

Với lí thuyết về thể (trong khuôn khổ của thi pháp học lý thuyết), vấn đề chính yếu là tương quan giữa hai ý nghĩa của thuật ngữ vừa chỉ ra ở trên, cũng như tương quan giữa  mô hình lý thuyết của cấu trúc thể văn với lịch sử thực tế của văn học. Trong các thể văn truyền thống, cách luật là cấu trúc bất biến như vậy, vì thế có thể nắm bắt nó bằng cách dùng kinh nghiệm để mô tả. Ở trườg hợp này, giữa kiểu mẫu được tái tạo và sự tái tạo nó bao giờ cũng là quan hệ biến thể mà dứt khóat nó sẽ lộ rõ và có thể nhận biết dễ dàng. Đây chính là mục đích mô tả các thể văn trong thi pháp học quy phạm, ví như trong thi pháp học của N. Boileau. Ở các thể văn giữ vị trí hàng đầu hoặc những thể văn xuất hiện trong giai đoạn giáp ranh giữa thế XVIII – XIX (tiểu thuyết, trường ca), tức là những thể văn phi cách luật, “mô hình sinh sản” không giống với nền tảng cấu trúc của tác phẩm cụ thể đã được biết mà ta có thể dễ dàng quan sát và mô tả (trong một chuyên luận nổi tiếng của V.M. Zirmunski, việc so sánh các các kiểu mẫu trường ca lãng mạn của Lord Byron và A.S. Pushkin đã chỉ ra điều đó).

Đến khi lí thuyết thể loại không còn là lí thuyết quy phạm và nó bắt đầu được xây dựng lại trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thực tế của văn học, hoặc lịch sử văn hóa thì những quan niệm cũ về tác phẩm nghệ thuật không còn phù hợp với nó nữa. Đó là điều có thể thấy ví như với A.N. Veselovski: không phải ngẫu nhiên, khi nghiên cứu folklore và văn học trung đại, ông đặc biệt nhấn mạnh vào sự phụ thuộc của các cấu trúc thể văn với điều kiện sinh hoạt và điều kiện lịch sử hành chức của chúng.

Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, xuất hiện tiền đề tổng hợp quan niệm triết – mỹ về tác phẩm với việc nghiên cứu lịch sử các thể văn. Tiểu luận tuyệt vời Dostoievski và tiểu thuyết – bi kịch (1911) của Vyach Ivanov” là bằng chứng nói lên điều ấy. Nhưng sau đó, cùng với sự phát triển của trường phái hình thức Nga và châu Âu, quan niệm về cấu trúc bất biến của các tác phẩm cũng chuyển sang lĩnh vực siêu hình học, như thời ấy người ta nghĩ thế, còn thi pháp học thì chuyển hướng sang thực tế ngôn ngữ của văn bản.

Vấn đề có tính chất phương pháp luận về những khác biệt giữa khả năng và thủ pháp – một mặt là nghiên cứu các biến thể của tác phẩm văn học đã hình thành trong tiến trình lịch sử (các thể văn), mặt khác là xây dựng các “loại hình lý tưởng”, hoặc sáng tạo ra các mô hình lí thuyết của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (trong đó, các quan niệm truyền thống về 3 “loại” (“род”) thuộc về loại này – lần đầu tiên được đặt ra trong hàng loạt công trình nghiên cứu thi pháp vào những năm 1950 – 1960. Chẳng hạn, trong cuốn Cấu trúc trần thuật (1955) của E. Lämmert, Herder được cho là đã phân biệt các thể “lịch sử” và các thể “triết học”,  đồng thời, tự sự, trữ tình, kịch “với tư cách là những nhóm chính yếu có tính chất bền vững và bao trùm, luôn luôn nằm trên các thể văn, như những hình thức điển hình của thi ca – không tính tới ưu thế của loại hình nào đó trong số ấy ở một thời điểm, một dân tộc, một nhà thơ cụ thể nào đó – bao giờ cũng chỉ rõ đích thị những khả năng cố định của nó”. “Với chúng tôi, các thể văn là những khái niệm lịch sử then chốt, các loại hình là những hằng số phi lịch sử. Vì thế, phát hiện ra chúng là nhiệm vụ riêng của khoa học về thi ca”[1] (tác giả sử dụng các từ  “Hauptgruppen” и “Typen” rõ ràng vì lý do trong tiếng Đức, chữ Gattung  vừa có nghĩa là “thể” (“жанр”), vừa có nghĩa là “loại” (“род”).

