Category Archives: Tiểu phẩm

TỔ CHIM SÂU TRƯỚC SÂN NHÀ LÃO

TỔ CHIM SÂU TRƯỚC SÂN NHÀ LÃO

(Đoản văn)

Đã mấy tháng nay, hầu như sáng nào lão cũng lặng lẽ đứng trong nhà ngó qua lớp kính khung cửa đục mờ. Lão dán mắt vào cây thiết mộc lan trồng trong chậu cảnh đặt trước sân. Lão rình xem cặp chim sâu loay hoay quanh cái tổ với đàn con của chúng. Lão rình rất kiên nhẫn, đứng hàng giờ không nhúc nhích. Nhưng đã hai hôm rồi không thấy vợ chồng nhà chim quay về. Chúng “ngộ” ra điều gì chăng? Hay chúng đã bay đi tìm đàn con vừa ra ràng? Cái tổ chim màu nâu sẫm đính vào hai chiếc lá thiết mộc lan bắt chéo lại với nhau giờ trống hoác tựa như ngôi nhà hoang khẽ đung đưa trước cặp mắt đờ đẫn của lão mỗi khi gió thổi …

Chừng ba tháng trước, dạo cuối xuân đầu hè, không nhớ rõ ngày nào, lão chợt nhận ra trong vương quốc rất mực thanh tĩnh của lão có một chuyện gì đó rất khác, rất lạ. Sáng ấy, như mọi sáng, ngủ dậy, lão xỏ giầy, mở cửa bước ra sân hít thở khí trời. Lão không tập thể dục. Già rồi, tập làm gì! Lão thấy những người sống dai thường đói khổ và chẳng tập thể dục bao giờ! Bà lão hàng xóm nhà lão đấy!. Đã hàng chục năm bà ấy miệt mài gồng gánh bán buôn nhặt nhạnh bòn mót từng đồng từng hào để nuôi một thằng con dở hơi và đàn cháu nhỏ dại. Thế mà tám mươi có lẻ rồi kia kìa! Bà ấy chẳng thể thao thể dục bao giờ, mà có thấy đau ốm gì đâu! Sống nhiều, sống lắm, chẳng qua là trời hành… Cho nên lão chẳng bao giờ tập thể dục đúng bài bản như mấy ông bà hưu trí đang một hai ầm ỹ ngoài kia. Lão đứng giữa sân, hít thở, vặn lưng, vặn cổ, vung vẩy tay chân cho giãn xương cốt để rồi lại ngồi lì trước bàn dán mắt vào màn hình vi tính suốt ngày.

 Lạ thật! Sao hôm nay lại có tiếng chim kêu tíchtích… rộn tàng ngay trên đầu lão thế nhỉ? Đúng rồi, hai con chim sâu, áng chừng con nào cũng chỉ bằng đầu ngón chân cái đang nhảy nhót trước mặt lão kia kìa. Chúng bay vút lên, rồi lại sà xuống, thoắt ẩn thoắt hiện giữa đám cành lá rậm rì của giàn hoa giấy đầy gai góc ngay trên đầu lão. Tiếng chim hót vui lạ. Lão thấy phấn chấn quá! Múa may tay chân một lúc, lão vào nhà ăn sáng, pha ấm trà ngon, độc ẩm.

Sáng hôm sau, mở cửa bước ra sân, lão lại nghe thấy tiếng chim lảnh lót. Vẫn là đôi chim hôm qua. Nhưng lão nhận ra tiếng hót của chúng có gì đó không bình thường. Sao những con chim bé xíu lại phát ra thứ âm thanh mạnh mẽ, dữ dội đến thế kia chứ! Đúng rồi, thứ tiếng ấy không phải là tiếng hót. Âm thanh của nó mới đanh chói, gắt gỏng làm sao! Hình như đôi chim muốn xua đuổi lão hay sao ấy? Tiếng kêu của chúng vừa như mắng mỏ, vừa giống quát tháo trợ uy. Một chú còn sà hẳn xuống cây thiết mộc lan, nó xòe cánh ra, nghiêng nghiêng cái mỏ chúi về phía lão mà quát. Nhìn vào chỗ nó đứng, lão thấy hai lá lan bắt chéo lại với nhau, ở chỗ bắt chéo ấy là một đám dây rợ đan bện rất khéo. Mắt lão sáng lên: ôi, tổ chim kìa! Thì ra cặp uyên ương nhà kia đang lót ổ. Hiểu rồi… Chắc chúng nghĩ lão là người nước “lạ” đến cướp đất phá nhà của chúng. Ngữ này chẳng phải chim vua chim chúa gì đâu! Chúng chỉ là phường “dân đen” nên mới sống chết giữ tổ như thế! Ghê gớm quá. Thích thật! Lão vào nhà mặc quần áo phóng xe sang Tô Hiệu ăn phở Lý Quốc Sư…

 Cũng từ hôm ấy, lão bỏ hẳn thói quen ra sân  hít thở vào buổi sáng. Chiều sẽ tản bộ bù vào, chắc không vì thế mà tổn thọ đâu! Lão muốn tránh để không làm phiền vợ chồng chim có nhã ý tìm đến góc sân nhà lão ở trọ. Bất chợt lão nhận ra sự vắng vẻ quạnh hiu đang trùm lên ngôi nhà mình. Con đường dẫn vào nhà lão là một cái ngõ cụt, không xe cộ, không người lại qua, rất tĩnh lặng. Cả “xóm” chỉ có mấy nóc nhà. Nó là một thế giới khác giữa lòng phố xá ồn ào, bụi bặm. Nhà lão là một “tu viện” giữa thế giới tĩnh lặng ấy. Cửa trong cửa ngoài suốt ngày đóng im ỉm. Từ sáng tới 5 giờ chiều lão ngồi lì trên tầng hai giam mình trong căn phòng hẹp bộn bề sách vở. Bà lão thân sinh ra con lão ngồi ở tầng dưới, lướt “web” chán lại vui với đám nồi niêu, ngày chỉ vài lần, khi có việc mới bước ra ngoài sân. Giàn hoa giấy rậm rì gai góc bịt kín mảnh sân nhỏ lúc nào cũng rụng đầy lá khô. Chắc vợ chồng nhà chim ngỡ đó là vườn hoang nên mới tìm về ở trọ. Thôi thì từ nay lão sẽ đánh bạn với chúng. Có bạn, dẫu bạn là chim cũng đỡ hiu quạnh rồi.

Chừng non tháng sau chiếc tổ của đôi chim hoàn tất. Biết chắc chúng đã đi kiếm ăn, lão tò mò vạch lá xem trộm ngôi nhà của chúng. Nó to bằng chiếc ấm pha trà của lão, nom tựa như cái kén, nắm tay vào thấy chắc lói, vững chãi vô cùng. Miệng tổ chim khum khum, mấy chiếc lá lan hình lưỡi mác buông dài phủ kín ở phía trên, nắng gió, ngay cả mưa to cũng không hạt nào lọt vào được.

Rồi lão có việc phải vắng nhà mất mấy ngày. Cụ cố thân sinh ra vợ lão nhớ con gái cố, lão không thể không hộ tống bà cụ thân sinh ra con lão về quê thăm cố để cố thỏa lòng. Hôm ra Hà nội, mãi 5 giờ chiều mới rời Thanh Hóa, 9 giờ tới nhà, điện đường sáng choang, nhưng mảnh sân nhà lão tối mò, đặt chân vào thấy xào xạc lá rụng. Mặc cho bà cụ thân sinh ra con lão lích kích tay xách nách mang lỉnh kỉnh kéo mấy cái túi, vừa mở cửa vào nhà, lão vội tìm đèn pin, lật lật chạy ra chỗ cây thiết mộc lan, vạch lá soi tổ chim. Mắt lão sáng lên khi nhìn thấy quả trứng bằng đầu ngón tay út. Nhõn một quả! Vỏ trứng tấm tấm những chấm trăng trắng đen đen thành một màu lổ đổ. Chẳng thấy bóng dáng vợ chồng nhà chim ở đâu. Lão ngắm quả trứng nằm dưới đáy tổ mãi không chán. Phải đến lúc bà lão gắt lên, lão mới vào nhà tắm rửa, ăn uống qua loa, rồi đi nằm.

Cuộc sống lại quay về nếp cũ.  Sáng sáng, lão lại đứng trong nhà nhìn qua cửa kính quan sát sinh hoạt của vợ chồng nhà chim. Tò mò mà quan sát, quan sát cho vui, chứ lão không có ý định nghiên cứu tập tính của chúng. Cho nên lão chẳng ghi chép gì. Lão thấy đã mấy ngày nay, một chú chim lúc nào cũng nằm lì trong tổ. Thế là nó đã bắt đầu ấp rồi. Trong tổ có bốn trứng. Chừng hơn hai chục ngày, trứng nở. Chỉ nở được ba con. Lạ thật, không thấy vỏ trứng, cũng không thấy quả trứng ung, trong tổ chỉ có ba con chim con đỏ hỏn mắt nhắm tít, mỏ lúc nào cũng ngoác ra đợi mồi.

Lũ chim đã biến lão thành trẻ nhỏ. Lão rất khoái chọc giận vợ chồng nhà chim như trẻ con thích trêu người già. Mỗi ngày chọc giận chúng vài lần giờ thành thú vui của lão. Vì lão thì buồn, mà vợ chồng nhà chim từ hôm có mấy đứa con bỗng trở nên dữ dằn quá thể. Lúc nào lão cũng thấy có một con đi kiếm mồi – chẳng biết vợ hay chồng – còn một con chực sẵn ở nhà canh tổ. Nó quẩn quanh đâu đó, hễ có người ra sân, đến gần tổ của nó, lập tức nó xuất hiện và lên tiếng. Nó báo động ầm ỹ. Chẳng cần đợi lâu, vài phút sau, con kia cũng bay về. Chúng hợp lực với nhau cùng chiến đấu. Đứa sà xuống che chở cho bầy con, đứa bay lên, liệng quanh ngôi nhà, ríu rít gọi bạn cầu cứu. Chỉ một lúc, không biết từ đâu, cả bầy chim sâu rầm rập kéo đến, vỗ cánh loạn xạ. Chúng làm reo, giàn hoa giấy nhà lão ồn ào như chợ vỡ, vui quá thể…

Nhưng cuộc vui nào rồi cũng tàn. Mấy con chim non giờ đã mọc đủ lông mao lông vũ, nằm chật cả cái tổ. Có lần, con này bị hai con kia ép bật ra ngoài, rơi xuống đất, may mà lão trông thấy, nhặt lên đặt vào tổ. Rồi bầy chim bắt đầu tập bay… Chúng ra ràng vào một sáng Chủ nhật. Đã giữa hè, trời nắng gắt, vừa bảnh mắt, đã oi bức vô cùng. Ngồi trong nhà, lão thấy ba con chim non không biết bằng cách nào đã nhẩy được lên giàn hoa giấy, cánh chấp chới như muốn bay đi nhưng ngập ngừng, vẻ như sợ hãi. Vợ chồng nhà chim chao liệng phía trên, lúc vút lên cao, lúc sà xuống thấp, tựa như thúc giục, động viên, truyền can đảm cho đàn con. Chừng gần nửa tiếng sau, bầy chim mới vụt bay đi.  Suốt ngày hôm ấy, mảnh sân nhà lão im ắng, tĩnh lặng vô cùng.

Sáng hôm sau, lúc đang hít vào thở ra, văn chân vặn cổ giữa sân, lão nghe thấy những tiếng kêu tíchtíchtích… rất quen thuộc ngay trên đầu. Đúng là vợ chồng nhà chim sâu lại quay về. Lão vội vào nhà, bắc ghế ngồi quan sát qua lần cửa kính. Từ giàn hoa giấy, đôi chìm sà xuống cây thiết mộc lan ngó nghiêng, tìm kiếm. Một con đậu hẳn lên cái miệng tổ trống không, chúi đầu mổ mổ cái gì đó bên trong tổ. Rồi cả hai lại bay lên giàn hoa giấy. Tíchtíchtích… . Âm thanh khắc khoải chẳng biết là tiếng kêu, tiếng gọi, hay tiếng khóc ấy vọng mãi vào khoảng không tĩnh lặng trước mảnh sân nhà lão.

Bầy chim non đã bay đi là biệt tích… Nhưng vợ chồng nhà chim thì xem chừng còn quyến luyến, ngẩn ngơ lắm. Suốt một tuần, sáng nào lão cũng thấy chúng quay về sà xuống cây thiết mộc lan, nghiêng nghiêng ngó ngó …  Trước khi bay đi, thể nào chúng cũng đậu rất lâu trên giàn hoa giấy cất lên những tiếng kêu tíchtíchtích… khắc khoải như thế, thiết tha như thế… Lão thấy lão già nua thật rồi. Người già thường mau nước mắt. Nghe tiếngtích…gọi con của vợ chồng nhà chim, nước mắt lão tự nhiên ứa ra. Miệng lão run run. Hình như môi lão vừa mấp máy gọi “Mẹ”…, “Mẹ ơi”… trong tiếng nấc nghẹ ngào. Lòng lão dội lên nỗi nhớ thương da diết, tim như thắt lại, nghẹt thở…

Cái tổ chim giờ đã hóa thành tổ hoang. Hai hôm nay, lão không thấy vợ chồng nhà chim quay lại nữa. Ngước cặp mắt đờ đẫn nhìn cây thiết mộc lan, lão thấy như có luồng khí lạnh chạy dọc xương sống thấu lên tận óc, nhói buốt vô cùng…

                                             Đồng Bát, Ngày Buồn

                                                           TT

Advertisements

VỚI BÁC LẠI NGUYÊN ÂN

VỚI BÁC LẠI NGUYÊN ÂN

(Rút từ facebook Khac Hoa La – Lã Nguyên)

Trên một “Stt” của Nguyen Ba, bác Ân viết đoạn bình luận thế này về bài báo của Ngô Tự Lập đăng trên “An Ninh thế giới”*:

“Cái Y2K có thể là vụ về sự ấu trĩ ở thời hiện đại. Nhưng vụ Bakhtin thì rất có thể chỉ là sự hạ bệ của vài học giả kia đối với một học giả có những tư tưởng kiệt xuất. Tư tưởng đối thoại của Bakhtin đã đi từ nghiên cứu văn chương sang đời sống chính trị. Còn nói về tâm lý thời đại thì quả là có chuyện mỗi thời người ta, kể cả trí thức, có một loại tâm trạng. Nhưng ở thời độc đoán tòan trị hồi còn đang chiến tranh lạnh thì đúng là trí thức Tây phương không thể xem trọng ý thức hệ chính thống của phe XHCN, nên đã tập trung đề cao những luồng phi chính thống, ví dụ Bakhtin. Cái ý nhân thể đây ngờ vực tất cả, cả cái việc người ta phân rõ đâu là Marxism, đâu là Stalinism (mang danh Marx-leinnism) thì rõ là “phục vụ chính trị” hiện thời quá đi! Người tỉnh táo đâu có lầm sự truy cầu chân lý với sự tuyên truyền cổ vũ các ý hệ chính thống hiện tại? Tóm lại đây chỉ là một diễn ngôn cũ, đã được các anh Trần Đình Sử, Khắc Khac Hoa La nói lại ít nhiều. Cái mới chỉ là ý định nhân đây “chiêu tuyết” cho Stalinism dưới tên Marx-Leninism mà thôi. Mà cái đó thì không tán thành được”

Ý kiến của bác Ân “chuẩn không cần chỉnh”. Nhưng vì bác nhắc đến tôi và bácTrần Đình Sử, nên xin thêm đôi lời như sau:

1) Ở Nga, vấn đề tác quyền của một số cuốn sách liên quan tới M. Bakhin là vấn đề đã giải quyết xong xuôi từ tám hoánh, chẳng còn gì phải bàn. Tôi nói “xong xuôi” theo nghĩa: trong vòng mấy chục năm nay, việc giải quyết vấn đề ấy bao giờ cũng chia thành 3 phái:

a) Phái mê tư tưởng M. Bakhtin, vì mê mà huyền thoại hóa, qui tất cả những văn bản xuất sắc về cho Bakhtin. Điểm lại tên tuổi của những người theo phái này có thể thấy, họ phần đông là những học giả lớn, có uy tín và danh vọng, quá ngán ngẩm trước nền triết học, mĩ học, lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học xô viết xơ cứng, bảo thủ, lạc hậu và có cả phần phản tiến hóa. Tất nhiên, cũng có một số nhà nghiên cứu lớn, nhất là cánh nghiên cứu lịch sử văn học, đã phê phán xu hướng huyền thoại hóa Bakhtin. Tôi đã dịch bài của Viện sĩ Gasparov “Lịch sử văn học như là sự sáng tạo…” in trên Nghiên cứu văn học để độc giả thấy, ở Nga không phải ai cũng lí tưởng hóa Bakhtin.

b) Phái ghét Bakhtin ra mặt, muốn đánh đổ Bakhtin bằng mọi giá. Điểm lại tên tuổi của những người theo phái này có thể thấy, họ phần đông là vô danh, cũng có một số ông lớn như M. Khrapchenko hay P.N. Pospelov, nhưng nhìn chung, họ đều thù địch với tư tưởng Carnaval, tư tưởng đối thoại, nhất là tư tưởng cho rằng hướng tới dân chủ và đối thoại là lô gic tất yếu của lịch sử.