Vào cuối những năm 1960, vấn đề được Tz. Todorov trình bày rõ ràng hơn: “Để tránh sự mơ hồ, một mặt, cần thừa nhận sự tồn tại của các thể văn mang tính lịch sử, mặt khác, phải thừa nhận sự tồn tại của các thể về mặt lý thuyết. Các thể lịch sử là kết quả quan sát từ thực tế văn học, thể loại lí thuyết là kết quả khái quát lí thuyết”[2] (nên nhớ, chữ “genre” trong tiếng Pháp vừa có nghĩa là “thể” (“жанр”), vừa có nghĩa là “loại” (“род”), vì thế, trong trường hợp này, “các thể lý thuyết hoàn toàn ứng với khái niệm “loại” (“род”) trong tiếng Nga)

Bên cạnh sự phân biệt về mặt nguyên tắc phương pháp luận hai loại hình tác phẩm văn học nói trên trong thi pháp học thế kỷ XX, vẫn tồn tại xu hướng coi thường và bỏ qua sự khác biệt nói trên. “Tự sự”, “trữ tình”, “kịch” thường được xem là những “căn nguyên” phổ quát  , luôn hoạt động trong một tổ hợp và hiện diện trong mọi thể văn, chỉ kết hợp theo những cách khác nhau, với những tỉ lệ khác nhau.

Quan điểm nói trên được thể hiện trong một công trình nghiên cứu nổi tiếng rộng rãi của E. Staiger: Những khái niệm cơ bản của thi pháp học (1948). Ông viết: “Sử dụng cách diễn đạt của Husserl, tôi có thể nhận ra “ý nghĩa lý tưởng” của “trữ tình” khi đứng trước một cảnh quan; có thể nhận ra tự sự là gì khi đứng trước dòng người tị nạn; một cuộc cãi nhau nào đó có thể ghi lại trong tôi ý nghĩa của từ “kịch”. Những ví dụ quan trọng nhất về trữ tình có lẽ sẽ được tìm thấy trong trữ tình, về tự sự có thể tìm thấy trong sử thi… Công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ dẫn tới kết quả, rằng mỗi tác phẩm thi ca đích thực bao giờ cũng dành chỗ cho tất cả các tư tưởng thể loại ở những mức độ khác nhau và bằng những phương thức khác nhau, và rằng sự đa dạng của các bộ phận nằm ở cơ sở của sự phong phú vô tận của các dạng được hình thành trong lịch sử”[3].

Cách xác định đặc điểm của các thể văn theo những nguyên tắc như thế từng hết sức phổ biến. Nó tỏ ra “đắc dụng” khi nói về tiểu thuyết: trong tiểu thuyết bao giờ cũng có cả ba biến thể về “loại” – “tự sự”, “kịch” và “trữ tình”[4]. Tuy nhiên, cần biết một thực tế, rằng E. Staiger và những người theo quan điểm của ông đều không nghiên cứu cả thể, lẫn loại không như những cấu trúc độc lập mà ở đó, mỗi cấu trúc có một chức năng thẩm mỹ đặc biệt trong hệ thống văn học nói chung. Những cấu trúc nghiên cứu do họ tạo ra thực chất đều đồng thời là những cấu trúc siêu thể và liên loại (tiếng Nga: “наджанровыеми и межродовы”). Nhưng tổ hợp quan niệm nói trên rất gần gũi với ý thức “giải cấu trúc” hiện đại, ý thức của người có khuynh hướng nhìn mọi chỉnh thể như cái đa chủng và chia tách.

Chỉ mỗi quan niệm mới về cấu trúc của tác phẩm văn học mới có thể trở thành tiền đề đích thực giúp giải quyết vấn đề quản trọng nhất của lý thuyết về thể văn. Nó được hình thành trong những công trình của M. M. Bakhtin, hình thành trên cơ sở tổng hợp tất cả các hướng tiếp cận truyền thống quan trọng nhất.