Điểm chung trong nguyên tắc phương pháp luận của cả hai phái nói trên là dựa vào các nguồn “radio mồm…”: “ông này nói…”, “ông kia nói…”, “ông này cho rằng…”, “ông kia khẳng định…”, “bà này kể…”, “ông kia than…”.

c) Phái thứ ba: xếp chuyện tiểu sử và tác quyền một loạt tác phẩm của Bakhtin vào loại “tồn nghi”, “bất khả giải”, do những người trong cuộc đã thành thiên cổ cả rồi và ai cũng thấy sẽ rất vô lối nếu chỉ dựa vào các “đài mồm” để giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên họ không né tránh câu chuyện tác quyền, nhưng họ giải quyết theo cách khác hết sức thận trọng: so sánh những văn bản tranh cãi với những văn bản mà Bakhtin hoàn toàn chẳng dính dáng gì và những văn bản đích thị của Bakhtin để xác định đâu là phần của Bakhtin với thái độ trân trọng những tư tưởng cốt lõi của nó. Theo tôi biết, Bộ tuyển M.M. Bakhtin 7 tập ở Nga, Bộ tuyển M.M. Bakhtin ở Nhật Bản và ở Trung Quốc được biên soạn theo nguyên tắc này. Cuốn ““Mĩ học sáng tạo ngôn từ” của M.M. Bakhtin và truyền thống triết học –ngữ văn học Nga” dày 400 trang (Nxb “Kulagina”, M., 2011) của Giáo sư Natan Davidovich Tamarchenko, nhà “Bakhtin học” nổi tiếng (mới mất năm 2012), cũng viết theo hướng này.

2) Tôi liệt kê ba “phái” ở trên để thấy bài của Ngô Tự Lập không có gì mới, chỉ nói chuyện “khổ lắm, biết rồi!”. Đọc bài Ngô Tự Lập, ta nhìn ra ngay cái tổ con chuồn chuồn: vị học giả trẻ tuổi khả kính của chúng ta đứng hẳn về phái “ghét Bakhtin ra mặt”. Cái tổ con chuồn chuồn này lộ ra ở ba đặc điểm làm nên “chiến lược” diễn ngôn của tác giả. Thứ nhất: bài viết dùng ngôn ngữ công kích của người quyết vạch trần, tố cáo, “lột mặt nạ” thay cho ngôn ngữ phân tích khoa học khách quan. Thứ hai: tạo ra câu chuyện về lịch sử tiếp nhận Bakhtin bằng hai sự kiện, theo hai giai đoạn: giai đoạn trước, huyền thoại Bakhtin được thêu dệt; giai đoạn sau, huyền thoại Bakhtin bị lật tẩy. Thực ra không phải vậy. Lịch sử tiếp nhận Bakhtin đã trải qua 4 giai đoạn: a) Bakhtin bị đẩy vào tù, vào bóng tối và quên lãng, b) Bakhtin được đưa ra ánh sáng, c) Cuộc chiến bất phân thắng bại giữa người quyết đẩy Bakhtin trở lại bóng tối và người ra sức bảo vệ Bakhtin, d) Bakhtin thành đối tượng nghiên cứu khách quan, cái cần bảo vệ giờ đây là một di sản chứ không phải là chuyện tác quyền và tiểu sử. Thứ ba: vị học giả khả kính của chúng ta lại giờ bộ quyền cước đã quen thuộc: bỏ qua văn bản, dựa hẳn vào các loại “đài mồm” nhằm “đánh một cú chết tươi”, quyết hạ gục Bakhtin bằng mọi giá.
Ý kiến của Ngô Tự Lập không mới, nhưng ở Việt Nam hiện nay, chắc chắn không thiếu người thích nghe những ý kiến như thế và họ là ai, tôi nghĩ, cũng không khó đoán lắm đâu.

* Xem:http://antgct.cand.com.vn/…/Nhung-con-bo-cua-gioi-truyen-t…/

“THƯỢNG ĐẾ ĐÊ TIỆN” (ĐOẢN VĂN)

Lã Nguyên

Mình yêu văn, theo học nghề văn, rồi trở thành ông giáo dạy văn và người nghiên cứu văn học. Trong đời, mình đọc không biết bao nhiêu văn, thơ, kịch, kí. Đọc xong, phần lớn là quên, một phần chỉ nhớ mang máng. Thỉnh thoảng có những chuyện cứ như cắm rễ trong đầu, ám ảnh kì lạ. Còn nhớ, năm 1968, mình viết luận văn về Gorki, nên đọc Gorki. Mình thích những bài viết của ông về chân dung văn học. Cái chân dung của ông về L. Tolstoi  thì đúng là đã cắm rễ trong đầu mình. Nó ám mình suốt đời, càng già, nghĩ lại, càng thấy thấm thía. Thấm thía nhất là cái đoạn thế này. Một lần, Gorki được đi dạo với Tolstoi ở Sochi, cảnh thu đẹp kì lạ: trời cao vòi vọi, da trời xanh ngắt, lá muôn cây rắc vàng trên mặt đất. Chưa bao giờ Tolstoi ông cảm thấy tâm hồn thư thới và gần thượng đế như vậy. Nhưng ô kìa, bụi tử đinh hương phía trước động đậy, một ông lão và bà lão hành hương đang hì hụi với nhau, hai cặp chân gầy guộc, đen đúa, mồ hôi ướt đẫm, đầy bụi bụi đường của họ cứ đạp đạp đầy tuyệt vọng, thò ra bên ngoài bụi cây, nom rất khó nhọc, kkhổ sở. Cảnh ấy đập vào mắt Tolstoi. Thoắt cái, mọi cảm hứng về cái cao cả và sự thiêng liêng vụt tắt. Ông trỏ tay lên trời, gầm gừ: – Này, Thượng đế!  Ông đê tiện lắm! Ông sinh ra con người, trao cho con người cả đam mê lẫn sức lực. Hà cớ gì ông để nguyên đam mê cho nó, mà rút hết sức lực của nó như vậy? Đê tiện! Đê tiện!.

Lúc ngoài 20 tuổi, đọc đoạn văn, mình chỉ thấy  buồn cười. Ngoài 50 tuổi, đọc lại đoạn văn, mình thấy thoáng buồn. Giờ gần 70, đọc lại, thấy đắng cay quá. “Đê tiện”. “Đê tiện”. Thượng đế đúng là tàn ác và đê tiện!

THẦY PHỨC

Lã Nguyên

Sáng nay vào trang “Văn hoá Nghệ An”, thấy có bài của Nguyễn Duy Xuân viết về Thày Phức . Bài viết từ năm kia (2012), nhân dịp Ngày Nhà giáo, sao giờ mới đăng? Thấy lạ, mình phôn ngay cho Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Đình Ba, hai ông đồng môn, đồng khoá, cũng là hai giảng viên kì cựu của Trường Vinh, nay hưu trí ở Hà Nội. Hỏi ra mới biết, Thày đã mất rồi. Mình lặng người… Kỉ niệm tràn về. Rưng rưng một nỗi nhớ thương. Nhớ Thày, thương Thày. Mà cũng có cả nhớ mình, thương mình những năm tháng ấy…
Mình học Khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, Khoá VI, 1965 – 1968. Trước mình là Khoá IV, vì Khoá V không tuyển sinh. Mình vào học, Khoa Văn chỉ có hai khối: “Văn I” và “Văn III”. Hồi ấy, hệ đại học Sư phạm chỉ học ba năm. Ba năm, học hai chuyên ngành: Văn và Sử. Tức là, với tấm bằng được cấp, mình có quyền dạy cả sử, lẫn văn ở các trường phổ thông cấp III. Dĩ nhiên, học văn vẫn là chính, vì mình nhớ, Khoa có rất nhiều giảng viên văn, mà chỉ có hai thày dạy sử là Thày Phan Văn Ban và Thày Hoàng Văn Lân. Tất cả các giảng viên, già cũng như trẻ, đều được gọi là “cán bộ giảng dạy’, thường viết tắt là “cờ bờ giờ dờ”. Thày Nguyễn Cảnh Phức dạy chúng mình môn Trung Văn hai năm liền: năm thứ nhất và năm thứ hai. Khoá mình có 72 sinh viên, chia thành hai lớp: A và B. Bảy mươi lăm phần trăm sinh viên khoá mình là cán bộ đi học. Trước khi đi học, nhiều anh từng là Trưởng phòng ở các Ty Giáo dục, hay Hiệu Trưởng, Hiệu Phó các trường phổ thông. Giáo dục toàn miền Bắc lúc ấy có ba “lá cờ đầu”: Bắc Lí, Hải Nhân và Cẩm Bình. Hai vị Hiệu phó Cẩm Bình (Nguyễn Huy Vang) và Hiệu phó Hải Nhân (Nguyễn Văn Nho) là sinh viên lớp mình, lại cùng tổ với mình. Cánh này đều đã ba lăm trở lên, nhiều tuổi hơn hầu hết các thày trong Khoa. Mình nom anh Hoàng Ngọc Giới, Nguyễn Huy Vang, Nguyễn Cảnh Tuân còn “oách” hơn cả Thày Nguyễn Khắc Phi, hay Thày Đỗ Đức Huyến… Cho nên, khi Thày Phức bước vào lớp trong buổi giảng đầu tiên, cả lớp mình, ai cũng ngỡ ngàng trước sự trẻ trung của Thày. Mấy đứa con gái, mắt chữ “I”, mồm chữ “O”, nhìn Thày không chớp mắt. Chúng mình vào năm thứ Nhất, thì Thày tốt nghiệp Đại học. Ra trường, Thày về dạy chúng mình ngay. Chắc Thày chỉ nhỉnh hơn chúng mình chừng ba, bốn tuổi. Ngồi với nhau, người ngoài nhìn vào ngỡ anh em, chứ không mấy ai biết là thày – trò. Thày da trắng, vóc người nhỏ, rất thư sinh. Răng Thày hơi hô, lúc nào cũng tựa như đang cười, nom rất tươi. Thày gọi lứa lớn tuổi bằng “các anh”, gọi đám chúng mình là “các cậu” và xưng “tôi”. Mình vẫn nhớ những buổi dạy của Thày. Mỗi tuần Thày dạy bốn tiết: hai tiết Trung văn và hai tiết Hán Nôm. Thày vừa dạy theo giáo trình, vừa hướng dẫn chúng mình đọc báo. Sau hai năm Thày dạy, mình đã đọc được “Tân hoa xã”. Thế mà về sau mình bỏ, lâu dần quên hết. Tiếc thật! Thú nhất là những giờ Thày dạy Hán Nôm. Cho đến nay, mình vẫn còn nhớ ý nghĩa của chữ “tích việt” (“có thiên tích việt cầm tay”) trong Truyện Kiều, hay các chữ “phúc”, chữ “dân”… Thày giảng, hiểu theo kiểu chiết tự, thì “phúc” là một miệng ăn, lại có cả ruộng, lẫn người lễ tết (福: một bên là bộ “lễ”, một bên là các chữ “nhất”, “khẩu”, “điền”), còn “dân” chẳng qua là “thằng ngu tự cầm kim chọc mù mắt mình” (các vị nhìn vào hình chữ “dân” xem có đúng thế không nhé: “民”). Các bài “Quốc tộ” (國祚) của Đỗ Pháp Thuận, “Cáo tật thị chúng” (告疾示眾) của Mãn Giác Thiền Sư, hay “Nam quốc sơn hà” (南國山河) và nhiều bài thơ khác mà Thày dạy, cho đến nay, mình vẫn nhớ mặt chữ Hán. Nhờ Thày dạy mà bây giờ mình vẫn có thể đọc thuộc lòng bản phiên âm chữ Hán của các áng thiên cổ hùng văn, như “Hịch tướng sĩ”, hay “Bình Ngô đại cáo”…
Tiếng là được đào tạo ba năm, nhưng khoá mình chỉ thực học hai năm, hay hai năm rưỡi gì đó. Vì trong ba năm học ấy, chúng mình phải chuyển trường hai lần: từ Nghệ An chuyển ra Hà Trung, Thanh Hoá (cuối năm 1965 – đầu 1966), rồi lại từ Hà Trung sơ tán lên Thạch Thành (tháng 9, năm 1966). Mỗi lần sơ tán như thế, bao nhiêu sách vở và toàn bộ cơ sở vật chất của Trường đều được khiêng vác trên đôi vai của chúng mình. Tối: khiêng vác hòm xiểng sách vở của thư viện và xoong chảo nhà bếp. Ngày: đẵn cây, cắt cỏ tranh, đào hầm trú ẩn, dựng lán làm lớp học. Hai lần di chuyển mất đứt gần nửa năm. Kiến thức trong ba năm học, bây giờ chữ nhớ, chữ quên. Nhưng những kỉ niệm về cái đói, cái bẩn và sự bức bối thời sinh viên thì mình khắc cốt ghi xương. Nhiều lúc cứ nghĩ lẩn thẩn, khi mình chết, con cháu đem mình hoả táng, không khéo chúng sẽ đọc được nguyên vẹn những kỉ niệm ấy vẫn in hằn trên đống xương cốt cháy xạm đen sì.
Đói, chao ơi là đói! Sáng ngày, vừa mở mắt ra đã thấy đói. Ngồi học trên lớp, đói cồn cào. Trưa, vài lưng cơm độn toàn những ngô với sắn, chả bõ bèn gì, ăn xong, vẫn cứ đói. Bốn rưỡi chiều, đã thấy cả lớp cắp bát xuống nhà bếp. Ăn từ lúc ấy, đến 11, hoặc 12 giờ khuya đi nằm, đặt lưng xuống chiếu, bụng réo ùng ục, lúc tỉnh dậy, chẳng biết mình ngủ được là do thiếp đi, hay lả đi. Hễ không thấy đói, biết ngay là mình ốm. Ốm và đói là hai cảm giác rùng rợn nhất trong suốt mấy năm học đại học của mình. Đói quá, sinh ăn nhiều. Vào ngày chủ nhật, hay ngày lễ, cánh Thanh Hoá, gần nơi sơ tán của Trường, thường về nhà kiếm ăn. Đám xa nhà, ở lại, không cho chúng cắt cơm. Có thằng trong lớp, bị mấy đứa thách, xơi một hơi 6 xuất cơm và nải chuối 28 quả, lại còn uống cạn được chai sáu nhăm mật mía. Mình nhớ, ăn uống xong, nghỉ va chạy ra suối, úp bụng lên tảng đá mát lạnh, nằm thở. Vì đói quá, nên thấy gì cũng ăn. Ốc sên được xem là cao lương mĩ vị. Mỗi ngày vào rừng, cố kiếm mấy con, để dành khi có bạn khoa khác đến chơi, mang ra thết đãi. Không có gì ăn, dân hở ra cái gì, liền mất ngay với sinh viên cái đó. Thằng Căn lớp mình người Hà Nội, từng đi Thanh niên xung phong, trông như công tử, thế mà đói quá không chịu được, bẻ trộm cây mía, bị chủ bắt được báo Khoa, hắn suýt bị đuổi học. Kỉ luật chặt vẫn không ngăn được sinh viên vặt trộm của dân. Ở đâu có sinh viên, ở đấy vườn tược bị tàn phá, mọi loại cây, củ, quả ăn được đều bị vặt trụi, thành ra tiêu điều. Dân hai tỉnh Thanh, Nghệ, ở những nơi chúng mình sơ tán, có một truyền ngôn về “sức mạnh” tàn phá của sinh viên thời ấy: “Thứ nhứt bom bi, thứ nhì đại học”. Nhiều năm sau, khi đã trở thành “cờ bờ giờ dờ” của Trường Vinh, chúng mình vẫn bị đói thế. Còn nhớ, hồi ở Quỳnh Văn học Nga văn với Nguyễn Văn Lợi, Hồ Hồng Quang, mỗi lần ăn xong, tay Đặng Ngọc Lệ, giờ là Giáo sư đã nghỉ hưu, thường gõ bát, hát một bài nhạc “chế”, rất phản động: “Chế độ ta tươi đẹp. Ngày hai bữa cơm lép. Mà chúng vẫn nói phét. Rằng chế độ ta tươi đẹp”. Nghe hắn hát, chúng mình sợ quá. Nhưng thú thật, cái giọng the thé cố gào to chữ “phét”, nhất là đôi mắt híp hấp háy như cười của hắn khi hát lại khiến chúng mình khoái chá.
Đã đói, lại bẩn nữa mới khổ! Ở trong nhà dân, chiếu chăn chẳng có để thay, giường toàn rệp. Mình ra Hà Nội, ngủ với tay chú họ học Trường Bách Khoa cũng bị rệp đốt. Tay chú mình bảo, giờ mỗi trường đại học là một ổ rệp khổng lồ. Mới tập trung được vài tháng ở Thanh Hoá, cả lớp mình, con trai cũng như con gái, đứa nào cũng ghẻ kềnh ghẻ càng. Ngứa không chịu được, ngồi học, cả lớp thi nhau gãi sồn sột, vui đáo để. Mình nhớ, nơi mình sơ tán, cả làng chỉ có mỗi một cái giếng. Đám con trai chúng mình kéo nhau ra đó, cứ để nguyên quần áo, lấy gầu múc nước lên giội, bôi xà phòng, kì cọ, vừa tắm, vừa giặt, xong, lại giội nước cho sạch, rồi về, cười cười nói nói ầm ỹ, thú vô cùng. Chúng mình nghĩ ra mẹo vứt gầu xuống giếng, như thể gầu bị đứt dây, lấy cớ nhẩy xuống lặn để tắm cho thoả thích. Những lần như thế, mặt mũi đứa nào cũng hả hê, quên cả đói.
Hãi nhất là sự bức bối. Đói, bẩn, lại thêm bức bối, trong mấy năm liền, cứ hễ đến mùa hè, là đám con gái lại hoá dại. Chúng mình chưa kịp đưa đứa này đi viện, thì đứa khác đã lại hoá dại rồi. Khi hoá dại, chúng ngồi trong phòng, lúc lặng im như tượng đá, lúc cười khanh khách như Xuý Vân. Từ sáng tới tối, nơi chúng mình sơ tán, chỗ nào cũng nghe thấy những tiếng cười rùngng rợn. Có đứa cười ngặt nghẽo, vừa cười vừa hát, lại còn kể ra vanh vách những cậu nào định tán tỉnh mình. Thời ấy, trai gái yêu nhau phải báo cáo tổ chức. Đứa nào chưa báo cáo mà để tổ chức bắt được việc hôn nhau, thì chỉ có chết! Tập thể lớp, chi đoàn thanh niên, chi bộ sẽ đưa ra kiểm điểm thứ tình yêu được cho là “bất chính” này. Cho nên, đám con trai nghe mà nơm nớp, chỉ sợ cái cô điên dại kia réo tên mình lên thì khốn. Lại có đứa vừa cười, vừa khóc, nghe não nuột thê lương y như là nhân loại bước vào thời tận thế, hoang mang quá.
Phải đến già mình mới nghiệm ra: sống vừa có nghĩa là vật lộn, chống trả, vừa có nghĩa là buông thả, tha hoá. Thích nghi cả với những hoàn cảnh tồi tệ nhất để tồn tại chính là biểu hiện rõ nhất của sự tha hoá như vậy. Thế hệ mình đã vượt qua tất cả một phần nhờ ở sự chống trả, nhưng chủ yếu là nhờ vào sự tha hoá, hay nói cho sang trọng, nhờ ở sự thích nghi: thích nghi với đói khát, với bức bối, với sự bẩn thỉu hiểu theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Vào năm thứ ba, chúng mình học Nga văn, không học Trung văn và Hán Nôm nữa, nên không còn mấy khi được gặp Thày Phức. Năm 1968, sau khi tốt nghiệp, mình được giữ lại Trường làm giáo viên của Khoa đào tạo giáo viên cấp II. Khoa Văn đóng trên trên miền núi Thạch Thành. Khoa cấp II nằm dưới đồng bằng, ở Tây Giai, Vĩnh Lộc, ngay trong thành Nhà Hồ. Năm 1969, Trường Vinh chuyển về Quỳnh Lưu, Nghệ An. Khoa Văn ở Quỳnh Thạch. Khoa cấp II ở Quỳnh Bảng. Lại vẫn một Khoa trên rừng, một Khoa dưới biển. Có lần, mình được tin Thày Phức đã nhập ngũ. Từ ấy, hình ảnh Thày không mấy khi trở về trong kí ức của mình.
Nhưng cuộc đời thường đầy những bất ngờ, bất ngờ đến kì diệu. Tháng 4 năm 1972, Trường Vinh một lần nữa phải bỏ Quỳnh Lưu chạy lên Yên Thành để tránh bom đạn. Các khoa đóng rải rác dọc con sông nông giang mà phía thượng nguồn là ba-ra Đô Lương. Khoa Đào tạo giáo viên cấp II đóng ở Thọ Thành. Khoa Văn đóng ở Lăng Thành. Thế là chạy tới chạy lui, suốt 8 năm trời, Khoa Văn không sao thoát ra ngoài hai chữ “Thành” và “Thạch”. Tháng 6 năm 1972, Khoa cấp II cử mình là người duy nhất cùng nhập với đoàn Khoa Văn đi coi thi tuyển sinh ở Quảng Bình. Người ta không cho đi ô tô, vì sợ bị máy bay bỏ bom. Chỉ cần bom rơi trúng một ô tô, coi như một khoa bị xoá sổ. Cho nên, từ Yên Thành, chúng mình đạp xe đạp dọc theo đường 7, qua Cẩm Minh, Cẩm Lạc, Hà Tĩnh. Vượt Quảng Văn, Bắc Quảng Trạch, sang lối Quảng Hoà, chúng mình về điểm tuyển sinh ở xã Hiền Ninh, huyện Tây Ninh. Ở Trường cấp III Bắc Quảng Trạch mình được hai bạn hiền Đỗ Văn Quảng và Hồ Ngọc Diệp chiêu đãi món cháo cá quả. Sợ ban ngày đun nấu, khói bay lên, sẽ bị máy bay phát hiện, các ban chờ đêm xuống mới đào hố cát thật sâu, nhóm lửa, bắc bếp. Ngồi viết những dòng này, mình vẫn còn thấy thoang thoảng đâu đây hương vị thơm ngọt của món cháo cá thời chiến. Mỗi ngày dậy sớm, đi từ 4 giờ sáng, 9 giờ vào nhà dân nghỉ thổi cơm ăn, ngủ chán chê, 4 giờ chiều lại dậy đi cho tới tận 10 giờ đêm. Ròng rã như thế, cả đi, cả về, cả thời gian tuyển sinh, mình ngồi trên xe suốt 24 ngày liền. Lúc về, mình tách đoàn đi một mình. Mình vào thành Đồng Hới, ngồi ăn bánh mướt (tức bánh cuốn). Giữa chiến tranh mà mình thấy vắng lặng, thanh bình quá. Chỉ còn quán bánh mướt mình ăn và một hiệu chụp ảnh trụ lại. Đến Ba Đồn, mình mua chiếc nón bài thơ bọc thật kĩ mang về tặng người yêu. Mình cởi áo ba lỗ buộc vào thắt lưng, vận độc chiếc quần cộc phóng xe qua Thạch Hà, thấy thị xã Hà Tĩnh vắng vẻ, chỉ thấp thoáng bóng người. Ra Nghệ, mình đến cấp III Vinh sơ tán ở Nam Dương, Nam Đàn chơi với bạn, lại cùng bạn đến Hưng Nguyên, rồi về thành Vinh mấy ngày. Ở Vinh, có cảm giác, mình và đám bạn như đàn chim sẻ làm tổ giữa khu nhà hoang, không thèm biết gì tới cảnh bom rơi, đạn lạc.
Mình rời Vinh vào một ngày đẹp trời. Mình lại về đường 7, rẽ sang Công Thành để rồi dọc theo đê đi về Lăng Thành và Thọ Thành. Mình đến Công Thành vào quãng 4 giờ chiều. Mùa hè, trời nắng gắt. Đang đạp xe, từ xa, mình thấy hai anh bộ đội khiêng một con lợn đi theo chiều ngược lại. Có lẽ vì khiêng nặng, họ lầm lũi đi, chẳng để ý tới người qua đường. Nhưng mình thì tựa như có luồng điện chạy dọc toàn thân, khi đến gần, nhận ra gương mặt quen thuộc của một người trong số họ. Trời ơi, Thày Phức của mình kia kìa. Thày Phức mà mình và bao sinh viên kính trọng, quí mến đang cùng anh tân binh khiêng lợn kia kìa… Mình phanh xe, đứng lặng như trời trồng. Phải vài phút sau mới trấn tĩnh, mình quay lại gọi Thày. Nghe mình gọi tên, Thày ngoái đầu, thoáng chút ngạc nhiên, nhưng rồi ông cũng nhận ngay ra mình. Hai người hạ con lợn xuống vệ đường. Thầy trò gặp nhau mừng mừng, tủi tủi. Thày bảo, đến phiên Thày làm anh nuôi nên phải đi kiếm thực phẩm. Nhìn da Thày sạm đen, không còn trắng trẻo như xưa, mình ứa nước mắt thương Thày. Thày trò tay trong tay, chỉ nhìn nhau, chẳng biết nói gì, vì nói gì lúc này cũng trở thành vô duyên. Rồi mình chia tay với Thày. Mình nhìn theo cho đến khi bóng Thày và anh tân binh khuất hẳn vào sau luỹ tre làng.
Thế là trời đất run rủi để mình gặp lại Thày Phức, gặp lại trong một hoàn cảnh thật oái oăm, khiến hình ảnh Thày mãi mãi khắc sâu trong kí ức của mình. Hình ảnh ấy gợi dậy nỗi đắng cay của bao nhiêu cuộc đời. Hồi còn dạy ở Trường Vinh, mình cũng chẳng từng phải cầy bừa, gặt hái, chăn trâu và khiêng lợn đó sao? Nghĩ tới Thày Phức, mình thấy hiện về hình ảnh các Thày Lê kinh Khiên, Tưởng Đăng Trữ, Ngô Xuân Anh, Lê Bá Hán, Nguyễn Trung Hiếu… và nhiều Thày khác giờ không còn trên cõi đời này nữa. Mình bỗng nhớ tới câu thơ của Tố Hữu nói về những kiếp người: “sống trong cát chết vùi trong cát”. Chỉ có điều, các Thày “thác là thể phách, còn là tinh anh”.
Chữ Hán, “Phức” nghĩa là “Thơm”. Không biết hồn thơm của các Thày ở đâu bây giờ?
Hà nội, 17.7.2014.

HÚP MIẾNG CANH, CỐ MÀ NUỐT ĐI CON!

(Đoản văn)

Lã Nguyên

Hôm nay, 20/3, ngày HẠNH PHÚC, mình kể chuyện này.

Từ khi chẳng còn phải dùng đến sổ gạo, muốn ăn bao nhiêu cứ ra chợ mà mua, mình buộc chỉ cổ tay, thề độc: sẽ không bao giờ đụng tới ngô, khoai, sắn nữa. Thề độc như thế, vì mình lớn lên bằng sắn, bằng khoai. Có dễ cả hàng chục mẫu sắn, ngô, khoai  đã được đào lên, đổ vào kho chứa là cái bụng của mình. Riêng chuyện khoai, có một kỉ niệm đã cắm rế trong óc từ hồi mình lên 8, dẫu đến chết, chắc cũng chẳng quên được.  Mà đẹp đẽ gì đâu! Nó chỉ là kỉ niệm về chuyện đói. Thế hệ chúng mình, quá nửa đời người, chẳng mấy khi đặt lưng xuống chiếu mà bụng được no. Cho nên, nếu có 10 kỉ niệm đáng nhớ, thì chắc mình phải có tới 6, hay 7 chuyện gì đó về cái đói. Đói, chao ôi, rất đói! Đói “vàng cả mắt”, đôi khi “tay bắt chuồn chuồn”. Nhưng đói nhất có dễ vẫn là đận 1954. Cha mình bảo, thóc đã nộp thuế, chở lên Điện Biên hết rồi. Suốt tháng giêng và tháng hai, nhà mình toàn ăn “lớ”. Thanh Hóa, quê mình gọi “lúa” là “lọ”.  Nghệ An gọi lúa là “ló”. “Lọ” (hay “ló”) phơi khô, đem quạt. Khi quạt, trấu bay ra xa, “lọ” chắc chảy xuống họng quạt thứ nhất, “lọ” lép rơi xuống họng quạt thứ hai, xa hơn một chút. Bình thường, thứ “lọ” lép này là thức ăn của gia súc. Phải năm đói, nó là thức ăn của người.  “Lớ” là “lọ” lép (hay “ló lép”, theo tiếng Nghệ An) đem rang rồi giã thật nhỏ. Nó là cám. Nhưng so với cám, “lớ” có nhiều tấm hơn một chút. Đổ “lớ” ra mẹt, lấy thìa xúc  cho vào mồm, ngậm chặt lại cho nước miếng tứa ra rồi nuốt dần. Mẹ mình kể, có người đang ăn, hứng lên nói chuyện, sặc phải “lớ”, lăn ra chết nghẹn, đưa đi viện, nhưng không cứu được. Cho nên, nhà mình cấm nói chuyện khi ăn “lớ”.  Thỉnh thoảng, mẹ mình mua được một mớ sắn “gạc nai”. Nó là thứ sắn dân mạn ngược  hong trên gác bếp, đen sì. Phải ngâm nước cho mềm ra, gọt vỏ , thái nhỏ, bỏ chày giã thành bột. Bột sắn “gạc nai” khen khét mùi khói rất khó chịu. Đem thứ bột sắn có mùi khói khen khét ấy trộn với rau khoai, hoặc lá bầu non,  thêm ít nước, giã lại cho nhuyễn, rồi vắt thành từng nắm, bỏ chõ đồ lên để ăn.

Phải đến tháng 3, nhà mình mới dỡ được một vạt khoai. Khoai tháng 3 còn rất non, nhưng vẫn phải dỡ. Các con mình giờ chắc không hiểu rõ ý nghĩa của câu ca: “Tháng 8 đói qua, tháng 3 đói chết”. Nhà mình không đến nỗi phải “đói chết” nhờ có cái vạt khoai dỡ non kia. Còn nhớ, hôm ấy, khoai vừa dỡ về, mẹ mình luộc hẳn một nồi to. Mình hái lá rau khoai già nấu canh suông. Khoai chín, đổ ra cái dành. Cha mình bưng nồi canh và dành khoai đặt giữa hè. Cả nhà mình, mỗi người múc một bát canh. Cứ ăn một miếng khoai, lại húp một thìa canh. Khoai ăn cả vỏ, mà ngon ơi là ngon.

Đang ngon lành, bỗng mình tớp ngay phải củ khoai hà. Miệng mình đầy khoai, đắng nghét. Mình đặt vội bát canh xuống hè, suýt ọe. Mẹ hỏi: – Sao thế con? Mình rơm rớm nước mắt: – Phải miếng khoai hà rồi. Mẹ mình bảo: – Đừng nhổ. Húp miếng canh, cố mà nuốt đi con!

Vâng, kỉ niệm thời thơ ấu của mình chẳng có chút thơ nào. Phải thế không, hỡi  các bạn đang hân hoan trong ngày lễ HẠNH PHÚC?.

Hà nội, 20.3.2014.

Người của những sự kiện văn học

(Bài này viết từ 2010, nhân GS Trần Đình Sử 70 tuổi. Mình đăng lại để mọi người cùng đọc)

Lã Nguyên 

1. Nghèo nghèo một chút lại hoá hay. Trần Đình Sử về Tổ Lí luận văn học Sư phạm Hà Nội năm 1981. Tôi về Tổ năm 1983, sau anh hai năm. Anh có nhà riêng ở 22 Nguyễn Huy Tự, ngay giữa trung tâm Thủ đô. Gia đình tôi lúc ấy còn ở Thanh Hoá, tôi là kẻ “độc thân có vợ”, sống trong kí túc xá. Căn phòng ở dãy “H” nhà trường cho tôi mượn là gian nhà cấp bốn, mái lá, vách đất, chân vách đã sụt lở hết, hở toác toàng toang, mỗi khi bạn hữu đến chơi, tôi đùa, “tớ ở thì được, đem con lợn thả vào, thể nào nó cũng chạy mất”. Cho nên, nhiều lần đến đàm đạo văn chương với Trần Đình Sử, ngồi trên gác hai nhà anh, tôi có cảm giác như lạc vào một thế giới khác. Những lúc như thế, bỗng lại nhớ, hồi còn ở Trường Vinh, sống giữa rừng Thạch Thành Thanh Hoá, đông về rét buốt, cánh trẻ chúng tôi gồm những Hoàng Việt Anh, Hồ Hồng Quang, Nguyễn Văn Lợi, La Khắc Hoà…, mỗi đứa diện một áo bông Tôn Trung Sơn to xù, nhìn Trần Đình Sử khoác chiếc blouson vinilon màu cánh dán may rất khéo, trông thật bảnh bao sang trọng. Nhưng chỉ mấy năm sau, tôi đã kịp nhận ra, Trần Đình Sử cũng chẳng phong lưu giàu có gì.

Có một chuyện tôi nhớ mãi, giờ kể lại, nghe buồn cười, nhưng dư vị thì cứ thấy đắng cay thế nào! Nhiều người hẳn chưa quên những khó khăn mà chúng ta được trải nghiệm vào giữa những năm 80 của thế kỉ trước. Đó quả là lúc “gạo châu củi quế”, ai cũng túng thiếu, suốt tháng độc món bo bo, mì mạch, mùa hè, máy nước không mấy khi chảy, điện thường bị cúp, ban đêm nóng quá, trẻ con hàng xóm không ngủ được, khóc ré, nhức tai, khổ sở hơn cả thời bom đạn giặc dã. Nhìn lại những tấm ảnh chụp hồi ấy, thấy ai cũng còm nhom, chẳng có mấy gương mặt trông rõ thần sắc. Có lẽ vì thương đám giáo viên ngù ngờ chẳng biết xoay xoả, nên Trời ban cho Công đoàn Khoa Văn mấy vị cán bộ vừa hảo tâm, vừa năng nổ. Nhiệt tình nhất là chị Phương Thi và cô Bích Hà. Gần Tết, các chị vào Bình Đà liên hệ với mấy chỗ thân quen mua pháo về bán, kiếm chút lời, gọi là cải thiện cho anh em (hồi đó, “nhà nhà đi buôn”, “người người đi buôn” để “tự cứu mình”, chẳng có gì phải xấu hổ; buôn pháo, đốt pháo cứ gọi là thoải mái, chứ không bị cấm ngặt như bây giờ). Tết ra, các chị lại xoay xoả, sang tận Gia Lâm móc nối với một trại gia cầm (nghe đâu con gái bà Giám đốc học ở Khoa mình) để mua gà giống cho mọi người tăng gia. Muốn mua bao nhiêu phải đăng kí trước với Công đoàn, nhưng mỗi suất không được quá mười chú gà nhép. Đến tận bây giờ, tôi vẫn không hiểu, vì sao người ta lại giao gà vào ban đêm. Điểm giao gà là mảnh sân trước cửa hàng bách hoá phường Phương Mai. Quãng 8 giờ, hầu hết giáo viên trong Khoa (có rất nhiều tên tuổi khả kính, lẫy lừng khắp nước) đã tề tựu đông đủ. Mọi người tựa vào xe đạp (hồi ấy chưa ai có xe máy), túm tụm thành nhiều tốp trò chuyện râm ran. Vừa trò chuyện, vừa chờ đợi, đã mười giờ mà chẳng thấy gà qué gì. Mười một giờ, mười hai giờ, rồi một giờ sáng, xe chở gà vẫn chưa “về”. Sốt ruột quá. Trời rét căm căm. Nhếch nhác quá. Nhưng không ai bỏ cuộc. Giờ thì các thày hình như chẳng còn thiết trò chuyện gì nữa. Mọi cặp mắt đều thấp thỏm dõi về phía đầu phố. Ai cũng có vẻ nhấp nhổm, nhớn nhác thế nào ấy. Bỗng ánh đèn pha quét mạnh, một chiếc xe tải xịch đến, cả Khoa reo ầm lên rất đều, y như có người bắt nhịp: “Gà về…”.  Gần hai chục năm nay, không còn được nghe tiếng reo tập thể đầy hân hoan trước những niềm vui nhếch nhác, thường bất ngờ vỡ oà ra như thế giữa các khu phố hoặc các dãy nhà cao tầng: “Có điện rồi…”. “Gạo về…”. “Cá về…”. “Nước về…”.

“Gà về…”. Sướng thật! Cuối cùng, tôi cũng đem được mười chú gà lông lống bằng nắm tay về thả vào cái chuồng tự đóng rất vụng treo lửng lơ trên vách gian nhà vệ sinh vốn đã quá chật hẹp. Nghe nói, nuôi khéo, mỗi con có thể nặng tới sáu, bảy cân. Đầu tôi mê man với những toan tính “bắt cua trong lỗ”: “bỏ rẻ, mỗi con năm cân, mười con, chao ôi…, những nửa tạ thịt, sẽ mang về quê đãi vợ con một chầu thật đã, còn đâu, đem bán”. Lúc đi nằm, nhìn đồng hồ, thấy đã hơn bốn giờ. Bụng đói, sôi ùng ục. Thế hệ tôi, quá nửa đời người, có mấy khi đi nằm, đặt lưng xuống chiếu mà bụng được no đâu! Trằn trọc mãi, không sao ngủ được, chẳng hiểu vì đói, hay vì viễn cảnh nửa tạ thịt gà đang đung đưa trong miên man tưởng tượng của tôi…

Sáng sau ngủ dậy, tôi uống cốc nước lọc thật to thay cho ăn sáng. Hồi ấy có phong trào uống nước lọc chữa bách bệnh, nghe đâu, đó là bài thuốc của người Nhật. Vào nhà vệ sinh, nhìn đám gà rúc rích mổ rau trộn cám, bỗng thấy phấn chấn, tôi quần áo chỉnh tề, đạp xe ra phố, rồi dong thẳng một mạch đến chơi Trần Đình Sử. Anh đón tôi vào nhà. Ngoài đường lạnh cóng, được ngồi trong phòng ấm, rất thú. Ngồi một lát, tôi linh cảm thấy hình như có chuyện gì đó không bình thường. Trần Đình Sử rất khoái uống trà. Mỗi lần tôi đến, bao giờ anh cũng đãi một ấm thật ngon. Anh thường bảo tôi là bạn tri âm. Chắc nói thế là thật lòng, vì hình như anh thấy tôi không chỉ tâm đắc, mà còn hiểu thấu đáo lý lẽ bên trong của những điều anh viết ra. Mỗi khi tôi đến chơi, anh em say sưa đàm đạo, hết chuyện nọ tới chuyện kia, không dứt ra được. Vậy mà lần này, lạ thật….. Anh em ngồi suông, chẳng thấy chè cháo gì… Chuyện trò thì đuểnh đoảng. Tôi ngạc nhiên thấy có đến mấy lần, vừa ngồi xuống nói với tôi vài câu chẳng ăn nhập vào đâu, anh lại lật đật đứng lên, bước ra ngoài bếp. Tò mò, tôi cũng bật dậy, theo chân anh…

Trời ơi, đại hoạ hoạ thật rồi… Chỗ anh đang đứng là cái chuồng làm tạm, nhốt đám gà vừa mua tối qua. Cạnh chân anh, một chú đã toi, chắc vừa mới phát hiện và kéo ra khỏi chuồng. Trông vào chuồng, tôi thấy cạnh mấy chú nhanh nhẹn, có hai con đứng co ro, chẳng ăn uống gì, bộ như bị rù. Hai con này mà toi luôn, thì nuôi bảy chú kia hoá ra công cốc, còn lờ lãi gì nữa… Chẳng biết tối qua anh có hứng lên mà “đếm cua trong lỗ” như tôi hay không? Giờ, nhìn bộ dạng lo lắng, bất an của anh, tôi thấy rưng rưng một tình cảm thân thiết đến kì lạ. Giáo San của Nam cao chẳng đã tái mặt khi chiếc đồng hồ của y giở chứng đó sao? Chao ôi, làm một ông Tiến sĩ, đã dạy đến tận đại học, bụng đầy bồ chữ cả Tầu lẫn Tây, vậy mà vẫn thua anh giáo khổ ngày xưa. Đám giáo khổ của Nam Cao có phải nuôi gà đâu!

Cho nên, xin đừng nghĩ, Việt Nam chưa có đại học đẳng cấp quốc tế vì thày giáo nước mình kém cỏi! Họ không kém đâu, chẳng qua là ông giời bắt tội, buộc họ phải kém đấy thôi. “Dân coi miếng ăn bằng trời”. “Trời” là miếng ăn ấy mà! Vào những năm 80 của thế kỉ trước, chính trời đã buộc chúng tôi phải nuôi gà. Mà có phải dễ lúc nào cũng có gà để nuôi đâu! Không biết đi buôn, không có gà lợn để nuôi, chúng tôi xoay ra dạy luyện thi, viết sách ôn thi, mà thực ra là học thay cho sĩ tử. Lò luyện thi đại học mọc lên như nấm. Còn nhớ, một dạo, tôi dạy ở các lò mỗi ngày những 5 ca, suốt mấy tháng, hôm nào cũng nói liền liền một mạch 20 tiếng đồng hồ như thế. Lại nhớ, nhờ tiền nhuận bút của một cuốn sách luyện thi, tôi đã mua một lúc được cả chiếc Samsung đen trắng lẫn chiếc xe đạp vẫn còn giữ cho đến nay để vợ thỉnh thoảng đi chợ. Xe đạp hay tivi hồi ấy đã là tài sản cực kì có giá trị. Các Giáo sư, Nhà Giáo Nhân dân, Nhà Giáo Ưu tú Nguyễn Đình Chú, Nguyến Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hoành Khung là những vị viết sách luyện thi đầu tiên của Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngoài viết sách ôn thi, Giáo Sư Hà Minh Đức, cố Giáo sư Phan Cự Đệ cũng tham gia luyện thi nhiều năm. Trần Đình Sử kể với tôi, anh cũng được mời luyện thi và đã nhận dạy hai lớp, nhưng rồi lại bỏ.

Đã lâu, tôi không luyện thi nữa. Mấy năm gần đây, thấy Trần Đình Sử cũng không còn phải vất vả mưu sinh như trước. Nhưng tôi biết, các cháu Khải, Kiên đều đã có gia đình, có cuộc sống riêng của chúng, lương hưu hai vợ chồng ông Sử cộng lại may ra gần bảy triệu, không kể những món chi đột xuất, mỗi tháng, chỉ riêng tiền thuốc đã ngốn vài ba triệu, cho nên, chẳng cần hỏi cũng có thể đoán, ông bà nhà này phải tiêu pha tằn tiện, chắt bóp thế nào.

Có lẽ Trần Đình Sử là ngoại lệ hiếm hoi chăng: nghèo nhưng không chịu “sống mòn”. Cho nên, bây giờ Trần Đình Sử mới trở thành nhà nghiên cứu có uy tín. Những gì anh viết ra có tầm ảnh hưởng rộng lớn tới cách hiểu nhiều hiện tượng lí thuyết và lịch sử văn học. Tư tưởng học thuật của anh để lại dấu ấn mạnh mẽ và đặc biệt sâu đậm trong công chúng học đường. Lắm lúc tôi nghĩ lẩn thẩn, giá Trần Đình Sử giàu hơn một chút để không bận bịu với việc mưu sinh, chắc anh còn nghĩ được khối chuyện lí thú hơn nữa. Nhưng đã giàu thì còn nghiên cứu khoa học làm gì? Những người giàu, có mấy ai nghiên cứu khoa học nữa đâu! Vả lại, ở nước mình, trí thức muốn giàu, chỉ có mỗi con đường duy nhất, ấy là tìm cách làm quan. Mà cửa nhà quan thường rất cao, đám hàn sĩ như tôi khó vào được. Cho nên, Trần Đình Sử cứ nghèo nghèo một chút như thế lại hoá hay. Anh cứ nghèo nghèo một chút như thế, thì mình mới thấy thân thiết, gần gũi để thỉnh thoảng đến chơi lại được đàm đạo, thưởng trà. Và điều này mới thực sự quan trọng, anh cứ nghèo nghèo một chút như thế thì hàng vạn môn đệ, đồng nghiệp mới yên tâm thấy mình vẫn có một bậc sư biểu, sư huynh khả kính, một nhà khoa học đáng trọng để mà tìm đọc, học hỏi.

2. Gánh chữ như gánh gạo. Lục tìm trong kí ức, thấy hoá ra có nhiều kỉ niệm lí thú về Trần Đình Sử được trí nhớ lưu giữ rất kĩ từ những năm sáu mươi của thế kỉ trước. Ấy là lúc Trần Đình Sử về làm cán bộ giảng dạy ở Khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, còn tôi là sinh viên mới nhập học. Giữa chúng tôi có cả một khoảng cách thế hệ. Tôi không biết đích xác, và cũng không có ý định tìm hiểu xem từ bao giờ, vào lúc nào, thày giáo dạy đại học được gọi nhất loạt là “cán bộ”, giống như cán bộ xã, cán bộ huyện… Hình như quản giáo trong các nhà tù cũng được phạm nhân gọi là “cán bộ” như thế. Cho nên, mấy tiếng “cán bộ giảng dạy” (gọi tắt là “xê bê giê dê”) xem ra không được sang trọng giống như chữ “giáo sư”. Sau này tôi mới hiểu, gọi như thế là một cách giải thiêng, “phá giá”, nhằm bình dân hoá vị thế của giới trí thức cao cấp. Nhưng vào thời ấy, dẫu bị hoá giá thế nào, thì thày giáo, nhất là thày dạy đại học, vẫn cứ là bậc sư biểu thiêng liêng trong ý thức cộng đồng ở một dân tộc vốn có truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa.

Trần Đình Sử không giảng dạy sinh viên khoá tôi. Chúng tôi học môn Lí luận văn học với các thày Đậu Văn Ngọ, Nguyễn Xuân Nam và cố Giáo sư Lê Bá Hán. Cho nên, thời sinh viên, tôi chỉ được nhìn thấy Trần Đình Sử trong những hoàn cảnh tình cờ, nhiều khi chẳng có không khí sư phạm chút nào.

Cuối năm 1965, Trường Vinh sơ tán ra Thanh Hoá, đóng tại Hà Trung, đất tổ của nhà Nguyễn. Phải sang năm 1966, việc học hành của chúng tôi mới ổn định trở lại. Chiến tranh, sơ tán, người ta hình như chỉ còn có hai cảm giác “ốm” và “đói”, đói suốt ngày, ai không thấy đói, biết ngay là mình ốm; học thì ít, lao động lại nhiều, cả tháng đào hầm, làm lán, kiếm củi, gánh gạo, những lúc lao động như thế, thày cũng như trò, chẳng phân biệt thấp cao trên dưới gì. Mấy năm trước, thằng con út của tôi tốt nghiệp Đại học Ngoại thương, vừa ra đi làm, mỗi tháng đã lĩnh hơn chục triệu. Một hôm ngồi ăn cơm, nó hỏi: “Lương bố bao nhiêu?”. Tôi bảo, “ kịch trần, hơn năm triệu”. Nó ngồi im một lúc rồi tủm tỉm: “Bố làm ông giáo mà cũng lấy được vợ! Lạ thật! Chắc ngày xưa, mẹ bị bố lừa!”. Chao ôi, nó biết mẹ là học trò của bố, mà không hiểu bố mẹ đến được với nhau là nhờ có chiến tranh. Có chiến tranh, thày trò mới sơ tán cùng một nơi, mới trở nên gần gũi thân mật vào những lúc kiếm củi, gánh gạo, mà trong mắt trò, thày vẫn là hình ảnh lí tưởng. Thế thì những ông giáo trẻ như tôi lấy được một cô vợ có gì lạ đâu, cần gì phải lừa! Nhiều thày giáo của tôi đã lấy vợ trong hoàn cảnh ấy. Tôi nghĩ, có lẽ là nhờ hoàn cảnh ấy mà Trần Đình Sử có được chị Hoà, người vợ hiền thảo của anh bây giờ. Còn nhớ, lớp tôi có một bạn gái “mỏng mày hay hạt”, đã xinh xẻo, lại sắc sảo, quê ở Đô Lương. Vào năm thứ nhất, chỉ sau mấy tháng, bạn tôi đã quen thân với gần hết cán bộ trong khoa, biết tường tận “lí lịch trích ngang” của các thày, một thầy dạy ngôn ngữ mê cô như điếu đổ. Một lần đi gánh gạo từ kho lương thực huyện về cho nhà bếp, lúc nghỉ, bạn tôi trỏ tay, chỉ về phía các thày, kể ra vanh vách một loạt tên tuổi Nguyễn Thiện Chí, Trần Văn Hối, Đỗ Đức Huyến, Nguyễn Gia Phương, Trần Đình Sử…, toàn những vị chưa có vợ. Cô bạn còn rỉ tai, bảo tôi: ông Sử trẻ nhất đám ấy, lại mới ở Tàu về.

Thoắt cái, vậy mà đã ngoài bốn mươi năm, Trần Đình Sử và các thày tôi đã nghỉ hưu, tôi cũng đã có hai cháu ngoại đều đi học cả rồi. Nhưng mãi đến giờ, tôi vẫn nhớ rõ mồn một hình ảnh Trần Đình Sử ngày ấy, một Trần Đình Sử trẻ trung, thư sinh, trắng trẻo, rõ là người ở ngoại quốc mới về. Nhớ nhất là cái cách gánh gạo của Trần Đình Sử: trên vai, hai phần đòn gánh lệch hẳn về phía sau, thành ra “tiền khinh”, “hậu trọng”, muốn giữ thăng bằng, anh vừa đi, lại vừa phải níu phần đòn gánh phía trước xuống, nom rất chật vật, khổ sở. Tôi kịp phát hiện một chi tiết thú vị: trong đoàn các thày, xem ra Trần Đình Sử có vóc người nhỏ con hơn cả. Nhưng gánh gạo của anh thì thật đầy, hình như không một ai gánh nặng như thế. Tôi nhớ mãi hình ảnh ấy có lẽ vì sau này được cùng làm việc với nhau trong một tổ chuyên môn, tôi thấy, cho đến tận bây giờ, lúc nào Trần Đình Sử cũng như đang mang vác cả một núi chữ nghĩa, hệt cái cách anh gánh gạo ngày xưa.