Có thể lưu ý một số hệ hình xuất hiện như những hình thức tự ý thức của văn học, sau đó chúng tạo ra (đôi khi, trong nhiều thế kỷ) hàng loạt khuynh hướng trong thi pháp học và kết tinh thành hành loạt quan niệm khoa học riêng lẻ và cụ thể hơn.

Thứ nhất, thể loại luôn gắn với tình huống đời sống mà nó hoạt động, nhất là với những bình diện điển hình của đời sống cử tạo ví như những loại nghi lễ khác nhau. Do đó mà người ta nhấn mạnh cơ chế cử tọa, cơ chế này quyết định khối lượng tác phẩm, giọng điệu phong cách, hệ thong chủ đề ổn định và tổ chức kết cấu. Từ thi pháp học và tu từ học thời cổ đại và trung đại, ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hướng tiếp cận ấy đã chuyển sang nghiên cứu khoa học các thể văn cách luật  (A.N. Veselovski, J.N. Tynhianov)[5].

Thứ hai, trong thể văn, người ta nhìn thấy bức tranh, hay “hình tượng” thế giới ghi dấu ấn một thế giới quan nào đó – hoặc là thế giới quan mang tính phổ quát, truyền thống, hoặc là thế giới quan của cá nhân – tác giả. Các hiểu này bắt đầu xuất hiện từ phê bình và mỹ học thời tiền lãng mạn và lãng mạn chủ nghĩa chuyển qua thi pháp học huyền thoại ở thế kỷ XX (O.M. Freidenberg)[6], cũng như được cải biến thành quan niệm về thể văn như là “các hình thức mang tính nội dung” (G.D. Gachev), trong một số trường hợp khác,  nó lại dẫn tới sự chia tách, thậm chí đối lập “nội dung thể loại” và “hình thức thể loại” (G.N. Pospelov)[7].

Thứ ba, trên cơ sở lý thuyết về bi kịch từ Aristotle đến F. Nietzsche (qua I. F. Schiller), hình thành quan niệm về ranh giới giữa hiện thực thẩm mỹ và thực tại ngoài thẩm mỹ của độc – khán giả và về sự tác động qua lại mang tính đặc thù của hai thế giới ấy (khái niệm catharsis). Trong không gian nhà hát, ranh giới giữa sân khấu và phòng khan giả chính là biên giới ngữ nghĩa của hai thực tại ấy. Ở điểm này diễn ra sự “gặp gỡ” giữa ý thức nhân vật  và ý thức độc giả – khán giả và sự khắc phục ranh giới không gian phân chia chúng trong cái hiện tại ngoài thời gian của sự trải nghiệm biến cố của nhân vật. Đồng thời, catharsis còn có nghĩa là khan giả vượt lên cao hơn điểm nhìn của nhân vật, tức là sự xuất hiện của ranh giới thẩm mỹ.

Ở nước Nga, quan điểm nói trên được hiện thực hóa trong mỹ học của chủ nghĩa tượng trưng (cuộc tranh luận giữa Vyach. Ivanov và F. Nietzsche), sau đó chuyển thành quan niệm về “khu vực xây dựng hình tượng” như là một bình diện quyết định chỉnh thể nghệ thuật trong các công trình nghiên cứu của M.M. Bakhtin[8].

Rốt cuộc, đã xuất hiện khả năng hiểu hình thức chỉnh thể như là kết quả tương tác giữa hoạt động thẩm mỹ của tác giả – người sáng tạo và quy luật ngoài thẩm mỹ của ý thức và hành vi của nhân vật. Do đó, vấn đề về động lực bên trong quyết định sự thống nhất và tính chỉnh thể của cấu trúc nghệ thuật đa chiều đã được giải quyết. Trên cơ sở này, lý thuyết về thể văn như là “chỉnh thể cấu trúc ba chiều” đã tổng hợp cả ba truyền thống của thi pháp học châu Âu.