Chỉ cần nhìn vào danh mục công trình khoa học của Trần Đình Sử cũng đủ thấy sức làm việc ghê gớm của anh đáng ngạc nhiên biết chừng nào. Anh là tác giả của 10 đầu sách in riêng, trong đó có những chuyên luận và những tập tiểu luận quan trọng, như Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Thi pháp “Truyện Kiều” (2001), Những thế giới nghệ thuật thơ(1995), Lí luận và phê bình văn học (1996), Mấy vấn đề về thi pháp văn học trung đại (1999). Không thể kể hết những bộ giáo khoa, giáo trình của Trần Đình Sử viết cho đại học, sách anh viết chung và sách anh chủ biên. Có sách anh tham gia chủ biên đã trở thành tài liệu tra cứu không thể thiếu, dành cho một đối tượng rộng lớn, gồm nghiên cứu sinh, sinh viên, giáo viên, học sinh các cấp và tất cả những ai quan tâm đến văn học: Từ điển thuật ngữ văn học (1992). Anh là tác giả của gần 200 bài báo. Anh biên soạn trên 80 đầu sách giáo khoa các cấp, sách hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên. Đặc biệt, anh có 8 đầu sách dịch hết sức có giá trị, nhất là các cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski của M.Bakhtin, Dẫn luận nghiên cứu văn học của G.N.Pospelov (1985), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường (2000)[1]. Tôi nghĩ, xét về khối lượng công trình, Trần Đình Sử không thua kém bất kì một giáo sư tầm cỡ quốc tế nào. Ấy là mới chỉ tính đến năm 2005. Năm năm qua, Trần Đình Sử tiếp tục có nhiều bài báo. Anh chủ trì Hội thảo khoa học về “Tự sự học” lần thứ II để về sau, các tham luận được xuất bản dưới dạng một tập kỉ yếu do anh chủ biên. Anh tham gia đề tài khoa học – công nghệ cấp nhà nước, trực tiếp viết về tình hình lí luận văn học Trung Quốc thế kỉ XX. Tôi tin chắc, phần nghiên cứu này nếu xuất bản sẽ là một chuyên luận khoa học có giá trị.

Công trình nghiên cứu dĩ nhiên là bộ phận quan trọng nhất làm nên danh tiếng khoa học và nói lên khả năng lao động đáng ngạc nhiên của Trần Đình Sử. Nhưng cũng không thể quên những việc hết sức nặng nhọc mà Trần Đình Sử đã ghé vai gánh vác. Trước hết phải kể tới việc quản lí mà Trần Đình Sử từng làm từ hai mươi năm trước. Từ năm 1990 đến 1995, Trần Đình Sử là Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn Đại học Sư Phạm Hà Nội. Với nhiều người, ngồi lên ghế Chủ nhiệm Khoa ở Đại học cũng là bước đầu đặt chân lên con đường hoạn lộ, nhưng xem ra, Trần Đình Sử không mấy có duyên với con đường ấy. Thứ đến, cần nhắc tới việc tư vấn văn nghệ. Đã ba mươi năm nay, lúc nào Trần Đình Sử cũng là cây lí luận phê bình được các cấp quản lí văn nghệ tin cậy. Ngay từ trước và sau Đại hội VI của Đảng, khi văn nghệ bắt đầu đổi mới sôi nổi, Trần Đình Sử được mời làm tư vấn cho phần Lí luận phê bình do chị Thiếu Mai trực tiếp chủ trì, dưới quyền Tổng biên tập của nhà văn Nguyên Ngọc. Về sau, nhiều năm, Trần Đình Sử là uỷ viên Hội đồng lí luận phê bình Hội nhà văn việt Nam. Hiện nay, anh là uỷ viên Hội đồng lí luận văn nghệ Trung ương do đồng chí Phùng Hữu Phú làm Chủ tịch. Cuối cùng là việc Tổng Chủ biên bộ sách Ngữ Văn phổ thông trung học. Theo dõi báo chí, tôi thấy, hình như ra “làm dâu trăm họ”, không phải bao giờ Trần Đình Sử cũng mát mái xuôi chèo. Những việc làm như thế chắc chắn đã ngốn nhiều thời gian, sức lực và cả không ít tâm huyết của Trần Đình Sử.

Nhìn lại mấy chục năm biết người, biết tiếng, tôi chắc mình không nhầm, khi đinh ninh, Trần Đình Sử là nhà khoa học thứ thiệt, là người lao động chân chính đúng với ý nghĩa cao quý của từ ấy. 

3. Người của sự kiện. Đã lâu, tôi nhận ra mình có thói quen, lúc ngẫm ngợi chuyện gì, kí ức thường xâu chuỗi một cách tự nhiên hiện tại với quá khứ. Tôi thấy trí nhớ của mình thường lưu giữ rất kĩ những hình ảnh hay sự kiện nào đó giúp tôi hiểu rõ những nét tương đối ổn định làm nên chân dung tinh thần của một nhân vật mà tôi quan tâm. Tôi nhớ, một lần, Bùi Văn Ba gọi tôi đến nhà bàn công chuyện gì đó. Nhà anh khi ấy đã chuyển về Quan Hoa, gác văn “ngự” trên tầng thượng. Trong khi ngồi dưới tầng một chờ anh xuống, tôi và chị Phương Thi chuyện trò linh tinh đủ thứ, có cả chuyện trong khoa, trong tổ. Chị nói, chị hơn Trần Đình Sử một tuổi, học sau Trần Đình Sử hai lớp. Chị bảo, “cậu ấy học giỏi nhất khối, sinh viên cách mấy khoá đều biết tiếng”. Tôi nghĩ, thì ra, lúc nào Trần Đình Sử cũng là nhân vật nổi trội, và thế là tôi nhớ mãi câu chuyện của chị Phương Thi.

   Một người viết nhiều, sắc sảo, xông xáo trên trường văn trận bút như Trần Đình Sử chắc chắn sẽ trở thành đối tượng của phê bình. Bản thân tôi đã viết tới hai bài bình luận các công trình khoa học của Trần Đình Sử vào các dịp anh cho in Thi Pháp thơ Tố Hữu và Thi pháp “Truyện Kiều” . Cả hai bài viết của tôi đều in trang trọng trên tạp chí Nghiên cứu văn học. Nhưng trong phê bình, khi đã có kẻ nói xuôi, thường sẽ có người nói ngược. Tôi nhớ, người đầu tiên có ý kiến “nghịch nhĩ” về Trần Đình Sử là Đào Thái Tôn. Thú thật, cho đến nay, tôi vẫn chưa biết bài viết của Đào Thái Tôn dài hay ngắn, ý tứ thế nào. Nhưng tôi nhớ rõ trường hợp này là nhờ đọc bài trả lời của Trần Đình Sử. Về sau, theo dõi hoạt động của Trần Đình trên trường văn trận bút, liên hệ với trường hợp ấy, tôi nhận ra nguyên tắc học thuật gần như bất di bất dịch của anh. Tôi thấy, hễ có ai lấy “hòn bấc ném đi”, nhắm vào Trần Đình Sử, thể nào cũng nhận được “hòn chì quăng lại”. Trần Đình Sử không ngán tranh luận. Trong tranh luận, Trần Đình Sử tìm mọi cách dồn đối thủ vào thế bí. Anh bảo vệ một cách quyết liệt, nhiều khi gay gắt các luận điểm khoa học của mình. Hơn hai mươi năm trước, Trần Đình Sử đã phản bác Đào Thái Tôn như thế. Mới đây, anh cũng phản bác như thế với những người phê phán bộ sách giáo khoa do anh làm Tổng Chủ biên. Có điều, dù gay gắt, quyết liệt thế nào, những bài phản bác của Trần Đình Sử vẫn thể hiện sự đàng hoàng của một cây bút tôn trọng văn hoá tranh luận. Tôi nói điều này vì ở ta, hơn một thế kỉ qua, mọi cuộc tranh luận văn học và học thuật cuối cùng đều bị biến thành những cuộc đấu tranh tư tưởng. Mục đích cuối cùng của đấu tranh tư tưởng thường là thắng – thua, chứ không phải chân lí và sự đồng thuận. Điểm tựa quan trọng trong đấu tranh tư tưởng là sự lựa chọn chỗ đứng, chứ không phải là lí lẽ. Sau nhiều cuộc đấu tranh tư tưởng, chẳng phải mấy vị chủ soái như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm “cơ bản là thế giới quan và lập trường tư tưởng” đó sao? Cho nên, có thể nói, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có tư duy phê bình và một nền phê bình văn học hiện đại theo ý nghĩa đích thực của từ ấy. Không phải ngẫu nhiên mà ở ta, văn hoá tranh luận lúc nào cũng ở vào tình trạng đáng báo động. Trần Đình Sử không tranh luận học thuật theo kiểu như thế. Anh chưa bao giờ chuyển tranh luận học thuật thành đấu tranh tư tưởng, dùng “xảo thuật” hay quy chụp, đặt đối thủ tranh luận vào tình thế nguy hiểm. Chỗ dựa tranh luận của Trần Đình Sử bao giờ cũng là lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng xác đáng. Tôi thấy, về phương diện này, bài viết của Trần Đình Sử đăng trên Văn nghệ quân đội tranh luận với Lê Ngọc Trà là ví dụ tiêu biểu. Lê Ngọc Trà có hai bài viết quan trọng đăng trên báo Văn nghệ. Bài thứ nhất bàn về quan hệ giữa văn nghệ và hiện thực. Bài thứ hai bàn về quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Cả hai bài viết đều toát lên nhiệt tình đổi mới văn nghệ, đổi mới lí luận. Văn lí luận của Lê Ngọc Trà giản dị, giàu nhạc điệu và hình ảnh, rất hấp dẫn. Cố nhà văn Nguyễn Khải nói, đọc văn lí luận của Lê Ngọc Trà thấy “vào thun thút”. Theo lí lẽ quen thuộc được hình thành qua những cuộc đấu tranh tư tưởng từ đầu thế kỉ XX, với những người chủ trương đổi mới, Lê Ngọc Trà thuộc “phe ta”, mà đã là “phe ta” thì dứt khoát phải đúng, cần được ủng hộ, nếu thấy có chỗ nào chưa đúng, chưa phải thì cũng nên im đi, kẻo phái “bảo thủ”, “cơ hội”, “chúng nó” lợi dụng. Trần Đình Sử đã không hành xử như thế. Anh phản bác Lê ngọc Trà ở cả hai bình diện: lí thuyết và thực tiễn; bắt mạch và kê đơn cho văn học. Giờ không phải lúc bàn chuyện đúng sai, nhắc lại chuyện cũ, ý tôi chỉ muốn nói: vào những năm tám mươi của thế kỉ trước, khi công cuộc đổi mới văn nghệ diễn ra sôi nổi, bài viết của Lê Ngọc Trà là một sự kiện. Bài phản bác của Trần Đình Sử cũng là một sự kiện. Sự khác biệt giữa hai bài viết có lẽ là ở chỗ, một đằng là sự kiện thời sự – tư tưởng, là tiếng nói ủng hộ đổi mới; một đằng là sự kiện thời sự – học thuật, là tiếng nói đòi hỏi đổi mới văn nghệ cần tiến hành trên nền tảng của lí luận khoa học.

Trần Đình Sử là tác giả của nhiều sự kiện học thuật. Có thể gọi anh là con người của sự kiện. Ngoài bốn mươi tuổi, Trần Đình Sử mới chính thức xuất hiện trên văn đàn. Nhưng tôi biết, ngay từ hồi còn ở Sư phạm Vinh, Trần Đình Sử đã tham gia biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học và viết tập giáo trình dài trăm trang về “hình tượng nghệ thuật”. Trong phạm vi nho nhỏ của một khoa, một trường đại học, tập giáo trình ấy đã trở thành “sự kiện” ở cả quy mô, lẫn nội dung học thuật của nó. Nó đã khơi dậy những cuộc thảo luận sôi nổi, buộc lớp giảng viên được xem là trụ cột chuyên môn của Khoa phải lên tiếng. Tôi không được dự vào những cuộc thảo luận ấy. Chỉ nhớ, cuối 1968, đầu 1969, Khoa Văn tổ chức dạy chuyên đề “Mĩ học Mác – Lênin” cho đám giảng viên trẻ mới được giữ lại trường. Hồi ấy tôi dạy ở Khoa Đào tạo giáo viên cấp II đóng dưới miền xuôi, thuộc huyện Vĩnh Lộc. Vì muốn “học ké”, tôi thường từ thành Tây Giai, đi đường Cẩm Thuỷ, rồi vượt rừng, qua Thạch Thành. Mỗi lần đến Cẩm Thủy thể nào tôi cũng dừng lại đánh chén ở cửa hàng ăn phố huyện, có món bún thịt chó rất ngon, mà lại rẻ. Thời ấy, các cửa hàng nhà nước đều “mua như cướp, bán như cho”, tôi là giáo viên, chẳng có gì bán, chỉ mua thôi, thích lắm. Người phụ trách chuyên đề “Mĩ học Mác – Lênin” là cố Giáo sư Lê Bá Hán. Có mấy buổi học, cứ hễ tới lúc giải lao, thày tôi lại nói về cái chuyên đề đang trở thành tâm điểm thời sự trong đời sống học thuật của Khoa. Qua cách nói, tôi thấy ông vừa như không “chịu” , lại vừa có vẻ như không “chấp” Trần Đình Sử. Cũng dễ hiểu thôi, về tuổi nghề và tuổi đời, so với Trần Đình Sử, thày Hán của chúng tôi thuộc thế hệ đàn anh. Vả lại, tôi biết, thời ấy, ngoài mĩ học Mác – Lênin và đường lối văn nghệ của Đảng, các thày tôi chỉ “chịu” mỗi lí luận văn học của Timofeev, thế mà Trần Đình Sử lại viết chẳng giống Timofeev tí nào. Riêng thàyHoàng Ngọc Hiến tuyên bố, một trăm trang viết của Trần Đình Sử “không có câu nào dở”. Tôi còn thấy, một giảng viên dạy văn học phương Tây tên là Chín (tôi không biết “họ”, chỉ nhớ anh ấy người miền Nam, lấy vợ ở Thanh Hoá) khen nức nở, phục Trần Đình Sử sát đất.

Các tiểu luận của Trần Đình Sử về không gian, thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều thì đúng là những sự kiện học thuật có tiếng vang, được gần như cả giới nghiên cứu ghi nhận. Khái niệm “sự kiện” mà tôi đang nói ở đây được hiểu từ giác độ kí hiệu học. Nó là sự “vi phạm chuẩn chung”, là sự “vượt thoát của nhân vật ra ngoài giới hạn một trường nghĩa”. Từ giác độ ấy, các phần viết của Trần Đình Sử về đặc trưng nghệ thuật ngôn từ, về ngôn từ văn học, kết cấu tác phẩm, nhân vật văn học, về tác phẩm tự sự… trong bộ giáo trình Lí luận văn học in ở Nhà Xuất bản Giáo dục năm 1986, 1987 có thể xem là sự kiện học thuật. Thậm chí, hàng loạt bài giảng văn của Trần Đình Sử viết cho học sinh phổ thông cũng là những sự kiện nho nhỏ trong lịch sử phân tích văn bản. Cứ giở lại những bài giảng văn ấy mà xem, khi phân tích văn học, Trần Đình Sử không chỉ đối diện với văn bản, mà còn đối thoại với các cách đọc trong lịch sử nghiên cứu văn bản, để qua đó đề xuất một cách đọc mới.

Trong vô số sự kiện học thuật mà Trần Đình Sử đã tạo ra, tôi thấy có hai sự kiện lớn, quan trọng nhất, bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của anh, từ nghiên cứu, phê bình văn học, đến công việc đào tạo, giảng dạy, biên soạn sách giáo khoa. Trong hai sự kiện ấy, một sự kiện có thể coi là đã hoàn tất, còn sự kiện kia vẫn đang trong quá trình triển khai.

Sự kiện thứ nhất liên quan trực tiếp tới hai chuyên luận lớn nhất trong sự nghiệp khoa học của Trần Đình Sử: Thi pháp thơ Tố Hữu và Thi pháp “Truyện Kiều”. Xoay quanh hai chuyên luận này là một loạt công trình có ý nghĩa bổ trợ, mở rộng quan điểm học thuật của nhà nghiên cứu, ví như, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, hayDẫn luận thi pháp học… Tôi nói những chuyên luận trên của Trần Đình Sử đã tạo ra một sự kiện học thuật hoàn chỉnh là dựa vào ba bình diện cơ bản sau đây. Thứ nhất:từ bình diện lịch sử văn học, những chuyên luận ấy đã đề xuất một cách hiểu, một cách đọc mới mang tính đột phá, tạo thành bước ngoặt trong lịch sử tiếp nhận thơ Tố Hữu và Truyện Kiều của Nguyễn Du, giúp độc giả hình dung đời sống văn học dân tộc theo một kiểu khác, phong phú hơn, đa dạng hơn. Thứ hai: từ bình diện lí luận nghệ thuật, ở những chuyên luận này, Trần Đình Sử đưa ra một quan niệm mới về văn học, giúp chuyển đổi hệ hình lí thuyết và trọng tâm nghiên cứu của khoa học về văn học. Cho đến những năm cuối cùng của thế kỉ trước, tất cả các tài liệu giáo khoa, giáo trình của chúng ta vẫn tiếp tục trình bày các vấn lí luận nghệ thuật theo phản ánh luận Mác xít, xem nghệ thuật là hình thái ý thức phản ánh hiện thực xã hội. Điểm tựa kiến tạo lí thuyết của hệ hình này là hiện thực, một yếu tố ngoài nghệ thuật. Nó mở đường cho việc biến nghiên cứu văn học thành xã hội học nghệ thuật thuần tuý. Trong những công trình của mình, Trần Đình Sử đề xuất quan niệm xem văn học là một kiểu tạo nghĩa, một hình thức biểu hiện nội dung mang tính đặc thù. Điểm tựa kiến tạo lí thuyết của hệ hình này là văn bản, bao gồm văn bản hình tượng và văn bản ngôn từ như một phương thức tồn tại của tác phẩm. Nó mở đường cho việc chuyển đổi trọng tâm nghiên cứu văn học từ xã hội học nghệ thuật sang thi pháp học nghệ thuật, từ khảo sát hiện thực, một yếu tố ngoài văn bản, sang phân tích “cái lí của hình thức” nằm ngay trong văn bản. Thứ ba, điểm quan trọng nhất: từ bình diện phương pháp luận, Trần Đình Sử đã thành công trong việc thao tác hoá quan niệm văn học của mình qua một hệ thống khái niệm, phạm trù chặt chẽ. Mô hình đọc văn theo hướng thi pháp học văn của Trần Đình Sử có 6 khái niệm quan trọng, có thể gọi là những phạm trù “cái”: 1. hình thức mang tính quan niệm, 2. thế giới nghệ thuật, 3. quan niệm nghệ thuật về con người, 4. hình tượng tác giả, 5. không gian nghệ thuật, 6. thời gian nghệ thuật. “Hình thức quan niệm” là phạm trù gốc, thể hiện quan niệm văn học của Trần Đình Sử. “Thế giới nghệ thuật” là phạm trù chỉ cấu trúc đặc thù của sáng tác văn học. “Quan niệm nghệ thuật về con người” là nhân tố quy định “cái lí của hình thức”, là hạt nhân cấu trúc của “thế giới nghệ thuật”, là trung tâm tạo nghĩa của thế giới ấy. “Hình tượng tác giả”, “Không gian nghệ thuật”, “Thời gian nghệ thuật” là những yếu tố, cũng có thể gọi là những bình diện cấu trúc của “thế giới nghệ thuật”. Được xây dựng trên một hệ thống phạm trù mang ý nghĩa thao tác hoá như thế, thi pháp học của Trần Đình Sử trở nên giàu tính thuyết phục, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, được giới nghiên cứu trẻ, nhất là giới nghiên cứu học đường vận dụng rộng rãi. Nhờ thế, những công trình nghiên cứu thi pháp học của Trần Đình Sử thực sự trở thành một sự kiện học thuật. Tôi nghĩ, ở Việt Nam hiện nay không hiếm người thừa nhiệt tình giới thiệucác loại lí thuyết nghệ thuật Âu – Mĩ, nhưng không phải ai cũng có khả năng tạo ra được những sự kiện học thuật như Trần Đình Sử.

Sự kiện thứ hai gắn với hoạt động sư phạm, với công việc Tổng Chủ biên bộ sách Ngữ Văn trung học của Trần Đình Sử. Theo dõi tư tưởng cốt lõi của Trần Đình Sử trong việc chỉ đạo biên soạn bộ sách Ngữ Văn trung học, tôi nhận ra, quan niệm văn học của anh đã có những thay đổi cơ bản. Trước kia, trong những công trình nghiên cứu thi pháp, đối tượng khảo sát của Trần Đình Sử chủ yếu là các văn bản nghệ thuật hiểu theo ý nghĩa hiện đại của nó. Sách giáo khoa do anh chủ biên hiện nay lại xem toàn bộ trứ tác tạo thành nền văn hiến dân tộc là đối tượng khảo sát của môn Ngữ Văn. Trước kia, Trần Đình Sử dựa vào phạm trù văn bản để xây dựng lí luận thi pháp học nghệ thuật. Nay, có vẻ như anh lại dựa vào phạm trù “đọc”, “người đọc” để xây dựng lí luận tiếp nhận văn học. Có thể dựa vào cấu trúc luận và nghệ thuật học hiện đại để xây dựng lí luận thi pháp học hiện đại. Lí luận tiếp nhận văn học lại đòi hỏi phải xây dựng trên nền tảng của kí hiệu học, của từ chương học hiện đại, của hậu cấu trúc, giải cấu trúc.

Đưa những tư tưởng mới mẻ như thế vào việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa, Trần Đình Sử muốn tạo ra sự thay đổi triệt để trong việc dạy – học văn trên phạm vi cả nước theo hướng hoà nhập với tư duy khoa học và hoạt động sư phạm tiên tiến của nhân loại. Nhưng thực tiễn lịch sử chứng tỏ, một tư tưởng khoa học, dù đúng đắn, mới mẻ thế nào, tác giả của nó có hoài bão to lớn đến đâu, muốn tạo ra một sự kiện học thuật, tất cả còn tuỳ thuộc vào “tầm đón nhận” của xã hội. Không phải dẫn dụ đâu xa, cứ nói ngay cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu, mãi tới năm 1987 nó mới in ra, thế mà tôi biết, có người còn định hạch Trần Đình Sử cái tội đề cao phương pháp hình thức đấy! Chẳng qua là thời thế đã thay đổi, người ta không thể làm gì được, nên đành chịu, vậy thôi! Vào những năm 60, thậm chí đến tận những năm 70 của thế kỉ trước, giá Trần Đình Sử đã kịp viết ra một chuyên luận như thế, tôi dám chắc, cuốn sách khó mà in ra được, còn như, nếu được in ra, thì chưa biết số phận của tác giả sẽ thế nào.

Chào đời vào thời điểm hiện nay, đứa con tinh thần mới của Trần Đình Sử có vẻ như không gặp thời giống như các chuyên luận nghiên cứu thi pháp học trước kia của anh. Cứ nhìn vào hệ thống giáo dục, từ trên xuống dưới, sẽ không ai nghi ngờ gì nữa, người ta hô hào đổi mới, nhưng liệu đã mấy ai chuẩn bị tâm thế để đón nhận tư tưởng khoa học cốt lõi của bộ sách giáo khoa Ngữ Văn? Bộ Giáo dục & Đào tạo là cơ quan chủ trì thực hiện dự án biên soạn sách giáo khoa. Thế mà mấy hôm nay thấy báo chí nói ầm ầm về chuyện tham nhũng trong Giáo dục – Đào tạo. Bận tham nhũng như thế thì còn hơi sức đâu mà quan tâm tới các tư tưởng khoa học. Cho nên, tôi không hề ngạc nhiên khi thấy đề môn Văn trong kì thi tốt nghiệp phổ thông năm nay vẫn ra y sì như mấy chục năm qua. Thi xong, đứa cháu tôi về khoe, “phen này dứt khoát cháu được điểm cao, không khéo, bài của cháu được chọn đăng báo ấy chứ lỵ!” Tôi hỏi, mày dựa vào đâu mà vội mừng thế?. Nó bảo, đề có 2 câu lấy điểm quan trọng, một câu phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong giađình của Nguyễn Thi, một câu bình giảng hai khổ thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh. Cả hai câu này đều có sẵn bài mẫu trong các sách luyện thi, cháu đã học thuộc lòng “như cháo chan”, “còn trật vào đâu được nữa”! Hài hước thật! Tư tưởng cốt lõi của việc “đọc văn” do Trần Đình Sử khởi xướng là chống lại việc học văn bằng các “thế bản”. Vậy mà học sinh chỉ cần học bài mẫu trong sách luyện thi cũng đủ tin chắc sẽ đạt điểm cao! Thế là đã rõ, “Bộ” đang chỉ đạo viết sách giáo khoa và ra đề thi theo kiểu “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, cho thằng này thả sức ném đầy đất đá vào nhà thằng kia! Nhưng không sao, xưa nay, cách mạng bao giờ cũng là “sự nghiệp của nhân dân”!. “Nhân dân” trước hết là hàng vạn giáo viên đứng lớp. Gần trăm năm nay, giáo viên của ta chỉ quen “giảng văn”. Bây giờ sách giáo khoa lại yêu cầu “đọc văn”. “Giảng văn” là thày nói, trò nghe, thày dạy, trò học, lớp học là “vương quốc toàn trị”, thày giáo là “đấng quân vương”. “Đọc văn” là thày dẫn dắt để học trò tự nói, tự phát biểu ý kiến về văn bản, lớp học là “nền dân chủ cộng hoà”, thày trò cùng nhau đối thoại. Theo dõi mấy cuộc tranh luận trên Văn nghệ trẻ và Văn nghệ “già”, tôi thấy bộ phận “nhân dân ” này, có cả đồng nghiệp cùng biên soạn sách giáo khoa với Trần Đình Sử, chưa thật đồng tâm hiệp lực để cùng nhau xây dựng một nền “cộng hoà dân chủ” như thế trọng việc dạy – học Ngữ Văn. Cuối cùng, bộ phận quảng đại quần chúng “nhân dân” của sách giáo khoa là mấy vạn học sinh phổ thông. Các số liệu thống kê cho thấy, môn Ngữ Văn đang bị tuyệt đại đa số học sinh phổ thông chối bỏ. Năm 2009, chỉ có 1,82% học sinh trung học theo học Ban Xã Hội – Nhân Văn. Mà họ theo học ban này, chẳng qua vì không đủ lực theo học các ban khác, chứ chẳng phải vì say mê văn học đâu! Vậy là gần 100% học sinh trung học chỉ cần học văn để thi đỗ tốt nghiệp mà thôi. Thảo nào các loại sách luyện thi, sách văn mẫu gà sẵn cho học trò vẫn bán chạy thế. Tôi đọc báo thấy nói, có một ông Vụ phó còn đứng ra làm làm “đầu nậu” viết sách ôn thi nữa kia!

Tôi nghĩ, giữa bối cảnh như thế, sự ra đời của bộ sách giáo khoa Ngữ Văn hiện nay và tư tưởng học thuật do Trần Đình Sử đề xuất mới chỉ là một sự kiện đang được mở ra, chưa có hồi kết.

4. “Sống tức là cắt nghĩa”. Giá có kiếp sau, tôi vẫn ước ao được làm nghề dạy học, ở ngay trong Bộ môn Lí luận văn học giống như Bộ môn của tôi hiện nay. Chủ nhiệm Bộ môn bây giờ là Lê Lưu Oanh, trước Lê Lưu Oanh là tôi, trước tôi là Trần Đình Sử, trước Trần Đình Sử, có một thời gian dài mênh mông, chức ấy do Bùi Văn Ba (tức Phương Lựu) nắm giữ. Bùi Văn Ba có vẻ thất vọng sâu sắc về tôi, nhưng với Trần Đình Sử, bao giờ anh cũng tỏ ra trọng vọng. Anh bảo tôi, phải mấy chục năm mới có được một nhân vật như Trần Đình Sử. Tôi tin anh đánh giá như thế là chân tình, khách quan. Bởi vì, ở cái xứ “cơm áo không đùa với khách thơ”, muốn trụ lại với khoa học, ngoài nỗ lực vượt bậc, người ta phải có những phẩm chất đặc biệt. Phẩm chất đặc biệt của nhà khoa học, cũng như năng khiếu của người sáng tác, thường là chuyện không thể đào tạo. Nó là của trời cho, trời phú, mà thậm chí, cũng có thể gọi là trời đày.

Những ai có dịp gần gũi với ở Trần Đình Sử đều thấy anh có một tình yêu hết sức đặc biệt với tri thức, chữ nghĩa, với công việc khoa học của mình. Anh say chữ nghĩa, tri thức và công việc nghiên cứu khoa học đến độ si mê, hình như toàn bộ hồn vía của mình đều gửi cả vào đấy. Chắc chắn là Trần Đình Sử chẳng giàu có, không lắm bạc, nhiều tiền. Vậy mà, tôi chưa bao giờ thấy anh tỏ ra tiếc tiền, hay có chút băn khuăn khi cần phải bỏ tiền để mua sách. Nghe ở đâu có sách hay, anh lập tức tìm đến, chẳng chút chần chừ. Có lần ngồi ở nhà anh, tôi bảo cửa hàng ngoài Bà Triệu có mấy cuốn sách mới, anh đứng lên, rủ tôi đi liền. Anh mua sách, tìm sách để đọc giống như người trữ lương thực để ăn dài hạn. Lần đi với anh qua Trung Quốc, cứ rẽ vào cửa hàng sách là tôi thấy anh như lạc vào kho báu, mắt sáng lên, không dứt ra được. Anh mua hàng trăm cuốn, chỉ cần thấy cuốn nào có liên quan chút ít tới chuyên môn riêng là mua ngay. Nghe ai có sách hay, anh tìm cách photo. Anh lưu giữ được nhiều cuốn sách cực kì quý hiếm. Kho sách của anh là cả một gia tài, đủ mọi thứ đông tây, kim cổ. Mấy năm gần đây, tôi và anh kéo từ mạng Internet được nhiều chuyên luận, tiểu luận, nhiều tài liệu giáo khoa, giáo trình có giá trị bằng tiếng Nga. Những tài liệu này tôi thường in đĩa, hoặc lưu trong máy, nhưng anh thì nhất quyết phải in ra giấy. Có tài liệu dày mấy trăm trang, tôi xung phong đi in mỗi người một bản, nhưng anh không đồng ý. Anh muốn tự đem in ở một cửa hàng quen, đảm bảo chất lượng. Anh bảo, “sách hay phải in trên giấy tốt, sao cho thật đẹp, đọc mới thú”.

Ở trong Tổ, Trần Đình Sử và Bùi Văn Ba thường gọi tôi là “chú em”, xem tôi như “tiểu đệ”. Chắc kiếp trước tôi tu gần thành chính quả nên mới có cái may mắn ấy. Nhưng có lẽ được “gần chùa”, nên bạo gan “gọi Bụt bằng anh”, thỉnh thoảng tôi vẫn ngầm so sánh mình với họ. Tôi thấy hoá ra hai vị sư huynh của tôi cũng có nhiều sở đoản. Tôi vô cùng khoái chá khi nhận ra điều này: cứ hễ chỗ nào là sở đoản của họ, thì y như rằng chỗ ấy lại là sở trường của tôi. Ví như bàn về văn học bác học, tôi thường thua họ, nhưng đọc thi các sáng tác dân gian, thể nào họ cũng thua tôi. Hôm rồi sinh hoạt chuyên môn ở Tổ, Trần Đình Sử nói, anh vừa đọc một mạch 35 cuốn tiểu thuyết dự thi của các nhà văn Việt Nam. Tôi nghe, phục sát đất, bụng nghĩ: thần kinh người này chắc bằng thép. Đến khi tôi đọc “Khi xưa như sắt như đồng. Như đinh đóng cột, như rồng phun mưa. Bây giờ như cải muối dưa. Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu”, cả Tổ cười lăn, thi nhau chép. Đúng là Trời Xanh có mắt, Thượng Đế công bằng, hình như Ngài cố ý chia đều niềm vui cho cả và thiên hạ để chẳng ai phải tủi thân. Đi mua sách, thể nào tôi cũng phải nhờ Trần Đình Sử dẫn dắt. Đọc sách, gặp điển tích, điển cố; dịch sách, gặp chữ khó, chữ lạ, thể nào tôi cũng hỏi Trần Đình Sử. Tổ thảo luận chuyên môn, phải mời được Trần Đình Sử chủ trì, tôi mới yên tâm. Nhưng hồi xưa cần mua xe máy, bây giờ cần đóng giày, may comple, hay mua áo cộc tay vải lụa tơ tằm, Trần Đình Sử thường phải hỏi tôi. Ngay cả cái việc khoái nhất là rủ nhau đi ăn, nếu không có tôi dẫn đường, chắc Trần Đình Sử chẳng biết lối mô tê đâu mà lần. Tôi nhớ, Trần Đình Sử kể với tôi rất thật thà, một lần có bạn từ Huế ra chơi, muốn đãi bạn một bữa ngon, dẫn nhau ra phố, loanh quanh mãi chẳng tìm thấy cửa hàng, đến lúc đói quá, đành kéo bạn sà xuống một quán bún chả vỉa hè xoàng xĩnh.

Triết học hiện đại thừa nhận phạm trù ngẫu nhiên. Nhưng tôi vẫn tin vào giáo lí nhà Phật: mọi chuyện trên đời đều có nhân có quả. Sở trường, sở đoản của con người hoá ra có căn nguyên, nguồn cội của nó. Tôi trọng khoa học, nhưng ham chơi, tự biến khoa học thành một cuộc chơi để không nhàm chán, mệt mỏi. Tôi thực lòng nghĩ thế này: cuộc sống là một cuộc chơi; khi chơi, ta mới thực sự được sống. Là kẻ vô thần, tôi không nghe các tôn giáo xui dại để rồi mải mê tìm kiếm ý nghĩa của sự sống, đến nỗi quên cả điều cốt yếu: sống mới là chuyện quan trọng ở cõi nhân sinh. Thành thử, lúc làm việc, hễ thấy bạn gọi, dẫu đang ham đến đâu, tôi cũng đứng dậy, đi liền. Cho nên, ở những chỗ ăn chơi, nếu tôi có đôi chút sành sỏi, tưởng cũng không lạ gì.

Tôi nhớ, một lần, sau hội thảo khoa học do Bùi Văn Ba chủ trì, Tổ đi “Spa”, có mời cả giáo sư Nguyễn Văn Hạnh nhập cuộc cho biết mùi; lúc ra, thấy cụ Hạnh và ông Sử có vẻ thích lắm. Tôi biết, Trần Đình Sử thổi hacmonica rất hay. Trong những cuộc liên hoan Tổ, sau khi nhậu, mấy cô rủ đi karaoke, tôi thấy Trần Đình Sử hát rất to. Cách đây mấy hôm, trong lễ mừng nhà giáo Nguyễn Đăng Mạnh thượng thọ Tám Mươi, Trần Đình Sử cầm micro hát “Nguyễn Viết Xuân, trận địa khắp nơi nơi” vẫn còn hứng lắm. Nhưng tôi biết, tất cả những trò ấy, với Trần Đình Sử, hình như vẫn không phải là sự sống. Tôi nhớ, Trần Đình Sử đã viết ở đâu đó một câu thế này: “sống tức là cắt nghĩa”. Dừng cắt nghĩa là cuộc sống ngưng lại. Muốn cắt nghĩa phải ngồi vào bàn với cả đống sách vở để mà đọc, mà viết, mà suy nghĩ, ngẫm ngợi. Nó là hoạt động diễn ra trong tâm trí một người, một mình, không phù hợp với đám đông và sự huyên náo. Vì thế, nhiều lúc họp hành, trò chuyện, hay giữa các cuộc vui, tôi thấy Trần Đình Sử cứ nhấp nha nhấp nhổm, có vẻ “tâm bất tại”, ngồi đấy, mà vẫn như đang nghĩ ngợi ở tận đẩu đầu đâu. Tôi có cảm giác, anh sẵn sàng rời bàn chơi để về với bàn sách, hệt như thấy bạn gọi, tôi sẵn sàng rời bàn sách để đến với bàn chơi. Cho nên, việc Trần Đình Sử trở thành học giả uyên thâm, ngẫm ra, có gì đáng ngạc nhiên đâu!

5. “Trọng vẫn trọng, mà thương thì thương” (Thay lời kết). Nghĩ về Trần Đình Sử, lắm lúc tôi bật cười một mình. Ai đời, đã bảy mươi tuổi, ở vào hàng “cổ lai hi”, biết đủ thứ đông tây, kim cổ, thế mà có thày hay giảng bài, vẫn cắp sách đến nghe, ngồi ngay ở bàn đầu, ghi ghi chép chép rất cẩn thận. Chả là mới đây có hai chuyên gia, bà Grossman người Pháp và ông Chiupa người Nga đến Khoa giảng chuyên đề cho các lớp cao học, tôi để ý thấy Trần Đình Sử gần như không bỏ sót buổi nào, nhìn bộ dạng, có vẻ hứng thú, tâm đắc lắm. Tôi lại nhớ, Tô Hoài nói chuyện ở đâu cũng kể, hàng ngày, ông buộc mình ngồi vào bàn viết văn giống như trẻ nhỏ buộc phải học bài. Ông không viết văn theo “hứng”. Ông bảo, ông chỉ có “hứng uống bia”, “hứng đi chơi”. Thì ra, nghệ sĩ lấy chơi làm thú. Học giả xem học là vui. Nghệ sĩ sành ăn chơi. Lúc ăn chơi, xem ra học giả lại lóng ngóng. Nghệ sĩ và học giả, khác nhau ở chỗ này chăng? Tôi không có tư chất nghệ sĩ, nhưng vẫn được trời phú cho cái thú ăn chơi. Cho nên, tôi lúc nào cũng bái phục, ngưỡng mộ các vị học giả sâu sắc uyên thâm, chuyện gì cũng tỏ. Nhưng không hiểu sao nhiều lúc giữa cuộc vui, có đàn ngọt hát hay, rượu ngon thịt béo, nhìn bộ dáng lóng ngóng của nhị vị sư huynh Bùi Văn Ba và Trần Đình Sử, tôi cứ thấy áy náy thế nào ấy.

Những lúc như thế, tôi bỗng nghe vang vọng từ sâu thẳm lòng mình điệu hát vĩ dặm quen thuộc của người khu Bốn quê tôi. Tôi cố ý chữa đi mấy chữ cho hợp cảnh, hợp với cái tình của mình với Trần Đình Sử: “trọng vẫn trọng, mà thương thì thương…”.

                                         Đồng Bát, thứ Tư, mồng Hai, tháng Sáu/2010

[1] Xem: Danh mục công trình khoa học của Trần Đình Sử // Sách:Trần Đình Sử –  Tuyển tập, t.2, Nxb Giáo dục, 2005, tr. 905-918.

NHỮNG MẦU VĂN VỤN

Tóc con gái mình

Lã Nguyên

 

Đã hơn hai chục năm, mình vẫn chưa quên được cảm giác thật kì lạ. Ấy là lần đầu, khi con gái chở mình trên xe máy đi từ Thanh Xuân vào nội thành. Ngồi sau, thấy tóc nó bay bay, đập vào mặt mình (hồi ấy chưa có luật phải đội mũ bảo hiểm). Mình bàng hoàng: nó thành thiếu nữ thật rồi!
Hôm nay vào Face thấy con gái băn khuăn không biết nên nhuộm tóc, hay để thế cho thời gian nhuộm dần. Lòng dậy lên nỗi ngùi ngùi, mắt cay cay, cổ họng nghèn nghẹn… Ôi…, thời gian…  Thế mà lúc nào cũng nghĩ, con gái mình còn nhỏ dại lắm…

                                                                                     4.3.14

Tản mạn về đổi mới lí luận văn nghệ ở Trung Quốc

Đôi điều ghi nhận sau một chuyến đi

Lã Nguyên

Đó là chuyến đi đầy thú vị của chúng tôi. Đoàn chúng tôi có 9 người, tất cả đều là thành viên của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước: Các khuynh hướng cơ bản của lí luận văn học thế giới thế kỉ XX. Phải có cả núi sách mới tập hợp đủ tư liệu làm cơ sở để giải quyết một đề tài rộng lớn như thế. Không thể đến các nước Âu, Mĩ do kinh phí hạn hẹp của đề tài, chúng tôi nghĩ ngay đến Bắc Kinh, vì đó là một trong những “Chợ Sách” thuộc loại lớn nhất thế giới. Ngoài việc tìm sách, chúng tôi đã làm việc với Hội nhà văn Trung Quốc, Sở Nghiên cứu văn học Trung Quốc, Hội nghiên cứu Lí luận văn học Trung Quốc và nước ngoài, Trung tâm nghiên cứu lí luận văn học Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Bộ môn Lí luận Đại học Bắc kinh, Hiệp hội nhà văn Thiểm Tây ở Tây An, Bộ môn lí luận văn học Đại học Tứ Xuyên ở Thành Đô… Đến đâu chúng tôi cũng nhận được sự đón tiếp thân tình và thái độ trọng thị của các đồng nghiệp Trung Hoa. Bước vào phòng họp của các cơ quan ấy, chỗ nào tôi cũng thấy họ căng cả biểu ngữ viết chữ lớn để chào đón đoàn chúng tôi. Chúng tôi đã có được những cuộc toạ đàm cởi mở và rất mực bổ ích với những chuyên gia văn học hàng đầu của Trung Hoa, như Trần Kiến Công (Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc), Trương Quýnh (Chủ tịch danh dự Hội Nhà văn Trung Quốc), Tiền Trung Văn (Chủ tịch Hội Lí luận văn học Trung Quốc và nước ngoài), Lí Tinh, Xương Quảng Nguyên (Hiệp hội nhà văn Tây An), Phùng Hiến Quang (Trưởng Bộ môn Lí luận văn học Đại học Tứ Xuyên)… Sau những cuộc toạ đàm như thế, tôi ghi nhận được đôi điều tự thấy có nghĩa lí. 

1. “Giải cấu trúc”: Con đường đổi mới lí luận văn nghệ

Điều ghi nhận đầu tiên của tôi là thế này. So với vài nước trong phe xã hội chủ nghĩa, như Liên Xô chẳng hạn, Trung Quốc quả là chậm chân hơn trong việc đổi mới lí luận văn nghệ. Nhưng nếu so với Việt Nam, họ lại đi trước ta một bước. Ngay từ những năm 60 của thế kỉ trước, lí luận văn học Liên Xô đã phá thế khép kín, một bộ phận trong đó tìm được tiếng nói chung với giới nghiên cứu ở các nước Âu – Mĩ qua việc lần lượt công bố di sản của M.Bakhtin, xuất bản hàng loạt công trình của các chuyên gia hàng đầu như D.S.Likhachev, E.M.Meletinskij, M.L.Gasparov, B.O. Corman, nhất là qua hoạt động của trường phái cấu trúc – kí hiệu học Tartu-Moscow đứng đầu là Iu. Lotman. Thời ấy, Trung Quốc còn bận chống xét lại và làm cách mạng văn hoá. Việt Nam bận chiến tranh và sau chiến tranh lại bận giải quyết những hậu quả của nó nên phải đến sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), việc đổi mới lí luận văn nghệ mới được đặt ra như một nhu cầu bức thiết. Gần chục năm trước đó, công cuộc đổi mới văn nghệ ở Trung Quốc đã được khởi động. Đại hội văn nghệ Trung Quốc diễn ra vào tháng 10 năm 1979 với sự tham gia của 3200 đại biểu đã đánh dấu giai đoạn phát triển mới của văn học và lí luận văn học trên đất nước bao la này.

Công cuộc đổi mới lí luận văn học được giới thức giả Trung Hoa tiến hành một cách bài bản, theo trật tự, lớp lang. Có lẽ vì thế, khi nghe bản thuyết trình của Tiền Trung Văn, Trương Quýnh ở Bắc Kinh; Lí Tinh, Xương Quảng Nguyên ở Tây An và Phùng Hiến Quang ở Tứ Xuyên, tôi thấy ý kiến của giới nghiên cứu Trung Hoa tỏ ra rất thống nhất trong việc định kì lịch sử văn học trên phạm vi toàn quốc. Họ chia lịch sử sáng tác theo hai cao trào. Cao trào thứ nhất diễn ra trước 1980, là thời kì của Cách mạng Văn hóa. Cao trào thứ hai là thời kì Đổi mới với sự xuất hiện của thế hệ trẻ tạo nên một cục diện đa dạng. Lí luận văn nghệ ở thời kì mới được họ chia thành 3 giai đoạn: 1979 – 1989, 1989 – 1999 và 1999 đến nay. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn “phản tư”, nhìn lại quá khứ. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn học hỏi, tìm cách thay đổi hệ hình lí thuyết. Giai đoạn thứ ba đi vào chiều sâu, tập trung xây dựng một nền lí luận văn nghệ hiện đại mang màu sắc Trung Hoa.

Người Trung Quốc làm gì cũng tỏ ra quyết liệt. Nghe khẩu khí của các diễn giả trong những buổi toạ đàm, nhìn vào khẩu hiệu được treo giăng giăng khắp mọi nơi, tôi nhận ra tinh thần quyết liệt trong công cuộc đổi mới lí luận văn nghệ của những con người quyết liệt ấy. Đi từ Bắc Kinh qua Tây An, đến tận xứ Thục xa xôi, nơi mà Lí Bạch bảo rằng đường lên đó “khó như lên trời xanh”, rồi trở về Đại học Trung Sơn ở Quảng Châu, chỗ nào tôi cũng thấy căng câu khẩu hiệu: “Kiên quyết giải phóng tư tưởng…”. Khẩu hiệu “Giải phóng tư tưởng” nghe quả là quyết liệt hơn khẩu hiệu “Đổi mới tư duy”. Người Trung Quốc một lòng một dạ thực hiện khẩu hiệu quyết liệt ấy đã 29 năm nay. Thảo nào nền kinh tế của họ tăng trưởng mạnh mẽ. Tôi nghĩ thế vì được GS Tiền Trung Văn cho hay, năm 1979, Đặng Tiểu bình đã đến đọc lời chào mừng Đại hội đại biểu văn nghệ Trung Quốc. Tại diễn đàn Đại hội này, ông tuyên bố: “Kiên quyết giải phóng tư tưởng, mở cửa cải cách, tiến theo thời đại, sáng tạo cái mới”.

Sự quyết liệt thường dẫn tới khuynh hướng cực tả. Cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc chính là sự biểu hiện của chủ nghĩa tả khuynh. Nhưng nếu không có tinh thần quyết liệt, chắc sẽ có ít nhà nghiên cứu dám đi với khoa học – nhất là khoa học xã hội nhân văn, một lĩnh vực rất dễ bị quy chụp về thái độ chính trị, lập trường tư tưởng – đến chỗ tận cùng của chân lí. Ta hiểu vì sao, trong nhiều trường hợp, phần đông nhà khoa học thường giữ thái độ im lặng, né tránh những vấn đề gai góc, nhạy cảm. Lần này sang Trung Quốc, tôi không thấy các nhà nghiên cứu né tránh như thế. Họ thể hiện quan điểm, bộc lộ thái độ một cách thẳng thắn, công khai về nhiều vấn đề học thuật từng một thời bị cấm kị, ví như vấn đề về thành tựu lí luận văn nghệ thời Mao Trạch Đông, vấn đề quan hệ giữa văn nghệ với chính trị hay vấn đề tính người, tính nhân loại, mối quan hệ giữa nhân loại và dân tộc…

Trước thời cải cách mở cửa, Trung Hoa là một thế giới khép kín. Người ta thường nói tới cái “máu Đại Hán” của người Trung Hoa. Cho nên quả là tôi đã rất ngạc nhiên khi nghe Xương Quảng Nguyên ở Hiệp hội Nhà văn Thiểm Tây bàn về nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng hệ thống lí luận văn học hiện đại. Ông cho rằng đổi mới lí luận văn học thực chất là chuyện thay đổi hệ thống quan niệm giá trị. Nhân loại có một hệ thống giá trị chung. Việc thừa nhận hệ thống ấy đến đâu nói lên vị trí của một dân tộc trong hệ thống thế giới. Hôm ở Bắc Kinh, tôi còn ngạc nhiên hơn khi nghe GS Tiền Trung Văn giải thích, rằng Trung Quốc phải xây dựng lại nền lí luận văn học hiện đại vì nền lí luận được xây dựng từ năm 1977 về trước đã “hoàn toàn sụp đổ”. Ngồi cạnh tôi là một cán bộ của Viện nghiên cứu lí luận văn học Trung Quốc, trước từng du học ở Nga. Tôi hỏi, GS Tiền nói như thế mà không sợ bị khép vào tội phủ nhận quá khứ sao? Vị ấy bảo tôi, bây giờ cả nước nói như thế thì ông Tiền có tội gì? Phải đến khi ngồi toạ đàm ở Thiểm Tây tôi mới hiểu thấu ý nghĩa câu nói của nhà nghiên cứu này. Thì ra người Trung Hoa có một truyền thống văn hoá lâu đời, họ tôn trọng lịch sử, thực sự xem các thành tựu văn hoá là “quốc bảo”, nhưng cũng sòng phẳng với lịch sử. Đúng là giới văn nghệ Trung Hoa đã dứt khoát chia tay với di sản lí luận nghệ thuật của Mao Trạch Đông mà hồn cốt là những tư tưởng được phát biểu tại Toạ đàm văn nghệ Diên An. Ở Việt Nam chắc không phải ai cũng biết điều ấy. Cho nên, trong 2 năm 1986, 1987, ở ta cũng diễn ra những cuộc tranh luận vô cùng sôi nổi về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Nhưng đọc lại mấy chục bài tham gia tranh luận hồi ấy, tôi thấy bài nào cũng loảng xoảng đầy những chữ nghĩa, diễn đạt rất vòng vo, loanh quanh mà chẳng nói được mấy chuyện căn cốt. Lắng nghe tiếng nói từ những diễn đàn văn học lớn nhất của Trung Hoa, tôi thấy họ trình bày vấn đề rõ ràng, dứt khoát, ai cũng bảo điểm đặc biệt quan trọng của đổi mới lí luận văn nghệ là huỷ bỏ mệnh đề văn học tùng thuộc chính trị, phục vụ chính trị. Ở Đại học Tứ Xuyên, tôi còn nghe Giáo sư Phùng Hiến Quang nói, trước thời cải cách mở cửa, văn nghệ được xác định có 3 đối tượng phục vụ: phục vụ vô sản, phục vụ xã hội chủ nghĩa và phục vụ nhân dân, nay không nói “phục vụ vô sản”. Diễn đạt theo ngôn ngữ chuyên môn, có thể nói, đổi mới lí luận văn học ở Trung Quốc thực chất là quá trình “giải cấu trúc” để “tái cấu trúc”: giải cấu trúc các quan niệm cũ kĩ, lỗi thời để kiến tạo những quan niệm mới phù hợp với chân lí đời sống. Đây không chỉ là quan điểm học thuật của giới nghiên cứu và giới sáng tác, mà còn là tư tưởng chỉ đạo nằm trong đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhà văn Trần Kiến Công, các Giáo sư Trương Quýnh, Tiền Trung Văn, Xương Quảng Nguyên, Phùng Hiến Quang, Lư Vĩnh Lân đều nhắc tới 7 điểm rất mới trong diễn văn chào mừng Đại hội đại biểu văn nghệ Trung Quốc của Đặng Tiểu Bình. Chính Đặng Tiểu Bình cho rằng, nếu cứ giữ khư khư mệnh đề văn nghệ tùng thuộc chính trị, phục vụ chính trị, thì nó sẽ là cái cớ để người ta can thiệp thô bạo vào văn nghệ.  Đặng Tiểu Bình phát động phong trào trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng từ lâu chỉ còn là lời nói suông. Ông chủ trương “chủ nghĩa ba không”: không chụp mũ, không túm đuôi sam (nghĩa là bới móc khuyết điểm nào đó của người ta để vùi dập), không đánh đòn hội chợ đối với nhà văn và người làm lí luận phê bình. Ông chỉ ra, Đảng Cộng sản Trung Quốc xem vấn đề trung tâm của xã hội và thời đại giờ đây không phải là đấu tranh ý thức hệ, mà là xây dựng kinh tế, do đó văn học được tự do phát triển, chứ không nhất thiết chỉ là phong vũ biểu của đấu tranh giai cấp… Đây là những tiền đề chính trị mở ra khoảng trời tự do và khả năng sáng tạo to lớn cho công cuộc đổi mới lí luận văn học ở Trung Quốc.

2. Tiềm lực khoa học của một nước lớn

Tục ngữ ta có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Lần này tôi được tiếp xúc với đời sống văn nghệ Trung Quốc theo kiểu “mắt thấy, tai nghe”. Tôi thấy chỉ một tổ bộ môn như Bộ môn Lí luận văn học của Đại học Tứ Xuyên mà đã có tới 32 người, tất cả đều là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ. Buổi toạ đàm với chúng tôi ở Đại học Tứ Xuyên do GS Phùng Hiến Quang chủ trì. Ông thuộc thế hệ của những Tiền Trung Văn, Xương Quảng Nguyên, Đồng Khánh Bính, Lí Tinh… nay đã trên dưới bảy mươi. Tên tuổi của họ từ lâu đã vượt ra khỏi biên giới Trung Hoa. Ngồi cạnh Phùng Hiến Quang là những gương mặt thật trẻ. GS Phó Kì Lâm giới thiệu với chúng tôi về mĩ học mác-xit phương Tây bằng sự hiểu biết rất sâu sắc. Tôi đoán thầm, cái “anh giáo sư” này chỉ trạc 40 là hết cỡ. Nhìn lên tường văn phòng tổ Bộ môn, tôi bắt gặp chân dung Chu Quang Tiềm và hàng chục học giả lừng danh từng giảng dạy ở đây. Đi đến đâu tôi cũng thấy Trung Quốc có một đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu với một thế hệ trẻ vô cùng đông đảo. Họ được đào tạo bài bản ở những trường đại học danh tiếng của Trung Hoa và thế giới. Họ tinh thông ngoại ngữ, thường xuyên tham gia vào các diễn đàn quốc tế, có đủ trình độ đối thoại với các thế hệ tiền bối. Tôi được nghe ở Trung Quốc có mấy ông Tiến sĩ, vốn là học trò của Đồng Khánh Bính và Tiền Trung Văn, đang dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi nhằm phản bác quan niệm học thuật của mấy vị sư phụ ấy. Tôi không biết lương bổng họ được hưởng thụ thế nào, chỉ nghe GS Trần Đình Sử thuật lại, lúc ăn trưa, Đồng Khánh Bính khoe với bạn học là GS Phương Lựu, rằng chỉ cần 2 tháng thu nhập, ông ấy đã thừa tiền mua một xe hơi loại sang.

Chính đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu với một thế hệ trẻ đông đảo, vừa có trình độ học vấn cao, lại vừa có thể mưu sinh bằng nghề nghiệp của mình, đã mở rộng quy mô của công cuộc đổi mới lí luận văn nghệ ở Trung Quốc, làm cho nó trở thành một phong trào phát triển rầm rộ. Khi sức sáng tạo được giải phóng, họ có thể tạo ra những thành tựu vô cùng rạng rỡ. Hình như mọi lĩnh vực có liên quan đến khoa học xã hội nhân văn đều được tổ chức nghiên cứu thấu đáo. Các học giả Trung Quốc vừa tổ chức nghiên cứu di sản lí luận văn học truyền thống, vừa giới thiệu rộng rãi các môn phái lí luận, phê bình phương Tây. Tôi thực sự ngạc nhiên khi bắt gặp ở Bắc Kinh những bản dịch các giáo trình lí luận văn học vừa mới xuất bản ở Nga chỉ vài ba năm trước đây. Theo Xương Quảng Nguyên, hiện nay Trung Quốc đã dịch và giới thiệu gần 3 trăm bộ sách lí luận văn nghệ của các các học phái phương Tây. Lí Tinh thì nói rằng, chỉ sau mấy năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đi hết đoạn đường mà lí luận văn nghệ phương Tây trải qua suốt thế kỉ XX.

Sách là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển khoa học. Nhà nghiên cứu đích thực không thể sống thiếu sách. Muốn viết một cuốn sách, anh ta phải mua không biết cơ man nào là sách. Cho nên, khách hàng trung thành của xuất bản sách ở Trung Quốc trước hết là đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu vừa nói tới ở trên. Đây là lí do giải thích vì sao ở Thiểm Tây, bên cạnh Hiệp hội nhà văn còn có cả Hiệp hội lí luận phê bình, và Hiệp hội lí luận phê bình dám tổ chức xuất bản một tạp chí theo chuyên ngành rất hẹp: Bình luận tiểu thuyết. Đây cũng là lí do giải thích vì sao Bắc Kinh trở thành thị trường sách khổng lồ như thế. Lúc ở Bắc Kinh, chúng tôi có một ngày tham quan. GS Phương Lựu bảo chúng tôi, sang Trung Quốc lần này giống như đi Tây Trúc “thỉnh kinh”, nên ông và GS Trần Đình Sử tự nguyện hy sinh tham quan để lùng tìm sách vở. Chiều về khách sạn, tôi thấy các ông khuân về hơn hai trăm đầu sách, cuốn nào cũng ít nhiều liên quan tới đề tài khoa học mà chúng tôi đang theo đuổi.

“Trông người lại ngẫm đến ta”, âu đó cũng là một trạng thái tâm lí bình thường của con người. Lúc Xương Quảng Nguyên ở Hiệp hội nhà văn Thiểm Tây nói về số lượng phát hành khổng lồ của tạp chí “Bình luận tiểu thuyết”, tôi cứ bùi ngùi nghĩ tới những khó khăn của Viện Trưởng Viện văn học Việt Nam Phan Trọng Thưởng trong việc phát hành tạp chí “Nghiên cứu văn học”, một tạp chí chuyên ngành thuộc loại sang trọng nhất của chúng ta. Nhìn núi sách Phương Lựu và Trần Đình Sử vừa mua về, tôi lại nhớ tới các cửa hàng sách ở Việt Nam. Cửa hàng nào cũng ngồn ngộn những sách, nhiều nhất là thơ, truyện, giáo khoa cho học sinh phổ thông, giáo trình cho sinh viên và mấy loại từ điển, nhưng ta thật khó tìm thấy sách nghiên cứu khoa học chuyên sâu phù hợp với chuyên ngành của mình. Ở nước ta, trên phạm vi toàn quốc, hiện có bao nhiêu người đang làm công việc dịch thuật và thực sự nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ngữ văn, tôi dám chắc có thể tính đếm trên đầu ngón tay. Cho nên mới có tình trạng, sách hay đem bán không có người mua, người cần mua tìm không thấy sách. Chúng ta đang thiếu những điều kiện cơ bản nhất tạo nên sự phát triển tự nhiên của đời sống khoa học. Về phương diện này phải thừa nhận, công cuộc đổi mới lí luận văn nghệ ở Trung Quốc được tựa trên nền cốt vững chắc của một nước lớn vừa lắm nhân tài lại vừa nhiều tiền của.

3. Từ chuyện lớn nhớ lại chuyện nhỏ

Đúng là Trung Quốc đã đi trước Việt Nam một bước trong công cuộc đổi mới văn nghệ. Công cuộc đổi mới lí luận văn nghệ ở Trung Quốc diễn ra sôi nổi, quyết liệt, đưa nghiên cứu văn học vươn tới những đỉnh cao khiến người ta phải ngưỡng mộ. Nhưng hình như lí luận văn học Trung Quốc vẫn có những vấn đề riêng của nó. Đem bức tranh văn học Trung Quốc đối sánh với đời sống văn học Việt Nam từ khía cạnh loại hình, tôi thấy tình hình sáng tác và nghiên cứu văn học của hai nước cũng rưa rứa như nhau.

Hôm ở Bắc Kinh, ngồi toạ đàm tại Hội nhà văn Trung Quốc, thấy các vị Trần Kiến Công, Trương Quýnh chỉ nói về văn xuôi và lí luận phê bình, PGS Lê Lưu Oanh nêu câu hỏi về mảng thơ Trung Quốc. Các ông Trương Quýnh, Trần Kiến Công kể ra một loạt tên tuổi. Theo GS Trần Đình Sử, những tên tuổi ấy đều thuộc thế hệ thi sĩ nổi danh vào những năm 60, 70 của thế kỉ trước, nay đã già. PGS Lê Lưu Oanh yêu cầu giới thiệu vài ba nhà thơ trẻ có vị trí ổn định. Cả mấy vị đại diện cho Hội nhà văn Trung Quốc đều tỏ ra lúng túng, không kể ra được nhà thơ nào. GS Trần Đình Sử nêu nhận xét về “cái chết” của thơ Trung Quốc. Tôi hỏi, ở Việt Nam, văn xuôi đang chiếm vị thế ưu trội, văn học Việt Nam đang phát triển theo hướng văn xuôi hoá, liệu văn học Trung Quốc cũng giống như thế chăng? Trương Quýnh, Trần Kiến Công và nhiều nhà văn, nhà phê bình Trung Quốc có mặt ở đấy đều tỏ vẻ tán thành những nhận định như thế.

Tôi được biết, trong các cuộc hội thảo, trên báo chí và các phương tiện truyền thông ở Trung Quốc thường xuyên diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi, thậm chí rất gay gắt về những vấn đề then chốt nhất của lí luận văn nghệ. Thế mà khi trình bày những nguyên tắc xây dựng nền lí luận văn nghệ Trung Hoa hiện đại, tôi thấy từ các ông Tiền Trung Văn, Trương Quýnh ở Bắc Kinh, Lí Tinh, Xương Quảng Nguyên ở Tây An cho đến Phùng Hiến Quang, Thường Tứ Kì ở Tứ Xuyên đều nói rất giống nhau. Đi đến đâu tôi cũng thấy các học giả tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng, tiếp thu phương Tây, khai thác vốn cổ, mở rộng biên độ học thuật, đưa khoa học văn học xích lại gần văn hoá học để xây dựng nền lí luận văn nghệ hiện đại, năng động, mang màu sắc Trung Hoa. Nghe Phùng Hiến Quang nói về việc mở rộng biên bộ của lí luận văn học, rồi nghe Thường Tứ Kì nói rất say sưa về lí luận văn nghệ của trường phái mác-xit Tây Âu và ảnh hưởng của nó tới lí luận văn nghệ Trung Quốc, tôi nêu ba câu hỏi như thế này:

Thứ nhất: Mở rộng biên độ sang tận các lĩnh vực của văn hoá học, liệu lí luận văn học có đánh mất đối tượng nghiên cứu đặc thù?

Thứ hai: Chủ nghĩa Mác mà Trung Quốc dựa vào để xây dựng lí luận văn nghệ là chủ nghĩa Mác nào? Là trước tác của Marx và Engels, là chủ nghĩa Mác của Trung Quốc, của Liên Xô cũ, hay của Tây Âu đang trở thành thời thượng hiện nay?

Thứ ba: Chủ nghĩa Mác không phải là triết học, mà chủ yếu là một học thuyết kinh tế – chính trị. Từ học thuyết kinh tế – chính trị, liệu ta có đến được với văn học không? Dựa vào kinh tế – chính trị học, làm thế nào để xây dựng được nền lí luận văn học với tư cách là lí luận về nghệ thuật ngôn từ?

Các học giả Trung Quốc cho rằng đó là những câu hỏi rất hay, đáng phải suy ngẫm. Rồi họ không ngần ngại khẳng định, dẫu mở rộng phạm vi, biên độ thế nào, lí luận văn học cũng không thể đánh mất đối tượng nghiên cứu đặc thù. Họ nói chủ nghĩa Mác được họ dựa vào để xây dựng lí luận văn nghệ hiện đại là những khía cạnh phù hợp và có lợi cho thực tiễn đời sống của Trung Hoa.

Thật tình, tôi chưa thể yên lòng với những câu trả lời như thế. Rất nhiều câu hỏi vẫn ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí tôi. Hướng tới phương Tây, mở rộng biên độ sang địa hạt văn hoá, lí luận văn học Trung Quốc liệu có giữ được đối tượng nghiên cứu đặc thù? Quay về với những nền cốt truyền thống, liệu lí luận văn học Trung Hoa có thể vượt thoát ra ngoài những chân lí định sẵn? Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác, tiếp thu phương Tây, khai thác di sản truyền thống, liệu người Trung Hoa muốn xây dựng một nền lí luận mang tính đối thoại hay một nền khoa học văn học duy nhất đúng?… Những câu hỏi ám ảnh tâm trí tôi sau chuyến đi Trung Quốc cũng là những câu hỏi tôi thường đặt ra khi suy ngẫm về nền lí luận văn nghệ Việt Nam.

Viết những dòng này, tôi bỗng nhớ tới một bộ phim Trung Quốc có tên là Khát vọng từng được trình chiếu trên tivi nước ta vào cuối những năm 80 của thế kỉ trước. Phim nói về thời cải cách mở cửa, đời sống trở nên khá giả, nhưng đằng sau sự khá giả ấy là số phận đầy bất hạnh của một lớp người thành thị từng trải qua cuộc Cách mạng văn hoá đầy sóng gió. 30 năm trôi qua, tôi đã quên tên vị đạo diễn của bộ phim, nhưng có một chi tiết miêu tả sinh hoạt đời thường thì cho đến nay vẫn nhớ như in. Tôi gọi đó là chi tiết “bếp núc củi lửa”. Còn nhớ khi xem phim tôi thường nhìn vào bếp nhà mình và rút ra nhận xét: lúc thành phố Trung Quốc bỏ than tổ ong để dùng bếp ga, bếp điện thì dân thành thị của ta mới bỏ bếp dầu, bếp củi để thổi nấu bằng than tổ ong. Hòn than tổ ong là chuyện nhỏ, thế mà mình cũng đi sau và bắt chước Trung Hoa. Đổi mới lí luận văn học là chuyện lớn, liệu nước mình đi trước hay đi sau? Từ chuyện lớn mà nghĩ tới chuyện nhỏ, âu cũng là sự thường tình.

Mươi năm trở lại đây, Việt Nam đã khác xưa. Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế, tôi thấy sự hiểu biết của kẻ trí giả ở Việt Nam nào có kém cạnh gì đâu! Tôi tin, tuy chậm chân, nhưng nền lí luận văn học Việt Nam rồi sẽ tìm cách bứt phá vượt lên phía trước, chứ chẳng lẽ cứ chịu lép một bề, viết lại mãi câu chuyện về “hòn than tổ ong” hay sao?

Đồng Bát, Đinh Hợi (2007) Tháng 8 

Nguồn: Văn hoá Nghệ An, Số 113, ngày 25.11.2007