Đưa ra tư tưởng về “định hướng kép của thể loại” – trong thực tại chủ đề và thực tại của độc giả -, theo đó, M.M. Bakhtin đã cũng cấp hai định nghĩa có quan hệ mật thiết với nhau về “chỉnh thể điển hình của phát ngôn nghệ thuật”. Định nghĩa thứ nhất nhấn mạnh “hệ thống phức tạp các phương thức và phương tiện chiếm lĩnh thực tại của người thông hiểu”; định nghĩa thứ hai nói rằng, “tất cả các biến thể của các thể kịch, trữ tình và tự sự” đều chịu sự “định hướng trực tiếp của lời như một thực tế, chính xác hơn, như một hành vi lịch sử trong thực thại bao quanh”. Cả hai phương diện được kết nối lại bởi cơ chế của sự hoàn kết:  “Sự phân rã của các nghệ thuật riêng lẻ thành những thể loại chính là do các loại hoàn kết của chỉnh thể tác phẩm quyết định. Mỗi thể văn là một kiểu xây dựng và hoàn kết chỉnh thể đặc biệt”[9]. Từng bình diện trong ba bình diện của cấu trúc thể văn đã được Bakhtin nhấn mạnh chứa đựng và cho phép ta nhìn rõ toàn bộ chỉnh thể được rút ra từ một trong các góc độ và kích thước của chúng. Vì vậy có thể mô tả đặc điểm của “kiểu chỉnh thể phát ngôn” thông qua bất kỳ bình diện nào trong ba bình diện ấy[10].

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: Lí thuyết về các thể văn (Chủ biên N.D. Tamarchenco), Trung tâm xuất bản “Academia”, 2011, tr. 9 – 14.

[1] Lämmert E. Bauformen des Erzählens. 8., uveränderte Aufl. — Stuttgart, 1991. – S. 13 – 16

[2] Tz. Todorov. Dẫn luận văn học kỳ ảo/ Bản dịch từ tiếng Pháp của B. Narumov. – M., 1997, tr. 9 – 10.

[3] E. Staiger. Grundbegriffe der Poetik. 8. Auflage. — Zürich und Freiburg, 1968. — S. 8 — 11.

[4] Xem: V.D. Dneprov. Các tư tưởng thời gian và những hình thức thời gian. – M., 1980. Tr. 100 – 133.

[5] Xeưm: A.n. Veselovski. Thi pháp học lịch sử.- L., 1940; J.N. Tynhianov. Thi pháp học. Lịch sử văn học. Điện ảnh. – M., 1977, tr. 227 – 252.

[6] O.M. Freidenberg. Thi pháp truyện kể và thể văn. – M., 1997.

[7] G.D. Gachev. Tính nội dung của các hình thức nghệ thuật. Tự sự, Trữ tình. Nhà hát. – M., 1969. G.N. Pospelov. Loại hình học loại và thể văn học// G.N. Pospelov. Những vấn đề phương pháp luận và thi pháp học. – M., 1983.

[8] N.D. Tamarchenko. Vấn đề “tiểu thuyết và bi kịch” ở F. Nietzsche, Vyach. Ivanov và Bakhtin// “Đối thoại. Carnaval. Chronotov”. – 2001.- Tr. 116 – 134.

[9] P.N. Medvedev (M.M. Bakhtin). Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học. Dẫn luận phê bình thi pháp học theo hướng xã hội học. – М., 1993. — Tr. 144 —151. Về bản quyền quan niệm thể loại nói trên của Bakhtin, xem: N.D. Tamarchenko. M.M. Bakhtin và P.N. Medvedev: Số phận “Dẫn luận thipháp học…”// “Những vấn đề văn học”.- 2008,  № 5. — Tr. 160 — 184.

[10] Về quan niệm thể loại của Bakhtin, xem: L.V. Chernhets. Những vấn đề thể loại văn học trong các công trình của M.M. Bakhtin// “Khoa học ngữ văn”, 1980, № 6. — tr.. 13 — 2; N. Leiderman. Tư tưởng thể loại của M.M. Bakhtin// Zagadnenia Rodzaiow Literackich. XXIV. Z. 1(46). — Lodż, 1981. — S. 67 — 85;; N.D. Tamarchenko. M.M. Bakhtin và A.N. Veselovski (Phương pháp luận thi pháp học lịch sử)// “Đối thoại. Carnaval. Chronotov”. – 1998, № 4 (25), tr. 33 – 44.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: